Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

XómSủng-NguyênQuán CủaTôi

Không biết “nguyên quán”
trong giấy tờ hộ khẩu có giá trị gì chứ đối với đời sống con người thì nó rất quí. Nói đến nguyên quán sao cảm thấy thân thương, nhất là đối với người xa quê hương đất tổ. Đời nội tôi một lần ông xa xứ. Nói đến PhướcHậu XómSủng thì ông chạnh lòng. Đến đời cha tôi luôn luôn ông nhắc đến bác hai bà nội, đến PhướcHậu. Đến đời tôi, tôi cũng là người tha hương cầu thực. Nôi niềm yêu quê cha đất tổ chắc không không có trong  tôi. 
Nguyên quán của tộc họ Huỳnh Nh3 của tôi là ấp TônĐức, xã PhướcHậu, tổng HòaBình, phủ TuyHòa. Gia phả ghi như vậy. Một cái ấp ở phía Nam chân núi ChópChài trong một vùng gọi là động cát. Ông tổ lập nghiệp ở đây là HuỳnhVănNhượng. Nh3 nghĩa là như vậy.  Ông tổ nguyên ở thành cũ TuyAn di cư đến làng PhướcHậu lập nghiệp sinh ra dòng tộc họ Huỳnh Nh3.
Nguyên quán này có gì đặc trưng để con cháu mến yêu? Đời là dâu bể. Biết bao đổi thay. Lâu đời dễ gì con cháu hình dung được cảnh cũ người xưa sinh sống. Hình ảnh cũ in nét trong tích xưa chyện cũ do ông bà kể lại, cọng với những gì tôi chứng kiến. Tôi viết ra đây để con cháu đời sau hình dung được cảnh một thời ông cha của chúng ta sinh sống.
Chuyện kể về XómSủng mà coi: cát động, bọ chét, nắng cháy, ước gì sang Thu ăn bắp tươi và thưởng thức cái ngọt nào mát lạnh của củ sắn nước, sang Đông bắt mạ cấy đồng và sang Xuân gánh dưa gang ra chợ bán.
Đúng là cái XómSủng. Khách du qua đây không biết nơi đây có con người sinh sống. Đâu đâu cũng đều là đồi cát. Chỗ có thể ở được là đáy của một cái hủng sâu, chung quanh là đồi cát. Thế nên cái giếng phải sâu thật là sâu mới tới mạch nước ngầm. Hồi đó bộng giếng phải làm bằng đất nung. Vét giếng sâu tốn kém. Cả xóm hùn nhau mới vét được một cái giếng.
Nỗi khổ không phải chỉ vì đồi cát mà phải vét giếng sâu mà khổ còn vì cát động dung dưỡng một thứ côn trùng dễ ghét là con bọ chét. Cát động là môi trường để bọ chét sinh sôi nẩy nở. Người xứ khác đến đây ngủ qua đêm  không yên giấc chỉ vì phải con bọ chét nó rục rịch ở trong quần. Bà nội tôi nói “tao về làm dâu nỗi khổ đầu tiên là con bọ chét, nỗi khổ thứ hai là phải gánh nước ở giếng sâu và làm ruộng xa tít ở đồng BầuThủy
Cái khổ phải làm ruộng xa ở đồng BầuThủy(ĐBT). ĐBT ở phía tây động cát, mất hút tầm nhìn, làm được lúa nước vụ ĐôngXuân. Tiết tháng 9, tháng 10 nước mênh mông lai láng. Người ta phải xuống tận ngoài rìa phố thị TuyHòa, chỗ xóm chùa Cát, làm đất bắt mạ để rồi mùa lụt chấm dứt thì quảy mạ cả cây số lên đồng cấy lúa chờ sang Xuân gặt hái bội thu.
