Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

TẦU LỤC ĐỊA KIỆN VN Công Hàm Phạm Văn Đồng

Phóng lớn đoạn trích
Hôm Chủ nhật ngày 8/6/2014, trang chủ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra một loạt bằng chứng mà họ cho rằng cho thấy ‘Chính phủ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa’(BBC-12-6-2014 phóng vấn TS Nguyễn Nhã). Ngày 9-6 Tầu Lục Địa(LĐ) cho phổ biến kháng thư lên Liên Hiệp Quốc nói VN cản trở họ hạ đặt giàn khoan 981 trong phạm vi chủ quyền của họ. Nổi lên dư luận trên mạng truyền thông.
1-Tiến sĩ Trần Công Trục bác bỏ lập luận của China LĐ và viết: “chỉ là bức thư của cố Thủ tướng PVĐ gửi cho cố Thủ tướng CÂL năm 1958 có liên quan đến Tuyên bố quy định về chiều rộng lãnh hải 12 hải lý của CHNDTH, hoàn toàn không phải là “Công Hàm” như phía Trung Quốc đã nhấn mạnh.” “Các tài liệu khác như sách giáo khoa địa lý lớp 9, Tập bản đồ thế giới…thực chất đây là những tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, học tập”“còn có một số nội dung khác đã được trích dẫn chủ yếu là những cuộc trao đổi, phát biểu cá nhân của một số cán bộ ngoại giao trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.”
2-Trở lại công hàm Phạm Văn Đồng có đoạn: “Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của nước CHNDTH, quyết định về hải phận TQ. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.” TS Trần Công Trục nói “không hề có một câu chữ nào đề cập đến “Tây sa”, “Nam Sa” trong thư của PVĐ cả.
Trở lại Tuyên Bố 4-9-1958 của China LĐ, điều 1 viết: “Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…”
Hoàn cảnh ra đời tuyên bố là giai đoạn căng thẳng giữa Đài Loan và Lục Địa ở eo bể Đài Loan. Hội nghị quốc tế năm 1958 được mở ra. Có tác giả gọi là tuyên bố đơn phương vì lúc đó ít nước ủng hộ Lục Địa hơn Đài Loan và Đài Loan không tham gia Tuyên Bố. Trúng trật đi về đâu mời theo dõi tiếp các bài viết.
3-Bài viết của Nguyễn Văn Tuấn đăng trên adminbasam ngày 14-6-2014 phản bác ý kiến TS Trần Công Trục. Tác giả viết:“Tài liệu tham khảo là một chứng từ, và theo tôi thấy, chứng từ vẫn có giá trị nào đó ở pháp đình. Vấn đề là giá trị của nó cao thấp cỡ nào.” Tác giả cho China LĐ dùng tài liệu tham khảo là hợp lý chứ không hạ thấp giá trị như TS Trần Công Trục nói chỉ để giảng dạy, học tập mà thôi. Tác giả nói chỉ cách xử dụng của China LĐ không họp lý và phi khoa học.
Tác giả đề cập tới tính chính xác của khoa học. Nên thẩm định độ tin cậy thông tin trong sách giáo khoa lớp 9. Tác giả cho thông tin này từ China LĐ hoặc VN dịch sách của China LĐ. Và như vậy Tây Sa, Nam Sa chẳng có ý nghĩa gì là Hoàng Sa Trường Sa của người VN cả.
Tác giả đề cập tới tính khách quan của khoa học. Tài liệu khách quan thì đáng tin cậy hơn. Tác giả viết: “Trong học thuật, có tài liệu tham khảo yểm trợ cho một quan điểm, nhưng cũng có tài liệu tham khảo khác không yểm trợ quan điểm đó. Tại sao họ không trích dẫn sách giáo khoa địa lí ở miền Nam.” Người Miền Nam trực tiếp quản lý phần lãnh thổ đó và ở gần nó hơn. Nguồn thông tin này chính xác hơn. Sách giáo khoa Miền Nam có gọi HS, TS là Tây Sa, Nam Sa hay không? Nếu học giả China làm việc khách quan đúng tinh thần khoa học, sẽ tìm hiểu thêm tài liệu khác khách quan hơn thì không cách chi kết luận Tây Sa, Nam Sa ở trong sách giáo khoa lớp 9 ở Miền Bắc là HS, TS được.
