| Gia pha họ Lương ở Phụng Tường đăng trong sách LVC-Thân Thế và Sự Nghiệp của TS Nguyễn Văn Thưởng do chính quyền tĩnh phát hành năm 2011 |
| Bản Hán Nôm này không được dịch âm và dịch nghĩa |
![]() |
| Vi ảnh bảng dịch nghĩa(không kèm bảng chữ Hán Nôm và dịch âm để đối chiếu) của Đào Chuyên |
GIA PHẢ HỌ
LƯƠNG Ở PHỤNG TƯỜNG
Những Tồn
Nghi
1-Gia phả họ Lương được lưu giữ ở miếu Lương Văn Chánh(LVC) tại Phụng Tường Hòa Trị Tuy Hòa Phú Yên được nói
là gia phả của ông LVC. Nghi vấn không phải như vậy. Có thể nói đó chỉ là gia
phả của họ Lương
công của Vinh Lộc hầu Lương Công Vĩnh(LCV). LCV tryền 8 đời thì đến
năm thiệu Trị thứ 2(1842). Tính trung bình người đời xưa trưởng thành ở tuổi
20(sinh con đầu lòng). Và như thế thì Lương Công Vĩnh sinh vào năm 1682. Và Lương Văn Chánh sinh LCV ở cái ở cái tuổi 124. Vô lý
thật.
Năm 1578 LVC đánh vào Thành
Hổ ở khoảng tuổi 20, tức sinh khoảng năm 1558, lúc Nguyễn Hoàng mới vào Thuận
Hóa. Đến năm 1596 ông được tưởng thưởng chức tước, cho làm quan ở huyện Tuy Viễn
để rồi năm 1597 ông được sai đi bình định xứ Nam Cù Mông ở cái tuổi 39 thì họp
lý. Và như thế thời gian cứ trôi đến năm 1682 ông được 124(1558-1682) tuổi sinh con đầu lòng
là Lương Công Vĩnh thuộc đòi thứ nhất thì vô lý!
Cái vô lý thứ 2 là 9 đời
truyền trong vòng 266 năm(1578-1842): LVC ở tuổi trưởng thành sinh ra
Công Vĩnh->Công Hình->Công Lễ->Công Điện->Công Sĩ->Công Bốn->Công
Thọ->Công Thiệu ở tuổi trưởng thành năm 1842. Cụ thể trong gia phả họ Huỳnh
của tôi ông tổ Huỳnh Văn Nhượng truyền thừa tới Huỳnh Bá Kỳ được 6 đời, tới Huỳnh
Bá Lân, con gái ông Lân, cháu ngoại ông Lân được 20 tuổi chỉ “tốn”có 198
năm(1836-2034). 198 so với 266 chênh lệch là 68 năm. Cũng tính như vậy thì năm
sinh của Lương Công Vĩnh phải lùi về sau tới 68 năm nữa. Tức LCV sinh vào năm
1750. Và
như vậy LVC sinh Công Vĩnh ở tuổi 192 tuổi. Lại càng vô lý nữa.
Cái vô lý thứ 3: Dịch giả Đào Chuyên dịch gia phả họ Lương ở
Phụng Tường nói ông là cháu ngoại đời thứ 11. Tính từ sinh thời LVC đến Đào
Chuyên thì được 12 đời truyền thừa trong 240(12X20) năm. Năm 2011, lúc Đào Chuyên còn sống
hay mất không lâu lắm, Phú Yên kỷ niệm 400 năm ngày thành lập tĩnh, ngày LVC lập ra đất
này để cho Nguyễn Hoàng kế thừa! Thật mâu thuẫn. “Lịch sử” họ Lương công
được nói là ở Phụng Tường thì ngắn lại, gần với hiện tại trong khi “lịch sử”
LVC thì lùi xa vào trong quá khứ. Như vậy có vô lý hay không? Họ Lương công chắc
không phải là hậu duệ của LVC.
Cái vô lý thứ 4: Đời thứ 8 họ
Lương công nói là hậu duệ của LVC có con cháu thiên cư vào Khánh Hòa(KH) thì vô lý(Dinh Thái Khang sinh năm 1653. Từ LVC trưởng thành tính
tới đây được 4 đời(1578+80=1658). Vậy làm gì có đời Lương công thứ 8 truyền thừa
tới đây để thiên cư vào KH(Thái Khang)? Vậy đời thứ 8 phải có sau này. Hoặc vào
năm 1758(1578+180). Năm 1753 đất này gọi là Bình Khương(Gia Định Thành Thông Chí).
Và như vậy phải nói là thiên cư vào Bình Khương. Đời Nguyễn Vương Ánh vẫn còn gọi là Bình
Khang(Thực Lục). Năm 1803 đời vua Gia Long đổi Bình Khang thành Bình Hòa.
Năm 1831 Minh Mạng đổi Bình Hòa ra Khánh Hòa. Thiên cư vào Khánh Hòa phải tới lúc này.
Đời thứ 8 ở vào thời Minh Mạng hay Thiệu Trị). Họ Lương
công chắc phải sinh sau LVC lâu lắm(Đời thứ 8 họ Lương công ghi chú: Con của Công Duyên thiên cư vào Khánh
Hòa. Công Duyên là em của Công Trinh và là anh của Công Đức. Con của Công Đôn
là Công Đâu và Công Đậu thiên cư vào Khánh Hòa. Công Đôn là em của Công Hồ và
là anh của Công Hoạt).
2-Những tồn nghi khác.
2.1-Đoạn dẫn nhập gia phả họ Lương ở Phụng Tường: trong bản dịch của cụ Đào Chuyên mà thầy Nguyễn Đình
Chúc cho tôi xem bản chụp vi ảnh photo trên giấy vở học sinh thấy ghi “Thỉ tổ trong đời nhà Lê, làm Trấn Biên dinh
Tham Tướng Phù Nghĩa hầu, tặng Phò quận công, phong Phước Thần Lương tướng
công. Ông húy là Văn Chánh, làm quan đến chức Thiên Vũ Vệ Đô Chỉ Huy Sứ. Ông có
theo Trịnh thái úy trưởng quốc công Trịnh Tùng chinh phạt có công. Năm Quang
Hưng thứ 19(Lê Thế Tông-1596) đặc tiến
Phụ Quốc Thượng quân Tham Đốc thần võ tứ vệ quân vụ Phò Nghĩa hầu. Năm thứ
20(1597) quyền thọ An Biên trấn quân vụ chiêu mộ nhân dân các khách hộ
gia hộ đến các xứ Bà Đài(nay Xuân Đài), Bà Diễn(nay Đà Diễn), Bà Nông(nay Đà
Nông) từ trên nguồn đến cữa biển khai canh hoang điền. Sau khi mất linh ứng. Đời
Lê niên hiệu Chính Hòa (1689-1693) và Vĩnh Hựu(1740) phong Phước Thần. Triều
Nguyễn năm Minh Mạng thứ 3(1822) gia phong Trang Du công Võ Linh Ứng thượng Đẳng
Thần. Phần mộ của ông ở địa phận ấp Hy Nguyên xã Phụng Tường. Bà thỉ tổ được
phong tặng Tần Thục phu nhân Lê thị húy Loan, sanh 4 người con. Ngày kỵ của thỉ tổ
19 tháng 9 (Âm lịch). Ngày kỵ của bà 13 tháng 11”.
Đoạn này nội dung y chang
như nội dung 2 văn bản ấn ký năm 1596, 1597 của triều Lê Thế Tông và các sắc
phong sau này của triều vua Lê chúa Trịnh và vua Nguyễn. Chính vì có đề cập tới
sắc phong của vua Minh Mạng và dùng từ ngữ mới có sau này là “Trấn Biên dinh”
(chỉ dùng vào thời chúa Nguyễn) nên kết luận đoạn gia phả này được viết ở thời từ
vua Minh Mạng trở xuống chứ không phải vào sinh thời của LVC hay sau đó không lâu vào thời
vua Lê chúa Trịnh/Nguyễn. Những tài liệu nói trên được để thờ tại miếu LVC ở Phụng
Tường. Đoạn văn trên chẳng phải là lời dẫn nhập gia phả tư nhân của chính “gia đình
riêng” của LVC. Đoạn văn viết
“Thỉ tổ trong đời nhà Lê” nhưng
không nói rõ thỉ thổ là thỉ tổ của họ nào. Nội dung thì rõ ràng đề cập tới LVC. Cuối
đoạn văn có đề cập tới phần mộ, ngày kỵ, phối với ai như lệ thường thấy trong
các gia phả cổ nhưng tới mục sinh con chỉ viết khơi khơi sinh 4 người con mà
không liệt kê danh tính như lệ thường là trong đời liền trước các thành viên là
cha mẹ
sinh ra con là những ai. Những người con này là cháu, trở thành thành viên đời liền
sau phối với ai để sinh ra những chắc là
ai. Danh sách liệt kê thứ bậc lớn trước nhỏ sau. Văn trong gia phả hành văn đặc
biệt như thế nên nhìn vào gia phả thì biết được đường truyền thừa.
Đoạn văn dường như nói chung
chung về thỉ tổ họ Lương ở nơi lập miếu thờ LVC, chắc họ có nguồn gốc từ ông
LVC. Cuối cùng có lời phê của quan địa phương là án sát Nguyên Công(Văn Lý) vào
năm Thiệu Trị thứ 2(năm Thiệu Trị thứ nhất
triều đình cho soạn Thực Lục Tiền Biên) và
của tuần phủ Đỗ Thúc nên nghĩ rằng đây không phải đoạn gia phả tư nhân
mà là đoạn gia phả do chính quyền tĩnh nhà lập ra cho dòng họ danh gia vọng tộc
có công(con cháu nhiều người có chức tước) vào dịp triều đình Thiệu Trị tìm kiếm các cựu công thần
cho thực lục để vinh danh đền ơn đáp nghĩa công lao mở nước và dựng nước.