Ngoài trồng lúa XómSủng ngày  xưa còn có nghề trồng sắn nước và bắp. Trời sang Thu cái nắng của mùa Hè không còn nữa người ta bắt đầu trồng sắn nước(củ đậu) và bắp trên nền cát động.  Nguồn thu nhập này cũng kha khá đấy. Có thể nói cả phủ TuyHòa chỉ có nơi đây trồng sắn nước. Sắn nước trồng bằng hột. Một loài họ đậu dây leo. Người dân khống chế tăng trưởng của nó bằng cách cắt ngọn thường xuyên để phát triển củ. Vì thế nó không ra hoa để sinh hột. Ở đây người ta không sản xuất hột săn nước. Đến mùa trồng sắn dân bản xứ mua hột sắn ở TuyAn. Có lẽ nghề trồng sắn nước phát xuất từ TuyAn. Sắn trồng theo luống dài phủ đầy rơm chống bốc hơi nước trên cát. Cùng gieo hạt sắn người ta tỉa thêm hạt bắp. Cỡ tết TrungThu bắp lên cao trải lá soi mình dưới ánh trăng trên nền xanh tốt tươi cây sắn nước, xa xa là đồi cát, cảnh tượng đẹp như cảnh trăng sáng trên vườn chè ở miền trung du. Cái oi bức khô khan của cát động của mùa Hè sẽ tiêu tán hết khi tiết trời sang Thu. Hình ảnh nắm bắp rang với tách trà nóng qua câu chuyện gẫu thâu đêm không quên được ở trong lòng người dân thời đó.
Bắp tàn thì thu hoạch sắn nước. Hình ảnh không quên được là hình ảnh bóc vỏ củ sắn nước tươi mới vừa nhổ lên. Thịt bên trong của nó lộ ra một mảng nõn nà nung núc trong đó mọng một chất nước ngọt lịm mát mẻ. Cắn một cái bụp rồi nhai nghe dòn tan để cảm cái dòng nước mát và ngọt chảy tuột vào lòng. Đó là cái thú thưởng thức củ săn tươi tại nhà vườn ở XómSủng mà đi xa không bao giời quên được.
Ngày hết Tết đến rồi Xuân sang. Khi gió nồm thổi săn, dân làng chài ở làng NinhTịnh bên kia động cát dong buồm ra khơi đánh bắt cá, thì dân làng XómSủng bên nay đồi cát tuôn ra đồng hái dưa gang đem ra chợ bán. Trên cánh đồng lúa sau thu hoạch vụ ĐôngXuân người ta trồng dưa gang trên đất sét da tây. Đứng trên đồi cát men mé đồng nhìn ra xa người ta thấy đây đó rải rác những chòi giữ dưa và đây đó những người hái dưa tay xách nách mang, vai gồng vai gánh. Dưa cũng là nguồn lợi đáng kể nơi đây. Hình thức tiêu thụ nhiều nhất là dưa tươi xẻ 2 ra rồi muối chua. Dưa chua thái mỏng trộn với rau thơm, rau salách, ăn với cơm chan với nước cá tươi tiết tháng 3 được mùa biển là hình ảnh hàng năm cứ tái diễn người dân xứ TuyHòa này không quên được.   Dưa gang chín không đắc dụng. Trên đồng dưa cái ghét nhất của người trồng dưa là đất sét da tây. Khi mưa ướt thì trơn trược. Khi nắng ráo thì khô nứt nẻ để lộ cạnh sắt bén nhọn hoắc cắt đứt da thịt chân tay như dao.
Vào mùa nước rút, sau Tết ÂmLịch, người XómSủng còn có nghề “chụp nôm.”Nôm là dụng cụ bắt cá. Cọng tre vót thuôn nhỏ ở một đầu. Đầu kia tho hơn và được chuốt nhọn ở đầu. Tất cả đem bệnh lại thành cái nôm có 2 miệng. Miệng trên nhỏ chỉ vừa cánh tay thọt vào trong nôm. Miệng kia to, chành bành ra và to bằng vành cái mâm để chụp lên bùn nhốt con cá lại. Cá vẫy vùng đụng vào thành nôm, truyền chấn động lên tay người chụp nôm. Thế thì người chụp dừng lại thọt tay vào nôm bắt cá. Giữa làng NinhTịnh và XómSủng, làng PhướcHậu, là đồng VườnTrầu. Xưa kia là cái lạch biển sâu hoắm bị bỏ sót lại. Nước đọng quanh năm nên cá nhiều vô kể và nước tù hãm làm ngứa ngáy chân tay. Người chụp nôm dùng một thứ hạt gọi là hột cồn. Nhai hột cồn rồi thoa lên chân tay thì tha hồ lội nước mà không thấy ngứa. Đi nôm bắt cá là thú vui của người 2 làng XómSủng và NinhTịnh vào tiết sang Xuân.