Tác giả đề cập tới tính thường biến thông tin trong sách giáo khoa(TTTSGK). TTTSGK không phải là bất biến.  “Sự thay đổi có thể là do tranh chấp, chiến tranh, hay do kiến thức mới.” Ví dụ lấy sách in trước thời chúa Nguyễn ghi đất Sài Gòn thuộc vương quốc Khmer để bây giờ nói đất SaiGòn ngày nay thuộc Campuchia hả? Tác giả viết: “Lấy thông tin của hơn 4 thập kỉ trước để biện minh cho tranh chấp hiện nay là có phần không hợp lí.”Tác giả viết tiếp: “Cuốn sách giáo khoa đó chỉ được dùng giảng dạy cho một phần VN, và cũng chỉ trong một thời gian ngắn, không thể xem là một tài liệu tham khảo có giá trị bất biến.” 
Tác giả nói China LĐ rất hèn và thấp khi xử dụng công hàm PVĐ và sách giáo khoa soạn trong thời bang giao khắn khít anh em giữa 2 nước. Tính chất không hợp tình lộ ra bên cạnh tính không họp lý và phi khoa học đã nói ở trên. Tác giả viết: “Vậy mà bây giờ họ dùng đó để ra đòn “hạ thủ” công bố những tấm hình tế nhị.” Hình tế nhị? Hình ảnh đôi trai gái mà cô gái là loại mềm lòng cả tin đáng thương hiện ra. Vì “trót yêu anh, tin anh quên thân mình” mà nàng bị lừa. Chàng nói với cô: “Ảnh đây, như vầy đây không “cho” tôi thì còn gọi là cái gì nữa!” Nàng sững sờ nghĩ mình vì trót quá yêu ảnh nên chiều ảnh, khinh xuất bất cẩn chứ có bao giờ “cho” đâu. Tác giả nói ông tiến sĩ TCT nói là nói để ru ngủ, để tự ta sướng chứ ra tranh luận thì không ăn. Nói “không hề có một câu chữ nào đề cập đến “Tây sa”, “Nam Sa” trong thư của PVĐ hay nói thư chỉ đề cập tới tôn trọng hải phận 12 hải lý của China LĐ chỉ là lấp liếm kéo gai qua trổ cho xong chuyện chứ  câu “Ghi nhậntán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958của ông cựu thủ tướng Bắc Việt in ra sờ sờ trong thư đó mà. Điều 1 của bản tuyên bố đã xác nhận Tây Sa, Nam Sa là đâu rồi. Tôn trọng hải phận 12 hải lý của China LĐ ở Tây Sa, Nam Sa là công nhận HS, TS thuộc China LĐ chứ còn gì. Chối cãi sao được. Có phải muốn làm vừa lòng China Lục Địa mà khinh xuất để Bắc Việt mắc mưu công nhận HS, TS thuộc China LĐ? Tai hại là câu chữ ngầm hiểu là thuộc lâu đời rồi vì tuyên bố 4-9-1958 đề cập 1 xâu chuỗi gồm các đảo và quần đảo thuộc đế quốc Trung Hoa có từ lâu.
FB Nguyễn Quang Tuấn chỉ trích GS Cao Huy Thuần.  Cao Huy Thuần bên vực Phạm Văn Đồng lý luận: “Tranh chấp không giải quyết được tại Hội nghị Genève 1958 là tranh chấp trên vấn đề hải phận. Bác bỏ hay tán thành tuyên bố của Trung Quốc là bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý ấy, một chuyện pháp lý nóng bỏng vào thời buổi ấy. Không phải vì bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý là bắt buộc phải bao hàm việc bác bỏ hay tán thành cái chuyện chủ quyền.” Nguyễn Quang Tuấn chê Cao Huy Thuần xuất thân từ đại học Pháp mà nghĩ như thế. Tuyên bố của China LĐ nêu điều 1 rõ ràng ra đó mà(Kết họp với ngày nay China LĐ xử dụng bản đồ Biển Đông có 11 đoạn vẽ năm 1948 của THDQ sửa thành bản đồ 9 đoạn là có âm mưu chiếm Biển Đông từ lâu đời. Chùi Tây Sa, Nam Sa vào điều 1 của bản tuyên bố là mưu lừa thiên hạ công nhận Biển Đông thuộc lãnh thổ của họ). Tán thành tuyên bố là chấp nhận định nghĩa Tây Sa, Nam sa của China LĐ ở điều 1 của bản Tuyên Bố. Công Hàm PVĐ chẳng đề cập tới hội nghị 1958 là hội nghị tranh chấp về hải phận nào cả. Vậy “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” là chỉ ghi nhận và tán thành lập trường hải phận 12 hải lý của China LĐ suông không thôi sao? Nguyễn Văn Tuấn nói bản Công Hàm còn là giấy chứng nhận đứa trẻ(Tây Sa, Nam Sa) không hề là con mình.
Số là năm 1958 chiến tranh lạnh đến hồi lên đỉnh điểm căng thẳng  ở eo biển Đài Loan. Quần đảo Bành Hồ thuộc Trung Hoa Dân Quốc nằm trong tầm ngắm của đôi bên. China LĐ lợi dụng luật biển thời đó “khoanh vùng” giới hạn tàu chiến phe Mỹ trong hạn hẹp 12 hải lý quanh Bành Hồ để China LĐ được an toàn ở eo biển Đài Loan này. Người tình Bắc Việt cũng tin như thế nên ra công hàm ủng hộ phe ta mà chẳng e ngại gì chuyện để tình nhân sờ soạn mó máy lên phần đất Hoàng Sa Trường Sa của cơ thể Việt Nam “chụp 1 cái hình” để làm chứng dùng sau này. Họ chùi vào điều 1 của bảng Tuyên Bố cụm từ “quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Nam Sa (Trường Sa)” thuộc lãnh thổ China LĐ!(Tuyên Bố Cairo năm 1943, Tuyên Bố Potsdam năm 1945 đưa đến việc Nhật trao trả quần đảo Bành Hồ cho Đài Loan tại Hiệp Ứơc San Francisco 1951 kết thúc Thế Chiến Thư 2.) China LĐ đã từng để ý đến tấm bản đồ 11 đoạn của Trung Hoa Dân Quốc vẽ năm 1948. Bây giờ(10 năm sau) là dịp để họ chùi danh từ Tây Sa, Nam Sa lấy từ trên trời vào điều 1 của bản Tuyên Bố thì ngon ơ. Chỉ tội nghiệp người tình Bắc Việt cả tin mà thôi.
Thà đưa sự việc vào môi trường chính trị để vô hiệu hóa nó bỡi tính chất không khách quan phi khoa học của nó hơn là bẻ cong sự thật để biện minh. Trong môi trường chính trị nhất là môi trường tuyên truyên thời Chiến Tranh Lạnh có nhiều sự việc thiếu khách quan trung thực(chết 5 người thì nói chết cả trăm!). Người ta nói là để tuyên truyền bảo vệ 1 lập trường dù sai sự thật vẫn có tác dụng binh vực phe ta nhằm tìm hậu thuẫn cho nhau.
Cãi kiểu này không ăn nên tìm cách hạ thấp giá trị Công Hàm xuống thành Công Thư.
4-Bài viết của Phong Uyên đăng trong Dân Luận 14-6-2014. Cũng như nhà nước và TS Trục, tác giả này gọi Công Hàm PVĐ là Công Thư. Tác giả đưa ra thuật ngữ Quốc Gia và Thực Thể Địa Lý-Chính Trị. Trung Hoa Dân Quốc thừa kế TQ Thanh Triều từ năm 1911 đến năm 1971 là 1 Quốc Gia. Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại năm 1948 thừa kế Đế Quốc VN của triều Nguyễn là 1 Quốc Gia. CHNDTH và VNDCCH là Thực Thể Địa Lý-Chính Trị do biến động chính trị của Quốc Gia sinh ra có tính tạm thời. Thực Thể quản lý phần lãnh thổ của mình trong khi Quốc Gia có chủ quyền vĩnh viễn toàn bộ của lãnh thổ. Tuyên Bố 4-9-1958 gọi là đơn phương vì CHNDTH không quản lý quần đảo Bành Hồ. THDQ đang quản lý quần đảo này thì không tham gia Tuyên Bố. Trường họp chuyện Phạm Văn Đồng đề cập tới Tây Sa, Nam Sa cũng đơn phương như thế vì HS, TS thuộc lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam và đang được VNCH thừa kế QGVN quản lý. Không phải là Công Thư PVĐ vì đó là văn bản của cấp thấp hơn: Thực Thể Địa Lý-Chính Trị của Quốc Gia. Tác giả nói China LĐ đem quân đánh lấy HS năm 1974 và TS năm 1988 là đương nhiên vô hiệu hóa Công Thư PVĐ. Còn người ta thì nghĩ hai trận đánh đó tố giác China LĐ không tin có chủ quyền ở 2 quần đảo đó nên mới đem quân đánh để lấy cho chắc ăn chứ không kiện.
Cũng như TS Trần Công Trục, lập luận của tác giả Phong Uyên này khó thông. Công Hàm PVĐ vẫn còn là cái gì vướn mắc nên có bài viết của Nguyễn Huệ Chi mà trang adminbasam đăng 1 phần ngày 15-6-2014. Trong đó dẫn lời Nguyễn Khắc Mai  để nghị Quốc Hội chính thức ra biểu quyết phủ nhận Công Hàm PVĐ hay dẫn ý của Hà Sĩ Phu kêu gọi chính quyền mạnh dạn thành lập chế độ mới để tránh khỏi ràng buộc pháp lý với chế độ miền Bắc trước kia.  Tiến sĩ Nguyễn Nhã thì lạc quan hơn.
5-BBC phóng vẫn TS Nguyễn Nhã Thứ Năm, 12-6-2014. Nguyễn Nhã nói chứng cứ Công Hàm PVĐ không có giá trị pháp lý quốc tế mà chỉ có tác dụng về tâm lý, chính trị mà thôi. TS nói “Dù VNDCCH có nói gì, làm gì đi chăng nữa, đó chỉ là đối sách về ngoại giao và chính trị lúc đó thôi.” Hiệp Định Geneve năm 1954 qui định rõ HS-TS thuộc chính quyền phía Nam quản lý. China LĐ ký Hiệp Định thì phải thi hành, công nhận HS-TS thuộc chính quyền phía Nam.  TS nói chỉ cần hội nghị QT Geneve 1954 và hội nghị San Francisco 1951 là đủ phản bác yêu sách về HS-TS của China Lục Địa ngày nay(     CHNDTH và THDQ không tham gia hội nghị San Francisco vì Mỹ và Liên Xô không thống nhất ai là đại diện cho quyền lợi của nước Trung Hoa. Hội nghị mở ra đầu tháng 9-1951 để kết thúc Thế Chiến Thứ 2. Ngày 5-9-1951 ngoại trưởng Liên Xô đưa ra đề nghị nhìn nhận chủ quyền của CHNDTH đối với đảo HS và các đảo xa hơn nữa ở dưới phía Nam. 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận. Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu của Liên Xô. Theo lời mời của Mỹ, Thủ Tướng Trần Văn Hữu kiêm Ngoại Trưởng nước QGVN với tư cách thành viên khối Liên Hiệp Pháp tham dự hội nghị. Ngày 7-9-1951, thủ tướng Hữu xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của VN trên quần đảo HS-TS. Lời xác nhận của QGVN không hề gây ra 1 phản ứng chống đối hay yêu sách nào của 51 quốc gia tham dự hội nghị). TS Nhã nói “chính quyền nước Việt Nam thống nhất hiện nay có ‘tính chất pháp lý khác hẳn’ chính quyền ở Bắc Việt”
6-Công Ứơc Kế Tục Quốc Gia 1978 của Liên Hiệp Quốc. Cũng trang  adminbasam đăng ngày 15-6-2014 đề cập tới GS Tạ Văn Tài và TS Vũ Quang Việt mới vừa tìm thấy công ước này. Công Ứơc 1978 cho phép 1 quốc gia kế tục(CHXHCNVN) có thể bác bỏ các hiệp ước về lãnh thổ bất bình đẳng hoặc do sức ép mà 1 quốc gia tiền nhiệm(VNDCCH) đã ký. Nhưng có tác giả thì cho VNDCCH và CHXHCNVN thực tế chỉ là 1, không khác nhau về bản chất.
Công ước này được soạn xong ngày 23-8-1978 và có hiệu lực từ ngày 6-11-1996. Kế tục quốc gia(QG) khác hẳn kế tục chính quyền(chỉ thay lãnh đạo). Thay đổi  QG là thay đổi cơ bản về căn cước pháp lý Quốc Tế, có thể gồm cả thể chế, chính quyền, công dân và quan trọng là thay đổi lãnh thổ. Điều 7.3 cho phép linh hoạt bỡi vì nó cho phép các QG dù ra đời trước khi Công Ứơc có hiệu lực vẫn có thể giải quyết trên cơ sở của nó miễn là bên đối tác ra tuyên bố chấp nhận. Như vậy CHXHCNVN có thể ra tuyên bố chấp nhận Công Ứơc, kế tục QG tiền nhiệm VNDCCH để bác bỏ các  hiệp ước bất bình đẳng hay bị sức ép mà quốc gia tiền nhiệm VNDCCH đã ký kết.
7-Chuyện sờ voi. Sờ đâu nói cũng trúng cả và đều sai cả. Con voi như cái quạt(sờ tai), như cột nhà(sờ chân), như cái chổi(sờ đuôi), như vòi rồng(sờ vòi). Chỉ có cái nhìn tổng thể khắp toàn thân mới nhận dạng đúng hình của con voi mà thôi.  Bộ Ngoại Giao China LĐ hôm 8-6-2014 đưa ra 1 loạt bằng chứng chứng nhận Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của họ chỉ là chuyện sờ voi. Nguyễn Văn Tuấn nói China LĐ rất hèn và thấp khi xử dụng Công Hàm PVĐ, sách giáo khoa và tài liệu được soạn ra trong lúc 2 bên thân thiết coi như anh em môi hở răng lạnh. Răng lạnh thì môi ôm ấp liền, cả tin mà không hề tính toán hơn thiệt. Bây giờ lấy cái sai sót hớ hên của bạn mình để hạ đòn thì thật là hèn. Nhưng vì tài liệu của China LĐ không nhiều, kiểu sờ voi, nên lập luận có hiệu quả là dùng sàng che mặt voi để người ta thấy nhiều chỗ không đúng. Tài liệu chủ quyền về HS-TS của VN thì cả đống to như trái núi, như con voi. Tài liệu bổ túc cho nhau làm sao nhận thức sai được. Lịch sử HS-TS của VN trải qua các đời chúa và vua Nguyễn, thời thuộc Pháp, thuộc Nhật rồi thời liệt cường định phần chia chác cho nhau lãnh thổ mà đế quốc Nhật từng chiếm đóng. Đã đến lúc VN xử dụng khối chứng cứ thu lượm trong quá trình dài hạn đó để thế giới thấy đâu là chính nghĩa, chính danh(Paracel seu CátVàng là Paracel seu Cát Vàng không Xi Sa Nam Sa “on đơ: un deux” gì hết). Thu thập cảm tình bốn bể năm châu đấu tranh với China LĐ mà đòi cho được chủ quyền HS-TS. Nguyễn Văn Tuấn viết: “Lượng tài liệu của họ(China LĐ) không nhiều, và chất cũng kém. Đã đến lúc một nhóm nhà báo hay nhà khoa học xã hội đứng ra thu thập dữ liệu và biến chúng thành thông tin và tri thức. Nếu cần kĩ năng phân tích thống kê, sẽ có người ở VN hoặc nước ngoài hỗ trợ. Tôi nghĩ đó là một cách thức thực tế để tạo thêm chứng từ trong cuộc đấu tranh với Tàu cộng.”
Dù thế giới thấy China ĐL có nhiều sai trái trong cách xử sự ở Biển Đông và biển Hoa Đông nhưng China LĐ vẫn còn là 1 cường quốc kinh tế hấp dẫn nhiều nước làm ăn với họ. Rất gay go cho VN là 1 nước nhỏ đấu tranh với 1 nước lớn giàu có nhưng hung hăng. Nhưng việc VN tranh thủ cảm tình toàn thế giới bên vực cho mình thì có thể. Viết đến đây nhớ lại chuyện nàng Kiều bị Sở Khanh lừa. Người con gái yếu đuối vẫn thắng tên bạo tàn hung hãn khi cộng đồng phát biểu: “Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?” và “Lời ngay, đông mặt trong ngoài/Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương/Phụ tình án đã rõ ràng/Dơ tuồng, nghỉ mới tìm đường tháo lui.” Và 1 lần nước Việt yếu đuối vẫn thắng được quân Minh đông đảo và bạo tàn khi toàn dân Việt biết đâu là Đại Nghĩa. “Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn/Lấy Chí Nhân thay cường bạo.”
.
Mùa đánh trận bằng súng nước và bằng loa
giữa China LĐ và CHXHCNVN bước sang giữa tháng thứ 2
18-6-2014.HBC.
Mời vào link sau đây xem thêm:


1 nhận xét:

Công hàm của ông Phạm Văn Đồng thật là tai hại làm sao.
https://quanhequocte.org/viet-nam-da-tung-ba-lan-cong-nhan-hoang-sa-va-truong-sa-la-lanh-tho-trung-quoc/

Đăng nhận xét