Nghi vấn về mộ phần. Mộ LVC ở ấp Hy Nguyên xã Phụng Tường
cũng chỉ là ý kiến của người đời sau, từ đời vua Minh Mạng trở về sau, chắc
gì đúng! Người thông thạo đoạn lịch sử Xứ Đàng Trong thì không thể tin LVC được
tán ở đây. LVC chết trận tại đây thì có thể. Đây là bãi chiến trường khốc liệt
của Chiêm-Việt tranh giành đất đai suốt 140 năm(1471-1611). Khi Nguyễn Hoàng trở
thành chúa Tiên đánh lấy đất thì đất này mới được yên liền đặt tên là phủ Phú
Yên với 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Các chúa Nguyễn tiếp theo chỉ dám đóng bản
doanh ở cữa Tiên Châu, không bao giờ dám đặt thủ phủ ở cữa Đà Rằng có cái rặng
núi Đại Lãnh hung dữ và có cái thành Hồ gần đất Chiêm Thành cả. Phụng Tường
cách thành Hồ không xa lắm không phải là nơi yên ổn để tán 1 viên tướng đã “lừng
danh” đánh Chiêm Thành(Huyện Tuy Hòa hoàn
toàn nằm bên bờ Nam sông Đà Rằng cho tới năm 1826(Địa Bạ PY). Phụng Tường thuộc
Tổng Thượng huyện Đồng Xuân. Sau năm 1826 huyện Tuy Hòa mới có thêm tổng Hòa
Bình ở bên bờ Bắc. Có thể huyện Tuy Viễn có lúc chạy tới bờ Bắc sông Đà Rằng và
biên giới Chiêm-Việt không phải là cái đèo Cù Mông mà là con sông này với rặng Đại
Lãnh bí hiểm. An
Biên trấn là đây. Không thể nói LVC là người huyện Tuy Hòa được vì thời
LVC chưa có tên địa danh Tuy Hòa. Người ta không phân biệt An Biên trấn với các
Trấn Biên sau này của chúa Nguyễn. LVC chỉ là Tiền Trấn Biên quan, ông quan trấn ở
biên giới đầu tiên trong công cuộc mở mang đất nước. Chúa và vua Nguyễn công nhận
vị công thần mở đất này nên lập miếu thờ trên toàn cõi Xứ Đàng Trong chứ không cứ gì ở Phú
Yên(LVC-Thân Thế và Sự Nghiệp của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Thưởng, chính quyền tĩnh PY
ấn hành năm 2011). Bùi Tá Hán cũng được lập miếu thờ khắp nơi như thế). Chuyện lưu truyền dân gian ở Phú Yên nói ông LVC chết
trận. Ông linh thiêng kinh khủng. Bị Chiêm Thành chặt đứt đầu mà LVC vẫn còn
xách cái đầu rỉ máu chạy về hậu tuyến. Mỗi giọt máu rơi nơi nào thì nơi đó được
lập 1 cái miếu để thờ. Nơi sau cùng là Miếu Thờ Đầu.
(Trước năm 1611 đất Nam Cù
Mông chẳng yên lành gì. Chánh sử ghi 3 cuộc chiến: 1578, 1597 và 1611. Thế kỷ
thứ 16 nước rơi vào nội loạn, Chiêm Thành không lợi dụng tình thế để đánh đòi lại
đất đã mất là may đời cho đại Việt lắm rồi. Giữ yên biên giới là bảnh lắm. Sức
lực đâu họ Trịnh đi xấm lấn Chiêm Thành. Năm 1570 Trịnh Kiểm mất. Trịnh Tùng
tranh ngôi Trịnh Cối. Trịnh Cối bỏ chạy sang hàng Mạc. Mạc ra quân phản công.
Vua Anh Tông phong Trịnh Tùng làm Trưởng quận công tiết chế các dinh đi đánh Mạc.
Lê Cập Đệ phải dùng mẹo tiểu xảo lừa được quân Mạc mới giữ được chiến tuyến. Năm 1571 quân Mạc lại đánh bọc hậu vào Nghệ An. Nguyễn
Bá Quýnh hãi hùng tháo chạy. Mỹ Lương làm loạn để theo Mạc. Nguyễn Hoàng dẹp được.
Năm 1572 Lê
Cập Đệ mưu đoạt quyền Trịnh Tùng. Mạc Kính Điển lại lấn Nghệ An và Thanh Hóa lần
nữa. Khói lửa mịt mù, dân chạy trốn bỏ hoang ruộng vườn(Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư). Lập Bạo lấn Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đẩy lui được. Tháng 11 Trịnh
Tùng khử trừ được Lê Cập Đệ. Vua Lê Anh Tông sợ chạy trốn. Trịnh Tùng lập hoàng
tử Đảm làm vua Lê Thế Tông(1573-1600). Vua mới phong Trịnh Tùng làm Thái Úy
Đô Tướng. Bình định được đất Tây Đô(Thanh Hóa) và trấn áp được nhà Mạc hùng cứ ở
Đông Đô(Thăng Long), Trịnh Tùng xoay qua củng cố biên thùy ở Phía Nam. Trận LVC
đánh vào thành Hồ năm 1578 có thể tin được.
Năm 1592 Trịnh Tùng lấy được Đông Đô và
mấy năm sau dồn tàn quân Mạc vào cái xó ở đất Cao Bằng. Trịnh Tùng bình định được
đất Bắc, tưởng thưởng tướng sĩ có công. Một lần nữa Trịnh Tùng xoay qua bình định
biên giới phía Nam vào năm 1597 sau khi tưởng thưởng chức tước và cho LVC làm
quan ở huyện Tuy Viễn năm 1596. Năm 1599 Trịnh Tùng lên ngôi vương: Bình An
Vương.
Năm 1600. Họ Trịnh nêu chính nghĩa phù
Lê diệt Mạc cho nên có nhiều tướng(có cả Nguyễn Hoàng) theo về. Té ra vua Lê chỉ
là bù nhìn. Chúa trịnh bây giờ thực chất là Bình An Vương. Bọn hàng thần bây giờ
“lơ láo” nghĩ “phận mình ra đâu.” Bọn hàng tướng nhà Mạc Phan Ngạn, Ngô Đình Nga,
Bùi Văn Khuê nói là làm loạn ở cữa Đại An. Và cũng nói là Nguyễn Hoàng lợi dụng
đi dẹp bọn phản loạn này kéo đại binh “dong
tê” về Thuận Hóa trở thành chúa Tiên lập sự nghiệp riêng ở phía Nam. Năm 1611
chúa Tiên cho 1 tướng làm chủ sự là Văn Phong, mà sử gia ngày nay cho là người
Champa đánh Chiêm Thành lấy đất lập 1 phủ mới là phủ Phú Yên với 2 huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa. Phải dùng mẹo
lấy người Chăm đánh người Chăm chứng tỏ dân tộc Chăm không dễ gì chinh phục.
Năm 1653 một lần nữa người Việt cũng dùng người Chăm đánh người Chăm lấy đất
phía Nam rặng Đại Lãnh lập ra dinh Thái Khang: Hùng Lộc hầu. Sao không ai để ý
đến 2 vị công thần này mà châm bẩm chỉ nghĩ tới LVC?). Nếu thời LVC(1597) di dân lập ấp ngon ơ thì năm 1611
sao phải đánh lấy đất? LVC không dễ gì chôn ngon lành tại khu đất cách thành Hồ
không xa!
Ngày mất. Chúng
ta cũng nên hoài nghi ngày mất. Thời Lê Mạc là thời nội chiến suy vi. Ở đất Bắc
Trịnh-Mạc vờn nhau mịt mùng khói lửa có mấy ai học hành tử tế để ra làm quan để
có khả năng viết lách. May thời Mạc Phúc Nguyên có tiến sĩ Dương Văn An viết được
Ô Châu Cận Lục. Lịch sử xứ Thuận Hóa mới hơi hơi sáng chút đỉnh. Đất Quảng vốn
là đất để lưu đày tội nhân hãy còn hỗn mang may trước có tướng Bùi Tá Hán trấn
áp được nội loạn sau Trịnh Kiểm cho Nguyễn Hoàng kiêm lo giao cho người thân là
Mai Đình Dũng(con của Nguyễn Ứng Dị là cậu
của Nguyễn Hoàng) tự quản. Xa chiến trường
đất Bắc đổ lửa, vùng biên giới phía Nam thời Mạc cũng như thời Trịnh Tùng cứ để
cho dân tự quản giữ sao cho được yên ổn để làm ăn và chịu thần phục, nộp thuế về
trung ương là được. Tình hình như thế thì làm gì có người ăn học thành tài và
có người viết với lách. Lịch sử xứ này trở nên mù mịt. Cho đến khi vua Nguyễn lập
lại được hòa bình thì mới lo việc viết lách, sử với sách! Sách Đại Nam Liệt
Truyện Tiền Biên(ĐNLT-TB) than “Văn Chính
là công thần hồi Quốc Sơ, khai thác đất đai, mở rộng biên giới, công lao thật
rõ rệt. Nhưng vì sự tích ra muộn, cho nên sách thực luc bỏ sót tên ông.” Sử
quan vua Nguyễn mà không có đủ sử liệu để thực lục viết về LVC nên phải bỏ sót
tên ông. Thế thì người đời sau làm sao viết rành rọt cuộc đời của LVC nếu không
dẫn chứng thêm sử liệu nào. Trong quá trình sưu tầm sử liệu về sau, Liệt Truyện
mới viết được truyện LCV. Có lẽ nhờ khám phá ra 2 văn bản 1596 và 1597 nói
trên. Trong buổi “sơ khai”viết lách đó, vì tài liệu chưa sưu tra đầy đủ nên Liệt
Truyện lẫn Đại Nam Nhất Thống Chí viết về LVC “nhập nhằng” rất khó hiểu. Tình
trạng như thế làm sao hậu thế biết đích xác ngày mất của LVC(mời vào link sau
đây đọc thêm http://ongtam2013.blogspot.com/2012/04/than-luong-van-chanhnhung-ton-nghi.html).
2.2-Đoạn gia phả 8 đời của họ Lương
công. Tiếp theo đoạn văn dẫn
nhập không
liệt kê 4 người con của LVC và Lê Thị Loan tên là gì như nói trên thì đùng 1
cái đoạn văn tiếp theo ghi 8 đời của 1 gia phả của các vị họ Lương công.
Đời thứ nhất
gồm 4 vị thành viên được ghi tiếp theo đoạn dẫn nhập nên nhiều người tin họ là
con của LVC và bà Lê Thị Loan. 4 vị đó là: Trưởng nữ thị An, trưởng nam Đề Đốc
Vinh Lộc hầu Công Vĩnh, thứ nam Phó Đề Đốc Quảng Xuyên hầu Công Triều, quý nam
Cai Phủ Thọ Khương hầu Lương công Qúi. Có đề cập tới Trưởng nữ, trưởng nam thứ
nam và quí nam nhưng không nói rõ họ là con của ai như ở các đời sau. Thật đáng nghi
họ không phải là con của LVC. Có điều lạ mà người ta không chịu để ý tới là: Đã
cho 4 vị trên đây là 4 con của LVC-Lê Thị Loan như đoạn dẫn nhập viết “sinh 4 người con” thì tại sao gia phả họ
Lương công nói ở Phụng Tường không ghi họ là đời thứ 2 phối với những ai mà “phan ngang
1 cái” viết họ thuộc đời thứ Nhất?
Đời thứ 2, 3…8 đều có chữ
công đứng liền trước tên của mỗi thành viên. Cuối danh sách liệt kê các thành
viên 8 đời họ Lương công, ghi tiếp đoạn văn: “Mùa Đông năm Nhâm Dần Thiệu Trị thứ 2(1842) được bản tĩnh Hộ vũ Án Sát Nguyên
Công(Văn Lý) hiệu chính tôn phổ họ Lương sáng rõ hơn, công đức triệu tạo của tiên thỉ
tổ càng lâu càng sáng không quên. Nhưng qua nhiều đời cũng có 1 số danh tự còn
di lạc, vô tùng tra cứu nên liệt ra để phụ tế, phối từ đường, huyết thực miên miên.
Hiệu chính tôn phổ họ Lương.”
Nhưng họ
Lương là họ Lương nào? “Của tiên thỉ tổ”
là ông thỉ tổ nào? Ông án sát không nói rõ. Nhờ đoạn văn có ghi niên đại
này mà ta mới biết gia phả 8 đời nói trên được soạn vào thời điểm nào. Gia phả
được soạn chỉ 1 năm sau triều Thiệu Trị cho soạn sách Thực Lục TB. Sách Thực Lục
bỏ sót tên LVC vì thiếu sử liệu. Sách Thực Lục do sử quan của triều đình biên
soạn mà không thực lục được nhân vật LVC. Liệu đoạn gia phả 8 đời do 1 ông án
sát ở 1 tĩnh hiệu chính cùng thời điểm đó có chắc là đoạn gia phả của hậu duệ của
LVC? Đoạn gia phả 8 đời này có vẻ chẳng ăn nhập gì với đoạn dẫn nhập ở trên. Vì
đoạn gia phả 8 đời họ Lương công viết liền ngay ở dưới đoạn dẫn nhập nên
nhiều người lầm các thành viên đời 1 là con của LVC và Lê thị Loan.
Tiếp theo là đoạn liệt kê
các vị phụ tế
thuộc 2 chi Giáp và chi Ất của đoạn gia phả họ Lương công nói trên. Đoạn này chắc
phải thuộc phần ghi của ông án sát.
Cuối cùng có hàng chữ “Tiểu sanh trì thủy Phương Đình Ngũ Lăng tử Đỗ
Thúc tuần phủ phụng lược.”Không biết ông tuần phủ phụng lược cả 2 đoạn văn
trên hay chỉ phụng lược phần của ông án sát?
Tiếp theo, bản vi ảnh ghi đoạn
chữ: “Ngày 16 tháng 3 năm Tự Đức 31(1878). Họ
Lương Giáp Ất 2 chi hội tu tục biên phổ hệ và tăng lục trong tám đời
trước còn thiếu sót tra cứu minh bạch để đăng tả vào.”
Tiếp theo, bản vi ảnh ghi đoạn
chữ: “Việt Nam Cọng Hòa năm thứ 6, tháng
3 mùa Xuân năm Canh Tí Đào Mãng Ưng quán Thanh Mô(Bắc Bộ) ngụ thôn Đồng Mỹ xã
Hòa Quang phụng sao cho ban Quản trị(Lương Đại) ” VNCH năm thứ 6 là năm 1960. Sao
cho ban quản trị họ Lương? Họ Lương ở Phụng Tường? Vậy bản sao là bản nào? Bản
chính là bản nào? Cụ Đào Chuyên dịch là dịch bản chính hay bản sao của Đào Mãng
Ưng? Thật mơ hồ, không có gì rõ cho lắm.
Tiếp theo, bảng vi ảnh ghi bản
lược kê các vị trong đời thứ 9. Đời 10 và 11 ghi rất sơ sài. Đoạn đầu đời 9 thì
còn tra cứu được sự liên hệ với đời 8:
Lương Lõi đứng đầu danh sách đời thứ 9 thuộc chi Giáp được ghi là con của Lương Thiệu(LT).
LT đứng đầu danh sách đời thứ 8.
Lương Lũy đứng đầu danh sách
chi Ất được ghi chú là con của Công Hiệp(CH). CH đứng đầu danh sách chi Ất đời thứ
8. Tiếp theo trong danh sách chi Ất đời 9 ghi là:
Lương Nguyên
và các tên khác được ghi chú là con của
Công Tụ(CT)
thì CT cũng thấy có trong đời 8.
Bảng vi ảnh đời 9 viết tiếp:
“Sau là con của Công Đoàn” thì Công Đoàn
cũng được tìm thấy trong danh sách đời 8.
Danh sách đời 9 viết tiếp “Sau là con của Lương Lũ. ” Nhưng danh sách đời 8 thì
có tên Công Lụ
là em của Công Đoàn. Dịch sai hay danh sách lạ được đưa vào?
Danh sách đời 9 viết tiếp: “Sau là con của Công Sanh” thì Công Sanh
cũng được tìm thấy trong danh sách đời 8 là em của Công Lụ.
Danh sách đời 9 viết tiếp “Sau
là con của Công Nghi” thì trong danh sách đời 8 từ Công Sanh trở đi không
tìm thấy Công
Nghi. Danh sách lạ được đưa vào chăng?
Danh sách đời 9 ghi tiếp “Sau là con của Công Phổ.” Công Phổ
được tìm thấy trong đời 8 và được chú thích nói là con của công Huyên được tìm
thấy trong đời 7.
Đời 9:“Sau là con của Công Khu.” Nhưng từ Công Phổ trong đời 8 không tìm
thấy tên Công
Khu. Danh sách lạ được đưa vào?
Đời 9: “Sau là con của Công Quỳnh.” Công Quỳnh được tìm thấy trong đời 8 và là con của
Công Du và được xếp sau con của Công Huyến, con của Công Mẫn.
Đời 9 “Sau là con
của Công Cư.” Công Cư được tìm thấy trong đời 8 và là con thứ 3
của Công Du và được xếp liền kề với Công Quỳnh.
Đời 9: “Sau là con
của Công Thống” Công Thống được tìm thấy trong đời 8, xếp sau các
con của Công Trinh, Công Duyên, Công Dực, Công Hùm.
Đời 9: “Sau là con của Công Thân.” Công Thân được tìm thấy trong đời 8, xếp liền kề
Công Thống và là con của Công Chớp.
Đời 9: “Sau là con
của Công Thụ.” Trong đời 8, từ Công Thân không tìm thấy tên Công Thụ. Danh sách lạ?
Đời 9: “Sau là con của Công Quang.” Công Quang được tìm thấy trong đời 8, xếp gần liền
kề với Công Thân.
Đời 9: “Sau là con của Công Đãi” Công Đãi được tìm thấy trong đời 8, xếp gần liền kề
với Công Quang.
Đời 9: “Sau là con của Công Xử.” Từ Công Đãi trở đi không tìm thấy tên
Công Xử trong đời 8 mà có tên Công Sử, xếp cách xa Công Đãi.
Đời 9: “Sau là con của Công Duyên.” Công Duyên được tìm thấy ở đời 8, xếp sau Công Đãi
và trước Công Sử. Nhử vậy con của Công Xử là danh sách lạ?
Đời 9: “Sau là con của Công…(đọc không rõ), con của Công Tâm, con của Công Tại, con của Công
Dương, con của Công Qui, con của Công Ninh, con của Công Minh, con của Công Đề,
con của Công Trừng, con của Công Ngũ, con của Công Phó, con của Công Đại, con của
Công Liễu, con của Công Sản, con của Công Điền” Hết đời 9. Bằng cách tra cứu
như trên ta có thể cho danh sách có thực hay danh sách lạ đáng nghi được đưa
vào.
Đời 10 không ghi chi Giáp.
Chi Ất ghi: “Sau là con của Công Lũy, con
của Lương Nguyên, con của Công Khanh, Công Cội, con của Lương Thắng, Công Mãn,
Công Chinh, Công Học, Công Kỷ”
Đời thứ 11 ghi con của Công
Đậu, của Công Sanh, chắc gì là hậu duệ đời
8 nói trên.
Tiếp theo là sơ đồ Van Ch…(không viết rõ ra tên) L…(không viết rõ ra tên)
sinh ra chi Giáp và Ất…
Tiếp là sơ đồ: “Lương Công Khuê đời thứ 7 phối Phạm Thị Dẽo-Đào thị Liêu
sinh ra đời thứ 8
là Công Đề, thị
Điếu, Công Trừng, thị Huyên, thị Tiến, Công Hương, Công Ngữ…” Tiếp theo là sơ đồ đời 8 thị Huyên
phối với Đào Tấn
Tín sinh ra đời thứ 9 là “Đào Nhượng, Đào
Qùi, Đào Thiện.” Tiếp
theo là sơ đồ “Đào Nhượng sinh ra đời thứ
10 là
Đào Khiêm…(không liệt kê ra tên cụ thể), Đào Lượng.” Sơ
đồ tiếp theo là “Đào Lượng sinh ra Đào Chuyên.”
Từ thành viên Đào Chuyên có mũi tên chua thêm hàng chữ “Cháu ngoại đời thứ 11 của họ Lương. Kính cẩn phụng dịch Bản gia phả
này. Mỹ Thành ngày 08 tháng 11 năm 1991(Mồng 3 tháng 10 năm Tân Mùi. Ký
tên: Nựu Đà Đào Chuyên).”
Tra cứu: Công Khuê đời thứ 7
là trai thứ 2 của Công Sum nguyên phối Phạm thị Dẻo, thứ phối Đào thị Liêu. Tra
lên trên thấy có tên Công Sum ở đời thứ 6 là thứ tử của Công Đôn. Tra xuống
thấy có tên thị
Huyến ở đời thứ 8 là thứ
nữ thứ 2 của Công Khuê phối với Đào Tấn Tín ở Tây Phú Mỹ Thành. Thật chính xác
nhưng rủi thay tính từ Lương Văn Chánh đến Đào Chuyên thì được 12 đời truyền thừa
trong khoảng 240(12X20)
năm trong khi sinh nhật tĩnh Phú Yên tính từ sinh thời LVC đến lúc Đào Chuyên
còn sống(năm 2011) lên tới 400 năm! Học giả và các tiến sĩ soạn sách LVC-Thân
Thế và Sự Nghiệp chính quyền tĩnh phát hành dịp PY 400 năm,
chẳng để ý đến chi tiết khả nghi này. Nên xét lại gia phả 8 đời
Lương công mà dịch giả Đào Chuyên nói là họ của LVC.
Phần ghi thêm:(Họ Lương công nghi vấn là 1 họ danh gia thế phiệt,
giàu có, nhiều người có chức có tước. Thành viên họ Đào ở Mỹ Thành là Phan Tiên
Hương(PTH). PTH gọi Đào Chuyên là cậu ruột, kể là họ Đào ở Mỹ Thành có cải tán
1 thành viên nữ tán ở Minh Đức, nơi có họ Lương công. Thân xác người quá cố được
tẩm liệm trong thân khúc gỗ quí đóng kín và được bảo quản bằng chất dầu. Khi cải
tán nghe bên trong khúc gỗ như toàn là chất lỏng).
(Trở lại nói về đời 8. Chi Ất ghi: Công Hiệp, Công Tụ…thị Trử với ghi
chú nói là con của Công Đức; Công Phổ…thị Kế với ghi chú nói là con của Công
Huyến. Danh sách đời 8 liệt kê liên tiếp 42 tên nữa với chú thích nói là con của các vị kế
tiếp là Công Mẫn, Công Du, Công Trinh, Công Dực, Công Hùm rồi danh sách đời 8 viết
tiếp: “Sau là con của Công Chớp.”
Công Chớp là ai? Trở lại đời 7 chi Ất thấy ghi thị Hiên, thị Tiêm, Công Đức, Công
Huyên, Công Nguyên, Công Huyến. Tiếp theo là 29 thành viên thuộc đời
7 mới thấy tên Công
Chớp được ghi chú là trưởng tử của Công Tường. Tiếp theo danh sách đời
7 ghi “Công Chớp, Công Chép, Công Chích,
Công Thời, Công Thôi, thị Nữ(ghi chú nói là con của Công Tường), Công Vãng,
Công Quân(ghi chú nói là con của Công
Hội),
Công
Chiều, Công Hồ, Công Đôn, Công Hoạt, Công Tổng, Công Tạ, Công Xiết(ghi chú nói là con của Công Bôi), thị Đề, thị
Song, thị Kề, thị Kỳ, thị Thạnh, Công Ít, Công Vững(ghi chú nói là con của Công Liêm), Công Nghĩa, Công Đăng(con của Công Tự), Công Tịch, Công Đặng(con của Công Hựu), thị Thái, Công Nhạn, thị Nục, thị Niết,
Công Thị(con của Công Thiền), thị Cu(con
của Công Đạt), Công Ngung, thị Nhựt, Công
Khuê, Công Nguy, Công Từ, thị Thuận, thị Uân(con của Công Sum).” Hết đời 7.
Trở lại danh sách đời 8 tiếp
sau con của Công Chớp thì cũng còn thấy đường truyền thừa rõ ràng như thế.)
3- Ý kiến riêng. Nếu không tìm ra được bản văn chữ Hán Nôm nào ghi rõ Lương Văn Chánh và
Lê Thị Loan sinh hạ ra Thị An, Vinh Lộc hầu Lương công Vinh, Quảng
Xuyên hầu Lương công Triều và Thọ Khương hầu Lương công Qúi như đời thứ nhất trong
gia phả 8 đời họ Lương công lưu giữ thờ trong miếu LVC ở Phụng Tường thì tôi
không tin gia phả Lương công này là gia phả của hậu duệ của LVC. Đây chỉ là gia
phả của 1 dòng họ danh gia Lương công nào đó mà quan tĩnh sở tại sưu tầm được, hiệu
chính, ghi lại, lập ra vào đầu đời
Thiệu Trị trong dịp triều đình cho thực lục các nhân vật lịch sử trong sách Thực
Lục Tiền Biên mà thôi. Không phải quan sở tại khám phá ra đoạn gia phả 8 đời còn lưu giữ ở trong nhà con cháu LVC. Nếu
được như thế thì tại sao sách Thực Lục lại bỏ sót tên LVC. Trong đoạn gia phả 8
đời không có bút
tích, hay ghi chú nào nói là gia phả 8 đời này thuộc người
trong họ của LVC.
Vào đời Tự Đức Liệt
Truyện TB ra đời viết được truyện về LVC có lẽ do khám phá ra được 2 bản văn mà
triều Lê Thế Tông ấn ký vào năm 1596-1597. Nhân vật LVC mới được biết đến.
Chính quyền địa phương đưa đoạn gia phả 8 đời họ Lương công này cùng 2 văn bản
1596-1597 viết về LVC và các sắc phong thần LVC vào thờ trong miếu của ông ở Phụng Tường.
Các sắc phong của các đời vua sau đó cũng được lần lược đưa vào thờ. Họ Lương ở
Phụng Tường chắc gì thuộc họ Lương công 8 đời nói trên. Họ chỉ là họ Lương được
chính quyền sở tại chỉ định thừa tự cúng kính thần LVC mà thôi. (Từ năm Minh Mang thứ 1(1820) có chiếu sai tìm sách vở
tài liệu còn sót lại. Năm 1821 mở Quốc Sử Quán. Năm 1833 sai biên soạn Khâm Định
thực lục các kỷ. Năm Thiệu Trị thứ 1(1841) cho soạn Thực Lục Tiền Biên và bảo nên soạn
Liệt Truyện luôn thể. Năm thứ 4(1844) cho khắc in Thực Lục Tiền Biên. Tự Đức thứ
5(1852) cho khắc in Liệt Truyện Tiền Biên(nghĩa là đến đời Tự Đức mới
viết về LVC). Điều thứ 10 trong thể lệ làm ĐNLT-TB nói sự tích dựa vào Thực Lục
và tham khảo gia phả, thâu lượm thêm. Đại Việt Sử Ký TT nói trấn thủ Quảng Nam
là Trấn
quận công không biết tên. Năm 1571 người dẹp loạn rồi ở lại trấn thủ Quảng Nam
là Dũng
quận công(cũng không biết tên). Đến khi bộ sử nhà Nguyễn ra đời thì mới biết
tên Trấn quận công ở Quảng Nam là Bùi Tá Hán và trấn thủ Quảng Nam Dũng quận
công năm 1571 là Mai Đình Dũng. Đến năm 1824 triều Minh Mạng, thì Lê Đăng Hiển
khi làm quan ở Quảng Ngãi mới sao lục lại tập sách Quảng Nam Phủ Tập Ký Sự(QNPTKS)
của Mai thị(người họ Mai). Nhờ tập ký sự này(xem QNPTKS) tên Bùi Tá Hán và tên
Mai Đình Dũng mới được biết tới. Liệt Truyện nói Nguyễn Ứng Tỵ(Dị) có con là
Đình Dũng. Đình Dũng có họ Mai vì lúc Nguyễn Ứng Dị cưu mang cháu là Nguyễn
Hoàng mà cha là Nguyễn Kim phù Lê chống Mạc. Liệt Truyện cũng nói Đình Dũng
theo cha vào Nam. Năm 1571 Đình Dũng đi đánh dẹp Quảng Nam rồi được lưu ở đó.
Ngày nay nhiều tác giả cho Mai thị là Mai Đình Dũng, tác giả tập QNPTKS. May ra
trong đó có nhiều truyện về LVC từng làm việc ở Hoài Nhân, Quảng Nam). Như vậy
Liệt Truyện(truyện LVC) ra đời sau năm 1842 tới 10 năm(1842-1852)! Năm 1842 là
năm triều đình cho soạn sách Thực Lục và ở tĩnh(bản tĩnh, không nói rõ tĩnh nào)
ông án sát Nguyên Công soạn gia phả 8 đời họ Lương công. Đoạn dẫn nhập(thời điểm viết về LVC) và đoạn gia phả 8 đời họ Lương công(thời
điểm cho soạn Thực Lục) mà ông án sát soạn
ra hình như chẳng ăn nhập như nói trên là đúng! Hai đoạn văn ra đời trong 2
hoàn cảnh khác nhau, cách nhau tới 10 năm.
Mùng 5
tháng 5 ÂL
Năm 2014.
HBC








0 nhận xét:
Đăng nhận xét