Vật đổi sao dời. Thịnh suy biến hóa.
XómSủng có cái hay bên cạnh cái dở như muôn ngàn thôn xóm khác. Dù gì nơi đây cũng là quê hương xuất phát họ Huỳnh Nh3 của tôi. Từ đây ông nội tôi ra đi lập nghiệp ở một thôn xóm khác mà ngày xưa phân biệt cư trú gọi là đất ngụ cư, phía ngoại của cha tôi, làng ĐạiBình, HòaQuang. Của như buổi chợ họp rồi lại tan. Nơi này phồn vinh rồi nơi khác. Thời ông nội tôi XómSủng chỉ là một xóm nhỏ heo hút trong cái mênh mông đồi cát nhưng lại giàu có nhờ những nguồn lợi kể trên đây hơn ĐạiBình, quê hương thứ hai của ông nội tôi. ĐạiBình ở trên cánh đồng rộng bát ngát nhưng chưa có thủy nông ĐồngCam nên đất cằn cỗi khô khan. Khi nước đập ĐồngCam đổ về thì ĐạiBình trở nên trù phú. Trước đó Kỷ thuật trồng lúa ở xứ đồng trên, đồng gieo này hãy còn kém cỏi là cứ vãi lúa thí ra đồng chờ mưa xuống, phú thác cho trời! Bà nội tôi kể cứ gặt được một bồ(một thứ nan tre đan lại thành tấm dài, cuốn tròn thành hình trụ rỗng để đựng lúa) thì phải để dành tới nửa bồ lúa giống. Còn đâu để ăn tiêu? Cỏ và lúa tranh nhau mọc lên nên kết qủa thu hoạch chẳng bao nhiêu. Trái lại ở xứ đồng cấy chỉ vài tô lúa giống đem gieo mạ thì cấy cả khoảnh ruộng to. Ruộng cấy thì dễ nhổ cỏ để lúa phát triển. Vì thế năng suất bội phần. Ông nội tôi lấy căn bản ở XómSủng về đây dựng cơ nghiệp. Đất đai ở đây kém năng suất nên hãy còn rẻ. Khi tôi lớn lên còn nhiều đám ruộng còn mang tên người ở XómSủng. Họ đem cái gàu có miệt đồng cấy về đây mua ruộng. Có một dãy ruộng dài gần cây số mang tên ruộng ông BanLiềm ở phố thị TuyHòa. Kỳ thị chánh cư-ngụ cư, giàu-nghèo xảy ra. Dù sao con cháu của ông nội tôi không vì thế mà quên quê hương thứ hai này.
Vật đổi sao dời thịnh suy dời chỗ. ThủyNông ĐồngCam đem cái thịnh về cho xứ đồng trên. Xứ đồng BầuThủy giậm chân tại chỗ như những năm tháng trước kia. Cũng sang Thu thì trồng sắn bắp, cuối Đông gánh mạ ra đồng, sang Xuân thu hạch lúa rồi trồng dưa gang đem ra chợ bán.  Kinh mương số 2(KMS2) của ThủyNông ĐồngCam Bắc từ PhongNiên chảy xuống tới chỗ BầuQuay(BQ) ở cuối thôn PhướcKhánh thì dừng. BQ là một đoạn của sông Chùa(SC).  KMS2 không vượt qua được SC. Mất một thời gian lù âm mới luồn qua được đáy sông Chùa đem nước ĐậpĐồngCam tưới đồng BầuThủy thì XómSủng mới theo kịp cái thịnh của vùng miệt trên.
Quê hương là thế đó, là cội nguồn, là nơi sinh ra  tình cảm để nhớ để yêu. Trích trong phần phụ lục của gia phả họ Huỳnh Nh3. Cháu đời thứ sáu 163.428 HuỳnhBáCủng(con thứ 8, cha thứ 2, ông nội thứ 4, ông cố thứ 6 và ông tổ mang mã số 1). Viết tại một góc cổ thành GiaĐinh(trụ sở của CôngTy KiếnÁ) mùa chuẩn bị lễ hội SàiGòn 300 năm.
Vào link sau đây xem các bài viết về PhúYên khác:
https://ongtam2013.blogspot.com/2019/11/trang-tuyentap-vietve-phuyen.html 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét