Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Thân Thế Lương Văn Chánh(Những Tồn Nghi)

 







Giới Thiệu
Sau 1 năm mọi việc đều lắng xuống tôi mới đăng bài viết này. Trước hết mời xem video cái đã.
THÂN THẾ LƯƠNG  VĂNCHÁNH
(Những Tồn Nghi).
Mở đầu: Cứ nghe nói người trông coi miếu Lương Văn Chánh còn giữ 14 “sắc phong” mà nhiều người có chức có quyền có trách nhiệm làm cho lịch sử Phú Yên trở nên sáng rõ đã đọc qua. Từ lâu tôi muốn đọc nhưng vì là dân dã nên được trả lời là không được xem. Muốn xem thì phải có giấy giới thiệu. Ngày Phú Yên 400 năm ra đời. 14 “sắc phong” được in ra trong sách Lương Văn Chánh Thân Thế và Sự Nghiệp(LVC-TTVSN) của TS. Nguyễn Văn Thưởng(NVT). Tôi có cơ hội đọc. Đem đối chiếu với những gì Liệt Truyện(LT) và Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) viết về Lương Văn Chánh(LVC) đồng thời phân tích sự việc trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT), Khâm Định Việt Sử Cương Mục(KĐVS) thì thấy thân thế LVC rõ ra rành rành. Việc gì các họ Lương ở Tuy Hòa phải cất công ra tận Thanh Hóa tìm tông tích và mở các cuộc hội thảo lòng vòng để nhiều người đưa ra những thông tin chủ quan làm ngổn ngang thêm những tồn nghi khó hiểu.

1-Theo dòng sử liệu: Ngày nay có nhiều tài liệu nói về tình hình ở đất Nam đèo Cù Mông sau chiến thắng năm 1471 hạ thành Đồ Bàn rất phức tạp cho ta không tin(LVC) khai phá đất này dễ dàng được. Thế mà có nhiều tác giả ở PY hiện nay viết việc khai phá đất này của LVC gần y chang như việc làm của dân chúng bây giờ(nói việc làm của cổ nhân y chang như thời mình đang sống!). Thật là chủ quan.
Chính sử viết về LVC quá ít và quá vắn tắt. Làm sao ta biết rõ thân thế của LVC. Có tác giả lại nói quê của LVC ở Thanh Hóa và là hậu Duệ của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh bằng suy luận 1 cách dễ dàng. Thử theo dòng sử liệu. Sách ĐVSKTT, KĐVS không đề cập đến LVC và việc năm 1578. Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên(ĐNLT-TB) nói Văn Chính là công thần hồi Quốc sơ, khai thác đất đai, mở rộng biên giới, công lao thật rõ rệt. Nhưng vì sự tích ra muộn, cho nên sách thực lục bỏ sót tên ông". ĐNLT-TB viết LVC người huyện Tuy Hòa, tĩnh Phú Yên. Tiên tổ là người Bắc Hà. Làm quan nhà Lê. Đầu năm Mậu Ngọ(1558) theo NH vào Nam. Khoảng năm 1578, tiến tới sông Đà Diễn, đánh lấy Hồ Thành. Vì có quân công, thăng Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, tước Phù Nghĩa Hầu. Lại thăng làm quan trấn An Biên huyện Tuy Viễn. Văn Chính chiêu tập dân Xiêm khai khẩn đất hoang ở Cầu Mông, Bà Đài, cho dân di đến đấy. Lại mộ dân khai hoang ở trên dưới triền sông Đà Diễn chia lập thôn ấp ngày dần đông đúc. Lúc chết được phong phong Tiền trấn doanh tham tướng Phù quận công Bảo Quốc chi thần. Tỏ ra linh hiển. Truy tặng Bảo Quốc Hộ Dân Hựu Thuận chi thần(Thế Tông 1740). Tặng thêm Bảo Quốc Hộ Dân Hựu Thuận Phong Công Tinh Tiết chi thần(1744). Lại được Phong Trán Du Cung Vũ Linh Ứng thượng đẳng thần(Minh Mạng, 1822). Con cháu làm đến tước hầu 2 người. ĐNLT-TB không đề cập tới các sắc năm 1596, 1597, 1689, 1693, 1767, 1843(tháng 8), 1843(tháng 9), 1850, 1880, 1886, 1909 mà sách LVC-TTVSN của TS. Nguyễn Văn Thưởng xuất bản vào dịp kỷ niệm Phú Yên 400 Năm đăng tải.
Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) thì viết: “Năm Mậu Dần(1578) LVC đánh lấy Thành Hồ. LVC người huyện Tuy Hòa đầu bản triều làm chỉ huy sứ, đánh nước Chiêm Thành, thăng Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, sau làm Tham Tướng dinh Trấn Biên, có công chiêu tập dân xiêu tán khẩn ruộng hoang, chết tặng Quận Công phong phúc thần.” ĐNNTC nói về tỉnh Bình Định, phần dựng đặt và diên cách có đề cập đến niên đại 1578 với nội dung như sau : “Bản triều Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế năm Mậu Dần thứ 21 (Lê Quang Hưng năm thứ l (1578) bổ Lương Văn Chánh làm Tri huyện Tuy Viễn để dẹp yên biên trấn và chiêu tập dân xiêu tán đến ở Cù Mông và Bà Đài, lại khai khẩn ruộng hoang ở sông Đà Diễn.”  Dân xiêm hay dân xiêu tán? Nội dung viết giống Liệt Truyện và cũng không dẫn tài liệu nào. Hai sách này dùng nhiều địa danh và tước mới có sau này như “huyện Tuy Hòa”, “dinh trấn Biên”, “Phù quận công” thay vì “Phù Nghĩa hầu” gây ngộ nhận về LVC.
Nay tôi mới biết thêm có 2 bản văn  ký năm 1596 và 1597 đăng trong sách LVC-TTVSN của NVT.
Tờ “sắc” ký năm 1596 viết: Sắc đặc tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thiên Vũ vệ Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ, vệ Thiên Vũ Phù Nghĩa Hầu Trụ Quốc Trung Trật Lương Văn Chánh. Từng được Đô tướng thái úy Trưởng quốc công Trịnh Tùng phái đi đánh giặc nhiều phen có công, triều thần bàn nên thăng chức, được làm Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân  cai quản công việc quân vụ của 4 vệ Thần Vũ, tước Phù Nghĩa hầu Trụ Quốc Trung Trật. Ban sắc.   Quang Hưng, năm thứ 19, ngày 05 tháng 12 (1596) Ấn: SẮC MỆNH CHI BỬU). Bảng của Trần Viết Ngạc dịch tương tự và nói vệ Bốn Thần Vũ thay vì 4 vệ Thần Vũ.
Tờ “sắc” ký năm 1597 viết: (Dạy Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đã giữ việc quân lâu ngày có công trạng, quyền coi huyện Tuy Viễn, trấn An Biên rằng: hãy liệu đem số người trục vào dân xã Ba Thê và các khách hộ thôn phường tòng hành ứng vụ, rồi lấy riêng số nhân dân khách hộ đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Bà Niêu, trên từ nguồn di, dưới đến cữa biển thành lập địa phận gia cư, khai khẩn ruộng đất hoang nhàn tới khi thành thục, nạp thuế như lệ thường. Nếu vì lo việc mà nhiễu dân, xét ra bị xử tội. Nay dạy. Quang Hưng, năm thứ hai mươi, ngày mồng sáu tháng hai (1597) Ấn: TỔNG TRẤN TƯỚNG QUÂN CHI ẤN).
Nhờ 2 bản văn đó mà nỗi băng khoăn của tôi lâu nay về LVC và lịch sử về phần đất Nam Cù Mông được giả tỏa. Thân thế của vị thần hoàng mà dân địa phương này bao đời kính trọng nay được khá rõ thay vì huyền thoại và tâm linh. Theo đó thì tôi thấy sử gia thực sự chỉ biết rõ LVC từ năm 1596 và năm 1597. Chức, tước và việc làm mới biết được từ đây. ĐVSKTT và KĐVS (bản điện tử) không đề cập tới việc năm 1578.
ĐNLT-TB và ĐNNTC có đề cập tới mốc thời gian này(1578) nhưng không dẫn tài liệu nào. ĐNLT-TB và ĐNNTC viết về LVC thấy na ná giống 2 bản văn ký năm 1596 và 1597 này mà không trích dẫn nguồn lấy từ 2 văn bản đó. Liệt Truyện gộp cả đời người của LVC vào thời điểm năm 1596-1597 nên gây lầm lẫn cho hậu sinh. Việc năm 1558, việc năm 1578 và việc năm 1596-1597 gộp lại trong 1 đoạn văn ngắn. Vào Nam năm 1558 là 1 chuyện. Năm 1578 đánh Thành Hồ là chuyện khác. Việc phong chức tước là việc mãi tới năm 1596  mới xảy ra(do có công lâu ngày từ trước) bây giờ mới có được chức tước đó(năm 1596) rồi năm sau(1597)được làm quan huyện Tuy Viễn và được sai đi khai hoang lập ấp ở đất Nam đèo Cù Mông. Chết mới được tặng Quận Công. 
ĐNNTC thì viết nhập nhằng khó hiểu hơn nữa(địa danh thì nhầm lẫn đời trước đời sau, thời gian thì cũng lẫn lộn). ĐNNTC ghép chức chỉ huy sứ thấy ghi trong bản văn ký năm 1596 vào đoạn đầu bản triều, vào chỗ đánh Chiêm Thành năm 1578. Sách nói sau LVC làm tham tướng dinh Trấn Biên  mà không ghi vào năm nào(danh từ dinh Trấn Biên xuất hiện tuốt tuột sau này chứ không ở thời LVC). Sách nói LVC có công chiêu tập  dân xiêu tán cũng không ghi vào năm nào. Gán ghép lung tung thật khó hiểu. Hai bản văn ký năm 1596-1597 tự nó nói lên rõ ràng thân thế của LVC rồi.
Chính vì cách gán ghép lung tung không tôn trọng những văn bản sử liệu chính thống mà ĐNLT-TB và ĐNNTC mới vừa tìm ra, cũng không trích dẫn chúng làm các tác giả đời sau nhầm lẫn. Các tác giả hậu sinh “sáng chế” ra nhiều tác phẩm về LVC làm rối tung lịch sử. Không biết GS TS Lương Phương Hậu(LPH), tác giả của bài viết Kỷ Niệm 400 Năm Ngày Mất Của Phù Nghĩa Hầu Phù Quận Công Lương Văn Chánh theo tài liệu nào hay cũng theo ĐNNTC mà nói năm 1558 LVC làm Võ Vệ Đô chỉ huy sứ theo Nguyễn Hoàng vào Nam để viện lý là 18 tuổi không làm đến chức đó. LVC phải ở tuổi 30 để rồi nói LVC sinh khoảng năm 1525-1530 cho phù hợp với gia phả họ Lương ở Hội Triều(định cư năm 1515). Từ đó LPH suy ra LVC là hậu duệ của họ Lương ở làng Phụng Lịch(xem đoạn viết về tồn nghi năm sinh ở dưới đây). Tác giả không biết hay lờ đi văn bản ký năm 1596 ghi rõ chức và tước của LVC. Đến năm 1596 LVC mới có được chức tước này. Sự lầm lẫn gây tai hại. Liệt truyện không dẫn nguồn nào nói LVC theo NH vào Nam năm 1558. Cả 2 Liệt Truyện lẫn ĐNNTC đều nói LVC người huyện Tuy Hòa mà cũng không dẫn nguồn nào cả. LVC lại có miếu thờ ở làng Phụng Tường. Chính vì vậy mà hậu thế tin LVC sống cuối đời và chết ở làng Phụng Tường. Thậm chí tin miếu thờ cũng là lăng nên có việc có mộ của LVC ở đó!
Nhờ 2 bản văn ký năm 1596-1597 mà tôi được thỏa mãn vì nghĩ được rằng sử gia đã gọp việc năm 1558, 1578 và năm 1596-1597 vào 1 đoạn văn ngắn làm hậu sinh nhầm lẫn như nói ở trên. Thực Lục thì không đề cập tới năm 1578. Cả ĐVSKTT và KĐVS cũng không viết việc năm 1578. Ý tưởng nghi sử gia viết ĐNLT-TB và ĐNNTC “viết gộp”, được củng cố khi tôi đọc lại quá trình biên soạn bộ Đại Nam.
Từ năm Minh Mang thứ 1(1820) có chiếu sai tìm sách vở tài liệu còn sót lại. Năm 1821 mở Quốc Sử Quán. Năm 1833 sai biên soạn Khâm Định thực lục các kỷ. Năm Thiệu Trị thứ 1(1841) cho soạn Thực Lục Tiền Biên và bảo nên soạn Liệt Truyện luôn thể. Năm thứ 4(1844) cho khắc in Thực Lục Tiền Biên. Tự Đức thứ 5(1852) cho khắc in Liệt Truyện Tiền Biên(nghĩa là đến đời Tự Đức mới viết về LVC). Điều thứ 10 trong thể lệ làm ĐNLT-TB nói sự tích dựa vào Thực Lục và tham khảo gia phả, thâu lượm thêm.
Qua quá trình ra đời như vậy nên bộ sử của nhà Nguyễn có khác chút ít với ĐVSKTT do triều Lê ở Bắc Hà biên soạn. ĐVSKTT nói trấn thủ Quảng Nam là Trấn quận công không biết tên. Năm 1571 người dẹp loạn rồi ở lại trấn thủ Quảng Nam là Dũng quận công(cũng không biết tên). Đến khi bộ sử nhà Nguyễn ra đời thì mới biết tên Trấn quận công ở Quảng Nam là Bùi Tá Hán và trấn thủ Quảng Nam Dũng quận công năm 1571 là Mai Đình Dũng. Đến năm 1824 triều Minh Mạng, thì Lê Đăng Hiển khi làm quan ở Quảng Ngãi mới sao lục lại tập sách Quảng Nam Phủ Tập Ký Sự(QNPTKS) của Mai thị(người họ Mai). Gỉa thiết đưa ra là mãi tới đời Minh Mạng việc ở Quảng Nam mới sáng tỏ ra nhờ tập ký sự này(xem QNPTKS). Tên Bùi Tá Hán và tên Mai Đình Dũng mới được biết tới. Liệt Truyện nói Nguyễn Ứng Tỵ(Dị) có con là Đình Dũng. Đình Dũng có họ Mai vì lúc Nguyễn Ứng Dị cưu mang cháu là Nguyễn Hoàng mà cha là Nguyễn Kim phù Lê chống Mạc sợ nhà Mạc trả thù nên cải ra họ Mai. Liệt Truyện cũng nói Đình Dũng theo cha vào Nam. Năm 1571 Đình Dũng đi đánh dẹp Quảng Nam rồi được lưu ở đó. Nhiều sử gia cho QNPTKS soạn khoảng năm 1558-1571 và tác giả là Mai Đình Dũng. Tới năm 1824 mới phát hiện QNPTKS. Có lẽ các sắc phong của LVC cũng được phát hiện muộn như vậy. Rõ ràng Thực lục nói “sự tích ra muộn” là như thế. Nghĩa là tài liệu viết về LVC phát hiện mãi sau này nên Thực Lục Tiền Biên không thực lục việc liên quan tới LVC được.
Kết luận ĐNLT-TB và ĐNNTC viết được về LVC(khoảng triều Tự Đức) nhờ thu được thêm tài liệu nhưng 2 sách đó không chịu trưng tài liệu đó ra. Điều thứ 10 trong thể lệ làm ĐNLT-TB nói sự tích dựa vào Thực Lục và tham khảo gia phả, thâu lượm thêm. Sự việc là như vậy. Trong buổi đầu thu lượm chưa đầy đủ nên ĐNLT-TB và ĐNNTC viết “sơ qua” sự nghiệp cả 1 đời người LVC trong 1 đoạn văn ngắn gọn làm hậu sinh nhiều người lầm lẫn. ĐNNTC có lẽ chưa nắm chắc tài liệu sưu tập hơn ĐNLT-TB nên viết về LVC nhập nhằng hơn. Các sách không viết sai vì phải theo đúng điều lệ số 10 khi viết truyện.
2-Những Tồn nghi. Sự việc ra như thế mà có nhiều tác giả viết vanh vách việc ở Quảng Nam cuối thế kỷ 16 và 17 cứ như mình sống vào thời đó. Bùi Tá Hán, LVC làm như thế này như thế kia mà không chịu dẫn tài liệu, chủ quan uốn việc cho họp với ý mình làm ngổn ngang nhiều tồn nghi, đầy rẫy mâu thuẫn làm người ta chán đọc sử.
Năm sinh của LVC. Chánh sử chưa khẳng định năm sinh. Chưa có tài liệu thì nên để yên như chánh sử. Muốn LVC có nguyên quán ở Thanh Hóa mà các họ Lương ở Tuy Hòa cất công đi thực địa ở Thanh Hóa tra cứu. Sau khi sàn lọc, họ chọn họ Lương ở Hải Triều. GS TS Lương Phương Hậu(LPH), phó Ban Liên Lạc họ Lương VN trong bài Kỷ Niệm Ngày Mất Của Phù Nghĩa hầu Phù quận công LVC nói con trai thứ của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh là đô đốc Lương Thế Khôi bị nạn, xác trôi về cữa Hội Triều. Người con út của Lương Thế Khôi là Lương Thế Khải ở lại Hội Triều trông coi phần mộ. Ba người anh là Kỳ, Phụ, Dực thì lưu tán nơi nào không rõ, có nhiều khả năng các ông anh đến ở Phượng Lịch lý do vì làng cách mộ không xa. Tác giả đoán cha tên Phụ thì con tên là Chính. LVC là con của Lương Thế Phụ. LVC đặt tên quê hương mới là Phụng Tường vì nhớ quê cũ có tên Phụng Lịch, Hoằng Lưu, Hằng Hóa, Thanh Hóa. Để được ăn khớp, tác giả dẫn năm sinh của LVC. Tác giả nói năm 1558 LVC làm Võ Vệ Đô Chỉ Huy Sứ, theo NH vào Nam. Tác giả nói 18 tuổi chưa làm được chức quan đó. Tác giả nói phải ở tuổi 30 rồi suy ra LVC sinh khoảng 1525-1530.  Thời gian đó sẽ phù hợp năm 1515 Lương Thế Khải và 3 người anh kia định cư ở Phượng Lịch. TS Nguyễn Văn Thưởng trong sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp cũng nói LVC buổi đầu làm quan nhà Lê tới chức Thiên Vũ vệ Đô chỉ huy sứ(trang 33). Hai tác giả chẳng để ý gì tới chức quan đó sờ sờ được phong năm 1596 trong 1 bản văn(gọi là sắc của vua Lê Thế Tông) cũng được in ngay trong sách này(trang 119). Hết sức rõ ràng. Năm đó(năm 1596), Trịnh Tùng đã thống nhất lãnh thổ, lấy lại Thăng Long không phải đầu của bản triều(triều vua chúa nhà Nguyễn).  
Nguyên Quán. (xem lý luận như trên). Sách LVC-TTVSN của NVT in dòng họ các họ Lương ở Phú Yên và ở Hội Triều, Thanh Hóa mà không có đoạn nào mô tả có liên hệ với LVC, ngoài việc viết về những danh nhân. Họ Lương ở Phú Yên đi Thanh Hóa tìm nguồn gốc dựa vào ý nói Nguyễn Hoàng, LVC đưa nhiều người họ Lương vào quân ngũ đi vào Nam mà không dẫn tài liệu chỉ đưa câu “Nam bang Lương tính giai ngã tử tôn” làm căn bản. Các sắc phong in trong sách cũng không ghi nguyên quán của LVC. Các họ Lương nói trên không dẫn một đoạn văn nào nói lên có sự liên hệ với LVC, không có in đoạn tiền tông đồ nào nối tông đồ hiện tại của họ với tên vợ chồng ông Lương Văn Chánh cả. Họ Lương ở Minh Đức cũng nói công trạng 1 số vị. Tuyệt nhiên không dẫn chứng cứ có liên hệ với LVC. Mãi tận trang 222 vẽ sơ đồ thì thấy ghi nối đại tôn thứ 9. Không một chỉ dẫn về tiền tôn đồ nói lên mối liên hệ với LVC. Họ Lương phường 4 Tuy Hòa nói trong gia phả có ghi câu “truy nguyên thủy tổ quê xã Phụng Lịch, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, Thanh Hoa thừa tuyên theo Lương Qúi Phủ đến tĩnh Phú Yên lập ấp Phụng Hoàng thuộc thôn Nguyệt Tiên Đông nay là xã Ngọc Lãng”. Ghi chú số 2 nói Lương Văn Trúc dịch. Một câu sử liệu quí trong gia phả như vậy mà chẳng có ảnh chụp nguyên văn chữ Hán và in bảng phiên âm. Thủy tổ rõ ràng ở Phượng Lịch. Sao quí vị không khai thác sử liệu này mà phải đi vòng vo đến nổi nói Lương Thế Phụ(lưu lạc) phải ở Phượng Lịch vì không thể xa mộ Lương Thế Khôi. Và suy từ tên cha là Phụ thì tên con phải là Chính... Họ Lương này không đưa ra sơ đồ như họ Lương ở Phụng Tường và họ Lương ở Minh Đức. Việc làm của họ Lương ở Phú Yên làm thân thế ông tổ cả tĩnh của chúng ta rối tung lên.
Năm mất.  LVC được cúng giỗ bao đời nay vào ngày 19 tháng 9 nhưng không biết mất vào năm nào. GS TS Lương Phương Hậu gán thêm năm mất là năm 1611 và nói chắc chắn LVC mất ngày 19/9/ năm Tân Hợi(1611). Một việc chắc chắn(19/9) ghép vào 1 việc chưa chắc chắn(năm 1611) để tất cả trở thành chắc chắn. Người đời sau học lấy toàn bộ cái chắc chắn đó(năm mất in lên bia ở đền thờ mới xây để khách tham quan xem). Gia phả của những họ nhỏ chỉ chú trọng viết ai sinh ra ai. Ai chết ngày nào để con cháu cúng giỗ. Thậm chí không ghi năm. Vì vậy ít có cơ hội tìm được sử liệu trong gia phả của các họ nhỏ. Gắn cái đuôi năm 1611 để phù hợp đoạn văn ghi trên bia ở đền thờ mới là Văn Phong lập ra phủ Phú Yên năm 1611( nghĩa là LVC chết thì Văn Phong lên thay, kế thừa sự nghiệp của LVC. Thật trái với chánh sử). Sự nghiệp khai hoang lập ấp của LVC được Văn Phong kế thừa. Người viết văn bia lờ chuyện Văn Phong phải đánh lấy đất như chánh sử đã ghi(Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Thực Lục Tiền Biên).
Nơi ở cuối đời và mất. Cũng hãy còn tồn nghi. GS TS Lương Phương Hậu(LPH) nói nơi sống cuối cùng và yên nghỉ là Phụng Tường thì đã rõ. Trở lại chánh sử. Cả 2 Liệt Truyện lẫn ĐNNTC đều viết LVC là người huyện Tuy Hòa nhưng không dẫn nguồn. Hai  bản văn ký năm 1596-1597 tuyệt nhiên không nói LVC là người huyện Tuy Hòa(không biết ĐNLT-TB và ĐNNTC lấy nguồn nào mà nói như vậy).  Nên nhớ 2 sách này viết vào khoảng đời Tự Đức. Lúc đó mới có địa danh huyện Tuy Hòa. Hay là lúc viết sách thấy có miếu thờ LVC ở Phụng Tường thì nói thế. Lương Phương Hậu khẳng định nơi sống cuối đời, nơi mất của LVC ở Phụng Tường, Tuy Hòa căn cứ ĐNLT-TB, ĐNNTC và thấy có miếu thờ LVC ở Phụng tường như 2 sách nói trên chăng? LPH còn củng cố niềm tin này bằng suy luận như trên kia là LVC là con của Lương Thế Phụ, cháu của Lương Thế Khôi, chắc của Lương Thế Vinh (cha tên Phụ thì con tên Chánh) và LVC nhớ cố hương làng Phụng Lịch mà đặt tên nơi ở mới là Phụng Tường.
Để tin nơi sống cuối đời và mất của LVC ở Tuy Hòa sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp của TS Nguyễn Văn Thưởng đưa ra việc phát hiện mộ bà Lê Thị Loan ở thôn Lạc Mỹ xã Hòa Phú huyện Tây Hòa năm 1930, được tu sửa năm 1997. Tác giả nói vợ của LVC tên là Lê Thị Loan, được phong Tản Phục phu nhân. Trên mộ bia có ghi “Lương Văn Chánh phu nhân. Tiền Trấn Biên tham tướng chi mộ: Tần Thục phu nhân Lê Thị Loan”. Một phát hiện quan trọng như vậy mà không có tài liệu khảo cổ và không nói rõ sự bảo tồn bảo tàng bia và mộ đó. Ảnh chụp(ảnh màu) in trong sách này liệu có đúng bia mộ năm 1930 không. Văn bia lại toàn từ mới thuộc đời chúa(Tiền Trấn Biên). Trong đoạn viết này tác giả còn đưa ra hình ảnh mộ của cháu Lương Văn Chánh là nhị lang thần Lương Văn Cảnh. Trang 55 đoạn ghi con cháu của ông bà Lương Văn Chánh và Lê Thị Loan không tìm thấy có tên Lương Văn Cảnh, toàn những người có họ Lương Công. Một di chỉ quan trọng như vậy mà chẳng có ảnh cũ(trắng đen), hồ sơ khảo cổ năm 1930. Sách đưa ra ảnh màu và bia có cái gì như chữ quốc ngữ nho nhỏ viết hay khắc ở dưới mỗi chữ Hán. Bia cổ thì không có kiểu như vậy. Thật hồ nghi.
Trở lại gia phả họ Lương ở Phụng Tường để tìm nơi mất của ông. Trang 47 sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp có đề cập cuốn gia phả này. Ghi chú số 1 nói xem phụ lục 1. Sách nói gia phả ghi bằng chữ Hán chép từ đời Lương Văn Chánh đã được dịch. Ghi chú số 2 nói là cụ Đào Chuyên dịch. Tài liệu quan trọng như thế mà sách chẳng in ấn ngay chỗ này, ngay trang 47. Chẳng in hình chụp nguyên văn chữ Hán, chẳng chụp ảnh phần dịch âm, chẳng in phần cụ Đào Chuyên dịch. Phụ lục 1 lại ở cuối sách, ở trang 186. Cách làm thêm nhiều tồn nghi. Sách không có in ảnh  câu Hán Văn “Lương Văn Chánh-Lê Thị Loan sinh hạ…” ra ai mà lệ thường gia phả bằng chữ Hán đều có ghi cả để làm bằng chứng. Trang 222 có vẽ sơ đồ nhưng bên dưới lại ghi dựa theo bản gia phả họ Lương ở Phụng Tường. Phải ghi rõ ra, chụp ảnh chữ Hán, phiên âm dịch nghĩa ra chứ sao nói DỰA THEO là tại sao? Trang 55 của sách này ghi bằng Quốc Ngữ(không in ảnh chữ Hán) 4 người con của Lương Văn Chánh-Lê Thị Loan là Lương thị An, Lương Công Vĩnh(Chánh Đề Đốc/Vĩnh Lộc hầu). Lương Công Triều(phó Đề Đốc/Quảng Xuyên hầu) và Lương Công Qúi(cai phủ/Thọ Khương hầu) và cũng không ghi lấy 1 câu “Lương Văn Chánh và Lê Thị Loan sinh hạ”, sinh hạ ra những người đó. LVC có 3 người con có tước hầu thay vì có 2 như ĐNLT-TB viết. Đời thứ 2 con của Lương Công Triều là Lương Công Minh(phó Đề Đốc/Vĩnh Thắng hầu), Lương Công Thành (Đội Trưởng/Huân Tài bá). Đời thứ 3 con của Lương Công Minh là Lương Công Cẩn(Cai Phủ/Bàn Long hầu), Lương Công Lân(Cai phủ/ Hoan Võ hầu). Con của Lương Công Lăng(em của Lương Công Minh) là Lương Công Lượng(Đội Trưởng/Tín Tài bá). Con của Lương Công Thành(em của Lương Công Lãng) là Lương Công Dực(Đội Trưởng/Huân Tài bá). Đời thứ 4. Con của Lương Công Lân là Lương Công Trân. Tất cả đều lấy tên họ là Lương Công. Không ai lấy họ Lương Văn hay Lương Qúi(Lương Qúi Phủ) như LVC hay như Hiển khảo Lương Văn Cảnh nói là cháu của LVC có mộ gần mộ bà Lê Thị Loan cả. Cháu LVC có nhiều người có tước hầu trái với ĐNLT-TB nói có 2. Truyền tới 4 đời mà chẳng có ai lấy họ của ông tổ LVC cả, toàn một đám con cháu họ Lương Công!
Tài liệu ngày nay cho thấy vùng này là vùng tranh chấp Chiêm-Việt triền miên. Chánh sử nói năm 1611 phải còn đánh lấy. Con và cháu(đời 2 và 3) sao ở yên được mà giữ mả mồ. Nơi bất an mà quan đầu “tĩnh” chọn làm nơi ở và nơi tán mộ. Vợ của 1 viên quan lớn nhất vùng mà an tán sát chân núi hiểm hóc(cọp núi Lá cá sông Hinh) miền biên địa với kẻ thù là Chiêm Thành sao? Lúc tham quan di tích LVC, khách tham quan nói châu thổ sông Cái(sông Kỳ Lộ) là vùng trù phú, cái nôi của tĩnh bao đời mà ông tổ của chúng ta lại ở nơi đây, chết ở nơi đây à? Lúc chưa có đập Đông Cam nơi này rừng rú đói khổ. Từ chỗ miếu LVC trở về Tây có các địa danh núi rừng cả: Cẩm Sơn, Sơn Triều, Ngọc Lãnh, Ngọc Sơn, Hạnh Lâm, Nho Lâm. Lúc tham quan có người có nguyên quán ở đây nói chỗ mả LVC trước đây gọi là Gò Đình.
Ngày vào Nam ra Bắc. Thực Lục và KĐVS không đề cập đến LVC. ĐNLT-TB nói đầu năm Mậu Ngọ(1558) LVC theo Nguyễn Hoàng vào Nam nhưng không dẫn tài liệu nào. ĐNNTC chỉ nói LVC được NH năm 1578 bổ làm quan huyện Tuy Viễn để đi dẹp yên biên trấn và di dân lập ấp, không nói LVC vào nam năm nào. Nhiều tác giả ngày nay thường nói LVC là người của NH. Trong bài viết Kỷ Niệm 400 Năm Thành Lập Tĩnh Phú Yên thầy Trần Viết Ngạc dẫn 2 văn bản ký năm 1596 và năm 1597 để nói LVC là người của NH năm 1593 theo NH ra Bắc rồi NH sốt ruột bị giam chân ở Bắc ra lịnh LVC về Nam di dân lập ấp ở Nam Cù Mông năm 1597. Tôi thấy 2 văn bản ấy không nói lên điều đó(vào Nam ra Bắc của LVC) mà đưa ra giả thuyết LVC là người của Trịnh Tùng và là người của thuộc tướng trông coi hạt Quảng Nam lúc bấy giờ (trước đó NH chỉ trực tiếp coi hạt Thuận Hóa còn Quảng Nam do thổ hào thổ mục tự quản. Tổng trấn NH gián tiếp trông coi. Xem mục 3: Một chút cảm nghĩ riêng). Thạc sĩ Nguyễn Thị Hiệp Ngọc trong bài viết LVC Người Mở Đất Phú Yên cũng đã tiếp cận bản văn 1596-1597 mà vẫn nói LVC sinh vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ XVI và tin LVC là người theo NH vào Nam năm 1558 . ĐNLT-TB nói suông là năm 1558 LVC theo Thái Tổ vào Nam, không dẫn chứng theo tài liệu nào. Tác giả thạc sĩ dẫn ĐNTL-TB: “…Mậu Ngọ, năm thứ nhất (1558)… tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hóa. Những người bộ khúc đồng hương… và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi…”. Có thể khẳng định chắc chắn rằng, trong số những “nghĩa dũng” ấy có Lương Văn Chánh.” Căn cứ những người bộ khúc đồng hương và những người nghĩa dũng đều vui lòng đi theo thì kết luận chắc trong đó có LVC à? Sao dễ dàng quá. Phải có những đoạn văn trong sách ĐNTL-TB nói cái này nói cái kia có liên quan đến tên LVC trong thời điểm nào đó thì mới kết luận được LVC ở đâu trong lúc nào chứ. KĐVS khi thực lục các kỷ không thấy có đề cập tới LVC. Không có chứng cứ việc làm có liên quan đến LVC nên Thực Lục cũng bỏ sót tên ông kia mà. Đến khi ĐNLT-TB tìm được tài liệu mới thì sách này mới viết về LVC. ĐNTL-TB và ĐNNTC ra đời sau(đời Tự Đức) KĐVS và Thực Lục. Tiếc thay sách ĐNTL-TB viết lướt qua và không dẫn chứng tài liệu tìm được để giúp ta hiểu thêm những gì sách đó viết. Hai bản văn ký năm 1596-1597 phát hiện ở nhà thờ họ Lương ở Phụng Tường viết ra những điều cụ thể về LVC tại thời điểm 1596-1597. Cách viết sử của sử quan triều Nguyễn có luật lệ ràng buộc chặt chẽ. Điều thứ 10 trong thể lệ làm ĐNLT-TB nói sự tích dựa vào Thực Lục và tham khảo gia phả, thâu lượm thêm, tức không được viết tùy tiện. Kết luận là ta không biết được rõ ràng sự vào Nam  ra Bắc của LVC.
3-Một chút cảm nghĩ riêng.
Ngộ nhận là do viết gộp. Sự thựclịch sử” về LVC thì rõ ràng và đơn giản. Liệt Truyện viết về ông không sai trái gì. Việc trở nên rối rắm là do ĐNLT-TB gộp cả lịch sử 1 đời người của LVC vào 1 đoạn văn ngắn mà không dẫn sử liệu mới tìm được làm hậu sinh ngộ nhận(xem phần 1: theo dòng sử liệu nói ở trên). Rất đơn giản nhẹ nhàng và rõ ràng. Nói lung tung là tự làm khổ ta. KĐVS, ĐNTL-TB cũng không tìm được tài liệu về ông để mà thực lục kia mà. Con cháu chúng ta vẽ vời thêm rồng thêm rắn làm chi cho tối nghĩa, cho bất hợp lý, cho mâu thuẫn với chánh sử.Thời Lê-Mạc người ta lo đánh nhau có mấy ai lo chuyện viết với lách. Xứ Ô Châu may có tiến sĩ Dương Văn An đời nhà Mạc viết Ô Châu Cận Lục nói về Thuận Hóa và ở Quảng Nam có Mai Đình Dũng(con nhà dòng Nguyễn Ưng Dị là cậu của Nguyễn Hoàng) viết Phủ Tập Quảng Nam Ký Sự(xem phần 1). Tìm thông tin về LVC sao không tìm đọc các sách này mà khổ công ra tận Thanh Hóa lục khảo cho tốn tiền.
LVC là người của Trịnh Tùng. Tự nhiên 14 sắc phong nói lên công lao và chỗ đứng của LVC trong lịch sử. Hậu sinh nói lung tung là tại có thành kiến nói LVC là người của Nguyễn Hoàng mà không chịu đọc sử để phân biệt NH ở Thuận Quảng, NH ở Bắc và NH là chúa Tiên sau năm 1600.
Thời NH ở Thuận Quảng thì LVC có thể đã là người  của Trịnh Tùng rồi. Trịnh Tùng sai đi đánh Chiêm năm 1578. Trở lại đoạn lịch sử Trịnh-Mạc thời điểm đó. Năm 1570 Trịnh Kiểm chết. Quần thần xúi Trịnh Tùng tranh ngôi Trịnh Cối. Trịnh Cối hàng Mạc. Lợi dụng tình hình, Mạc ra quân lớn. Vua Anh Tông(1557-1573) phong Trịnh Tùng làm Trưởng quận công tiết chế các dinh đi đánh Mạc(trong sử thường gọi Tiết Chế Trịnh Tùng). Mạc công kích dữ dội lũy Yên Trường(biên giới phía Bắc Thanh Hóa-Sơn Nam). Tháng 6 tình hình nguy khốn, may nhờ có Lê Cập Đệ dùng mẹo xây lũy giả trong 1 đêm thì xong. Quân Mạc e ngại quân Trịnh còn mạnh, có kỷ luật và quyết chiến. Chiến tuyến được cứu nguy. Năm 1571 quân Mạc lại đánh sau lưng vào Nghệ An. Nguyễn Bá Quýnh hãi hùng tháo chạy. Mất Nghệ An. Mỹ Lương làm loạn để theo Mạc bị Nguyễn Hoàng dẹp được. Năm 1572 Lê Cập Đệ mưu đoạt quyền Trịnh Tùng. Mạc Kính Điển lại lấn Nghệ An và Thanh Hóa lần nữa. Dân chạy trốn bỏ hoang ruộng vườn. Lập Bạo lấn Thuận Hóa  may mắn thay Nguyễn Hoàng đẩy lui được. Tháng 11 Trịnh Tùng khử trừ Lê Cập Đệ. Vua Lê Anh Tông(1557-1573) sợ chạy trốn. Tả Tướng quân Trịnh Tùng lập hoàng tử Đảm làm vua Lê Thế Tông(1573-1600). Vua mới phong Trịnh Tùng làm Thái Úy Đô Tướng(ĐVSKTT). KĐVS thì nói năm 1573 Trịnh Tùng tự phong Đô Tướng tiết chê các doanh, ra lệnh Thuận Hóa tích trử lúa thóc để sự phòng thủ biên giới được đầy đủ vững chắc, phong NH làm Thái Phó, bảo Thuận Hóa hàng năm nộp 400 cân bạc, 500 tấm lụa.
Trịnh Tùng làm chủ được đất nước. Trịnh Tùng xoay sang lo việc an sinh biên giới phía Nam là lẽ thông thường người làm chính trị tự bao đời đều làm như thế. Mỗi khi dẹp yên các thế lực thì lo biên phòng. ĐNLT-TB viết “LVC năm 1578 tiến tới sông Đà Diễn lấy Hồ Thành” Như vậy trận đánh Chiêm năm 1578 có thể tin là chuyện có thực. Nhưng Liệt Truyện chỉ viết lướt qua làm chúng ta lâu nay hồ nghi. Trịnh Tùng sai LVC đánh Chiêm để củng cố biên giới phía Nam sau khi đã bình định, làm chủ được đất Bắc năm 1573. LVC là người của Trịnh Tùng. Trịnh Tùng sai đi đánh giặc. Trịnh Tùng coi việc quân cả nước:  Tiết chế các doanh(dinh, giống như quân đoàn, binh đoàn ngày nay).
Nghiên cứu vị trí chính trị của NH trong giai đoạn này. Trước kia không biết Trấn quận công và Dũng quận công ở Quảng Nam là ai. Đến bộ Đại Nam và KĐVS ra đời thì biết họ là Bùi Tá Hán và Mai Đình Dũng. Lịch sử sáng rõ ra. Năm 1570 NH được cho kiêm lãnh Quảng Nam, dẹp Mỹ Lương năm 1571, cho thuộc tướng Mai Đình Dũng dẹp thổ hào thổ quan nổi loạn ở Quảng Nam, dẹp Lập Bạo năm 1572(Thực Lục). Thực Lục viết: “Đất Thuận Quảng lại được yên. Hoàng vỗ trị mấy chục năm: chính lệnh khoan hoà, thưởng ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh, khuyên răn tướng sĩ bản bộ. Cấm chỉ, trừ bỏ bọn hung ác, dân hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắng sức. Do vậy họ Mạc không dám dòm ngó, trong cõi được an cư lạc nghiệp.”Mới đọc qua thì thấy thành quả đó là của NH. Đi sâu vào thì thấy thành công có sự đóng góp của Quảng Nam. Sau này chúa Sãi thành công nghiệp chúa và mở được đất cũng nhờ người ở Quảng Nam. NH chỉ trực tiếp chăn dân ở Thuận Hóa. Lý do:
Có 1 sự liên hệ giữa Mai Đình Dũng ở Quảng Nam và NH ở Thuận Hóa cho phép nghĩ NH để Quảng Nam tự quản. Mai Đình Dũng là con của Nguyễn Ứng Dị(Tỵ), cậu của NH, đổi ra họ Mai vì sợ Mạc trả thù vì Ứng Dị đã cưu mang dạy dỗ NH(lúc mới lên 2 tuổi) là con của Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao tìm lập vua Lê chống Mạc. Mai Đình Dũng theo cha vào Nam(Liệt Truyện). Thực Lục lại nói Nguyễn Ư Dị là anh của mẹ NH. Thái phó Nguyễn Ư Dị hết lòng bảo hộ NH, lớn lên Ư Dị thường hay đem chuyện xây dựng công nghiệp khuyến khích NH. Khi Nguyễn Uông bị hại NH cùng bàn mưu với Ư Dị và giữ mình kín đáo. Năm 1559 Thanh Hóa Nghệ An lụt lội đói kém nhiều người lưu tán vào Nam. Trong số đó có Nguyễn Ư Dĩ, bọn Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống đồng lòng giúp sức(ĐNTL-TB). Mối liên hệ thật thâm tình. Nguyễn Ư Dĩ lại là quan lớn(thái phó) và có chí lập nghiệp, đã để ý nuôi dạy NH. Nếu ông ở cùng với con ông thì phải nghĩ Quảng Nam là đất thạnh trị. Đối với triều Lê Trung Hưng, Mai Đình Dũng lại ngang tước với Nguyễn Hoàng là quận công. Với liên hệ thâm tình và chức tước ngang nhau như vậy nên NH không cai trị Quảng Nam, xứ của thổ quan thổ hào mới thu phục như cai trị Thuận Hóa được. Nếu đúng Mai Đình Dũng là tác giả Phủ Tập Quảng Nam Ký sự và là con của Nguyễn Ư Dĩ thì thân thế viên quan trấn thủ Quảng Nam không thua trấn thủ Thuận Hóa. NH không thể lấn quyền trấn thủ Quảng Nam. Thấy sử nói NH đeo ấn Tổng Trấn mà ta có thành kiến NH trực tiếp cai trị Quảng Nam và LVC là người của NH. Quảng Nam có thể trở lại tình trạng bán tự trị như bao đời nay trực thuộc Trung Ương, dưới sự cai trị của cha con Nguyễn Ư Dị. NH chỉ thay mặt thu tô thuế nộp về triều mà thôi. Ở Hoài Nhân có Trần Đức Hòa(tiến cử Đào Duy Từ làm quân sư cho chúa Sãi) là con của phó tướng Quảng Nam tên là Dương Đàn hầu Trần Ngọc Phấn, đều là những nhân vật đáng nể. Năm 1573 Trịnh Tùng dẹp yên các thế lực, lập vua Lê Thế Tông thì việc ông lo an sinh ở biên giới phía Nam phải xảy ra thôi(xem chỗ Thực Lục về chúa Tiên năm 1573). Lúc bấy giờ trục tiếp Trịnh Tùng điều động binh lực như chức danh vua ban là Tiết Chế thủy bộ chư dinh, sai người ở Quảng Nam là LVC đánh Chiêm Thành năm 1578. Sự kiện năm 1578 rõ thêm ra.
Nguyễn Hoàng giai đoạn ở Bắc. Để xác nhận chỗ đứng của NH lúc ở Bắc hãy xem lịch thăng quan tiến chức của tam trụ triều đình: Trịnh Tùng, Hoàng Đình Ái và NH.
Năm 1570, sau khi loại Trịnh Cối, vua Anh Tông(1557-1573) phong Trịnh Tùng làm Tả tướng quân, tước Trưởng quận công tiết chế các dinh thủy bộ cùng Vinh quận công Hoàng Đình Ái đi đánh Mạc, Vua làm Đô Tướng. Đến năm 1571 Tả tướng quân Trịnh Tùng lên làm Thái Úy rồi làm Đô Tướng năm 1573, được Lê Thế Tông(1573-1600) phong làm Đô Nguyên Súy năm 1599.
Hữu tướng quân Hoàng Đình Ái(HĐA) làm Thiếu Úy từ năm 1582. Trong trận đánh Mạc Kính Chỉ măm 1592 HĐA mang tước Thái Úy Vinh quận công, tháng 4/1593 được phong Hữu Tướng Quân Thái Úy Vinh quốc công.
Nguyễn Hoàng  được vua Lê Thế Tông phong làm Thái Phó năm 1573 mãi đến năm 1593 mới được làm Trung Quân Đô Đốc phủ tả đô đốc chương phủ sử thái uý Đoan quốc công. Theo lịch, Nguyễn Hoàng từ Thái Phó Quận Công leo lên rất nhanh thành Thái Úy Quốc Công, đứng ngang hàng với hữu tướng quân Hoàng Đình Ái vào sinh ra tử từ lâu.
Tam Trụ Triều Đinh là: Hữu tướng quân Hoàng Đình Ái, Trung quân Nguyễn Hoàng và Tả tướng quân đô tướng Trịnh Tùng tiết chế các thủy bộ chư dinh, điều binh khắp cả nước. Trong thư Trịnh Tùng trách cậu Nguyễn Hoàng sai Nghĩa Trạch đem vào Nam sau năm 1600 nói rằng đến khi đâu đó dẹp yên rồi cậu mới đủng đinh về kinh, cậu ăn lộc cả 1 phủ Hà Trung và 7 huyện miền trên trấn Sơn Nam. Bề thế như vậy, giai đoạn này NH phải là người của Trung Ương, không còn là quan ở địa phương Thuận Quảng nữa.
Trở lại việc Trịnh Tùng lo bình định biên giới phía Nam lần 2 vào năm 1596-1597. Hai văn bản phát hiện ở nhà thờ họ Lương Phụng Tường nói lên công lao biên phòng to lớn của LVC, xứng đáng đời sau xưng tụng là TIỀN TRẤN BIÊN. Dân và vua đời sau nhớ ơn giữ nước hộ dân mà tôn ông thành thần. Chữ “tiền”ở đây phải hiểu theo nghĩa thời gian để thấy cái cao quí. Ông là quan trấn biên đầu tiên. “Tiên”là để phân biệt với các trấn biên quan sau này như Văn Phong, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Phước Yến(Nguyễn Hữu Vinh còn gọi là Nguyễn Cảnh Vinh là con của Mạc Cảnh Huống, hậu duệ của Mạc Kính Điển. Dòng họ Mạc, họ Nguyễn Ưng Dị, họ Tống Phước Trị góp công với dòng Nguyễn Phúc mở rộng đất đai phía Nam. Danh nhân Nam Hà mang nhiều tên có gốc  gác các họ đó). Trấn biên không cứ phải là Phú Yên. Rõ ràng ĐNNTC đoạn nói về dựng đặt và diên cách tĩnh Bình Định đề cập tới LVC.  Nghĩa là LVC là người Bình Định, 1 trấn biên quan.
Sự kiện xảy ra bây giờ y như lần trước, năm 1573-1578. Sau chiến thắng mùa Xuân 1592-1593 lấy lại kinh đô Thăng Long, Trịnh Tùng bình định được đất Bắc. Năm 1596 Trịnh Tùng phong chức, tước cho LVC, cho làm quan huyện Tuy Viễn rồi sai đi di dân lập ấp đất Nam Cù Mông năm 1597(Xem bản văn ký năm 1596-1597). Ấn đóng trên văn bản năm 1597 thì là ấn Tổng Trấn nhưng bây giờ NH là người của Trung Ương. NH năm 1593 về kinh chẳng lẽ đem hết quân đi mà không để lại quân và tướng lo biên phòng. Phải để ấn lại để người thừa nhiệm điều binh khiển tướng. Các tác giả ngày nay dễ dàng trông vào ấn mà nói LVC là người của NH và được NH sai đi di dân lập ấp. May mà còn 2 bản văn mà con cháu dòng họ Lương Phụng Tường đã lưu giữ được. Ta nên ghi công cho họ. Nếu không có 2 bản văn này, đoạn viết về LVC của ĐNLT-TB và ĐNNTC bị hiểu sai lệch đi. Hai bản văn trên nên được các học giả nghiên cứu để đưa vào chánh sử.
Giai đoạn Nguyễn Hoàng là Chúa Tiên. Nguyễn Hoàng không có ý định Nam Tiến trước năm 1600(xem Nguyễn Hoàng và Công Cuộc Nam Tiến trong bản thảo sách Phú Yên Đất Phương Nam 400 Nam Nhìn Lại của tôi). Năm 1600 NH về Nam, bấy giờ ông mới lo việc lập nghiệp chúa. Lúc này NH mới thực sự trực tiếp cai trị đất Quảng. Đến năm 1602 cho Nguyễn Phúc Nguyên trấn Quảng Nam. Năm 1604 cải tổ cai trị đất Quảng. Cắt huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong nâng lên làm 1 phủ, phủ Điện Bàn. Phủ Thăng Hoa đổi tên thành phủ Thăng Bình. Phủ Tư Nghĩa đổi thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1611 đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên cho Văn Phong làm lưu thủ. Khoảng năm 1620 giáo sĩ Borri còn nói cha vợ sứ thần Zegro(sứ của chúa Sãi phái qua Chân Lạp giao hảo với vua Cheychetta II) có quyền hạn từ Baubon(Quảng Ngãi) tới Nước Mặn(phủ Hoài Nhân cũ sau người Âu gọi là Quinhin). Nhiều tác giả ngày nay nói Văn Phong là người gốc Chiêm Thành. Nếu đúng thì Phú Yên hãy còn ảnh hưởng người Chiêm. Các giáo sĩ nói Zegro là người gốc Chiêm. Trở lại đoạn trên. ĐNNTC nói LVC chiêu tập dân xiêu tán. Trong khi đó Liệt Truyện nói Văn Chính chiêu tập dân xiêm. Nếu sách không in sai "xiêu" thành xiêm thì rõ ràng theo Liệt Truyện thì dân ở Nam Cù Mông tạp chủng mà dân Chiêm hay Chiêm lai rất nhiều! Nhóm lưu dân mới có quyết tâm lập nghiệp riêng, muốn độc lập với xứ Bắc(quân sư Đào Duy Từ tìm đến Hoài Nhân nương nhờ Trần Đức Hòa, chủ trương li khai với miền Bắc). Nhóm người của Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Tống Phước Trị, Trần Đức Hòa ở Hoài Nhân rất đắc lực ủng hộ chúa Sãi. Hàng ngũ quan lại của chúa sau này có rất nhiều người mang họ Tống, họ Nguyễn Hữu(hậu duệ Nguyễn Cảnh Vinh). Nguyễn Phước là họ của chúa. Thêm đoạn văn này để thấy công của LVC đứng đầu sóng ngọn gió buổi ban đầu giữ được biên giới cho nước Đại Việt chống Chiêm Thành, bảo hộ dân như danh hiệu các vua đời sau phong, để làm căn bản sau này chúa Sãi mở mang bờ cõi cho Xứ Đàng Trong(lúc bấy giờ mới có phủ mới là phủ Phú Yên). Mãi năm 1620 ảnh hưởng của Chiêm ở Nước Mặn vẫn còn lớn(Xem ký sự của giáo sĩ Borri).
Quân công lớn hơn công khai phá. Con cháu cứ muốn LVC là người đầu tiên dựng đặt ra đất Phú Yên ngày nay nên dẫn chứng lòng vòng bẻ cong chánh sử theo ý mình để lịch sử của ông ngổn ngang đầy rẫy những tồn nghi, chứa đầy mâu thuẫn. LVC không khai phá đất này dễ dàng.
Chiêm Thành là dân tộc hùng anh, lập quốc trước nước ta gần cả 1000 năm(năm 100 đến 939). Thủ đô Đồ Bàn dựng lên gần đồng thời thủ đô Thăng Long(năm 1000). Họ có chí khí quật cường như sử ta đã ghi. Sau mấy lần mất đất: Mất 2 châu Bố Chánh và Địa Lý thời Lê Đại Hành, mất 3 châu Bố Chánh Địa Lý Ma Linh vào đời Lý Thánh Tông, mất 2 châu Ô Lí đời Trần, mất Đại Chiêm Cổ Lũy đời Hồ họ đều cố gắn đánh đòi lại. Đầu đời Lê bao lần Bí Cái và Trà Toàn xâm lấn Hoá Châu. Một bị an trí ở Thăng Long(Bí Cái), một mạng vong(Trà Toàn). Em Trà Toàn là Trà Toại kiện cáo với nhà Minh bị đánh bắt an trí 30 năm ở cữa Bảo Khánh thành Thăng Long. Trai Á Ma Phất Yêm được Đại Việt dựng lên(sau Đồ Bàn thất thủ). Khi mất em ông là Cổ Lai đi kiện cáo với nhà Minh đòi lại đất. Nhà Lê suy yếu, khoảng năm Cảnh Thống, cỡ đời Lê Uy Mục(1505-1509), con Trà Toại là Trà Phúc trộm hài cốt của cha chạy về quê lo tổ chức kháng chiến(xem bản thảo Đất Phương Nam 400 Năm Nhìn Lại, tác giả HBC). Đến đây, gần 1 thế kỷ Đại Việt bị nội chiến (1509-1593), Chiêm Thành không để yên biên gới đâu.
Biên giới phía Nam giữ vững được là nhờ hồng phúc của nước. Nội chiến không làm mất nước là may lắm đó. Công giữ nước của quan biên thần không nhỏ. LVC đã từng tham chiến nhiều phen như văn bản 1596 và 1597 ghi rõ. Quân công sử sách ghi như vậy, giữ vững biên cương như vậy mà con cháu cứ làm ngơ, đi tìm chuyện đâu đâu, chuyện trồng khoai cấy lúa trên đất như đất không người. Sự dằng co tranh chấp Chiêm-Việt làm đất này hoang tàn chử không phải đất bỏ hoang! Công khai hoang lập ấp không nghĩa lý gì đối với công gìn giữ biên cương, công bảo vệ dân(hộ dân) như 14 sắc vua đời sau phong để tưởng thưởng LVC. Vị trấn biên quan này không thẹn để mất đất của tổ tiên và làm khổ dân.  Dân chúng cùng với vua đời sau, toàn dân Đất Phương Nam trân trọng thương nhớ ông, tôn ông lên bậc thần hoàng. Sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp có nêu những đình miếu Nam Kỳ có thờ thần Tiền Trấn Biên Lương Qúi Phủ.
Việc làm của LVC lúc đầu sử gia coi là nhỏ nên không ghi trong sử sách nên về sau KĐVS và ĐNTL-TB không thực lục được về LVC và cũng bỏ sót việc đánh Chiêm năm 1578. Nhưng những đời sau người ta nghiệm lại mới nhận ra quân công của ông, công của quan biên phòng, công giữ từng tấc đất của tiên tổ. Các sắc luôn luôn gọi ông là TIỀN trấn biên quan để phân biệt các quan trấn biên sau này ở trấn biên Phú Yên và trấn biên Biên Hòa trong quá trình mở đất.
Thần Hoàng Lương Văn Chánh. LVC có quân công nói chung, có công giữ vững BIÊN THÙY nói riêng mà 2 văn bản ký 1596-1597 ghi rõ. Ta không hình dung được công lao quan trọng như thế nào nhưng qua 14 sắc phong (đã tìm được) ta thấy đời sau ngưỡng mộ LVC nhiều lắm, coi ông như thần thánh. Đây là nội dung sắc phong ông khi đã chết, ký năm 1686: “Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh về việc gia phong LINH thần. Xét quan trấn biên ĐỜI TRƯỚC là tham tướng Lương Qúi Phủ, đã giúp nước che dân, trước đây kỳ đảo thường có LINH ƯNG. Hiện tại quang đăng ngôi báu, tự giữ cơ đồ lớn lao, rộng thi thố qui mô chính trị buổi đầu, nên tặng cho thần danh hiệu sáng tỏ, đáng gia phong cho: TIỀN trấn biên quan tham tướng Lương Qúi Phủ, tước vị thần BẢO QUỐC. Chuẩn cho.” Dù có sáo ngữ nhưng bản văn cũng nói lên được vị thế quan trọng trong hàng tôi thần nhà Lê lúc sinh thời và vị trí cao cả trong số các thần linh khi chết. Sắc năm 1693 nói rõ LVC đã từng ban phước cho NƯỚC, ra ơn cho DÂN, cầu đảo có LINH ứng.
Cứ thế mà ta thấy lòng ngưỡng mộ đời sau cứ tăng dần lên. Đến sắc thứ 8(Minh Mang thứ 3 năm 1822), vua nâng từ tước hầu lên tước CÔNG để tỏ lòng biết ơn và kính trọng. Trong các sắc phong ông khi đã chết không nhắc tên tộc Lương Văn Chánh mà là tên Lương QÚI PHỦ. Gỉa thiết đưa ra là vì tục kính nể ngại nói tên tộc nên đời sau đưa ra tên hiệu, tên phong tặng hay là tên thân thuộc của người Nam Hà để tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ. Năm 1689 Nam Hà hoàn toàn biệt lập, biên giới đóng chặt, Nếu con dấu là ấn của vua Lê thì rõ ràng xứ Bắc Hà cũng ngưỡng mộ ông.
Người Nam Hà ngưỡng mộ ông thì khỏi nói, cho ông là Tiền Trấn Biên quan. Sự ngưỡng mộ và kính trọng lan xuống tới Nam Kỳ Lục Lục Tĩnh. Sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp nói  đình Bình Phú và Xuân Sơn Cai Lậy thờ Lương Khê hầu, Qúi Phủ tôn quận công, Lương Qúi Phủ thần; đình Lợi Thành ở Cai Lậy thờ Tiền Trấn Biên dinh Tham tướng Phù Tôn thần; đình Tân Hưng ở Tiền Giang thờ Võ công Lương quận công; đình Phú Lạc ở Bình Chánh thờ Trấn Biên dinh Tham tướng Lương Qúi Phủ Tráng Du Cộng Võ Linh Ứng Thượng Đẳng thần(Minh Mang phong); miếu Hội Đồng ở Vĩnh Long và Định Tường thờ Trấn Biên dinh Tham Tướng Lương Phú quân Thượng Đẳng thần(Minh Mạng phong Tráng Du Cộng Võ linh ứng). Thế sao con cháu họ Lương ở Phú Yên không đến những nơi này tìm tài liệu mà phải ra tới Thanh Hóa.   
Miếu thờ. Miếu thờ ở Phụng Tường không biết xây dựng vào năm nào. Hài cốt của ông không biết an tán ở đâu mà nay tự dưng miếu thờ biến thành lăng có mộ đàng hoàng. Từ sắc phong thần ký năm 1689 đến sắc ký năm 1767 có nội dung viết tương tự. Sắc phong ký năm 1822 đời Minh Mạng có đoạn viết “chuẩn cho xã Phụng Các huyện Đồng Xuân thờ cúng thần”. Có phải tới năm này mới có việc lập miếu thờ LVC ở Phụng Các?  Trước kia miếu thờ LVC ở đâu? Có miếu thờ hay chỉ  có danh sách các thần kèm các sắc chỉ lưu giữ ở triều đình mà thôi.  Sắc ký năm 1843 đời Thiệu Trị ghi “cho xã Phụng Tường huyện Tuy Hòa thờ cúng thần như cũ.” Tới bây giờ mới thấy địa danh “Tuy Hòa” xuất hiện. Các sắc đời sau đó cũng ghi tương tự. Như vậy miếu được lưu tồn từ Minh Mạng cho đến  đời Duy Tân. Miếu có nhiều tồn nghi như vậy mà nay miếu cũ không được bảo tồn, phá bỏ đi để kiến thiết khu di tích theo kiểu đô thị, kiến thiết làm mất 1 di chỉ khảo cổ quan trọng(căn cứ miếu cũ nhà khảo cổ có thể biết miếu được xây vào năm nào).
Mười hai sắc phong thần thoát ra tính chất linh thiêng của viên quan Tiền Trấn Biên đời vua Lê. Tôi thần nhà Lê biến thành thần hoàng giúp nước hộ dân khi đã chết(kỳ đảo thường có linh ứng). Có lẽ khi gặp khó khăn cả chính quyền cũng cầu đảo vị thần này để được sự giúp đỡ. Có cảm giác thần linh thoát ra từ các sắc phong thần, từ việc thờ phượng và từ vị trí miếu thờ LVC. Điều này phù hợp với truyền khẩu dân gian tự bao nhiêu đời. Người dân địa phương này trước kia tin ông chết trận. Nhiều câu chuyện truyền khẩu nói LVC đánh Chiêm như thế này, như thế nọ, kể LVC có tài ba mưu mẹo và linh thiêng. Không biết nội dung đó là do quí mến ông, biết ơn ông, ghi công khó khăn chống chọi với Chiêm Thành để giữ vững biên cương, bảo vệ họ hay do có linh ứng mà thần thánh hóa LVC. Thật hư như thế nào hãy còn khảo cổ và thu thêm sử liệu. Ở đây tôi muốn nói bảo tồn, giữ gìn di tích cổ, di tích của 1 vị quan xuất hiện ngay từ thời khai sơn phá thạch là cái gì rất quí cho địa phương này. Tôn tạo phải dựa sát sử sách và truyền thuyết dân gian để giữ được hình ảnh đã được lưu truyền. Tính chất linh thiêng mà các sắc phong để lộ, ăn khớp với địa hình lập miếu. Không biết do LVC sống ở đây, chết ở đây nên lập miếu ở đây hay địa hình này phù hợp lập miếu thờ LVC. Tôi chỉ biết địa hình nơi này đáng lập miếu LVC.
Cho đến thời ấu thơ của tôi(1945-1950) nơi đây còn cây cao bóng cả thoát ra không khí linh thiêng. Nó ở trên tuyến đường nghi là dẫn đến thành Hồ đi từ phương Bắc(tuyến LVC thường hành quân tảo thanh Chiêm Thành chăng? Mời xem Dòng Sông Đã Chết Số 2). Đó là tuyến dọc theo 1 dòng nước phát nguyên từ thành Hồ chảy dọc theo kinh số 3 của hệ kinh mương Bắc của thủy nông Đồng Cam(kinh chảy theo đường đỉnh, nước chảy theo đường đáy). Đường đáy này được bồi lấp thành ruộng rộc, còn lại chỗ hãy còn sâu(bầu Dừa ở cuối 2 xóm dài). Nơi đây có miếu Đại Bình mà năm 1950 hãy còn cây cao bóng cả, rải rác có những khối đá lộ thiêng như rừng trên núi cao ngày nay vậy. Mạn Nam miếu LVC thuộc thôn Cẩm Sơn có 1 đoạn rừng rú hoang vu vào thập niên 1950. Bên tả ngạn có miếu lầu của thôn Nho Lâm bên cạnh gò Quit cây cao bóng cả, không khí đầy ma quái, người ta 1 mình không dám đi qua giữa ban ngày. Bên hữu ngạn là vườn Làng. Đó là khu rừng tre rậm rạp. Khoảng năm 1952-1953 cọp đi lạc về đây ẩn nấp. Bộ độ Cụ Hồ vất vả 1 tuần mới hạ được nó. Hai bên tả hữu ruộng rộc này thập niên 1950 hãy còn ngổn ngang di tích của “Hời”: mả hời, gạch Hời, mảnh vụn ché chum bát đĩa Hời, vườn ao của Hời. Công nhân đào đất đắp kênh phát hiện nhiều di vật mà hồi đó không ai màng bảo lưu khảo cổ cả. Tuyến đường này có 1 đoạn còn in rõ trên bản đồ đăng trong tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ (BAVH) số 4 năm 1929, tuyến từ Cheo Reo băng qua thành Hô rồi men kênh số 3(xem ảnh trên đây). Tôi viết đoạn này để cung cấp thông tin giúp nghiệm lại vị trí linh thiêng và sự liên can đến sự tích giữ nước của thần mà lập miếu hơn là vì ông sống ở đây rồi chết ở đây mà lập miếu. Câu chuyện truyền khẩu cũng phù họp. Lương Văn Chánh đánh Chiêm Thành bị chém đầu nhưng vẫn còn linh thiêng. Ngựa vẫn dong ruổi, đến nơi nay gọi là miếu Thần Đầu(Thờ Đầu) thì dừng lại. Sách LVC Thân Thế và Sự Nghiệp có in ảnh miếu này. Mỗi một giọt máu rơi là nơi dân lập 1 cái am thờ LVC. Câu chuyện nói lên tài ba của viên tướng hay nói lên cái linh thiêng của vị thần hay vì cảm mến công ơn mà đặt ra câu chuyện.
Từ nhận xét trên đây tôi đưa ra ý nên tôn tạo một khu sinh thái rừng rú thâm nghiêm, phản phất sự linh thiêng như các sắc phong mô tả. Khu khai thác bán buôn phục vụ du lịch nên xây riêng ra.
Kết luận sau cùng. Công trình Kỷ Niệm 400 Năm ngày thành lập tĩnh to lớn hoành tráng cuối cùng rồi cũng đi qua. Cái còn lại là những kiến thiết cụ thể về vật chất mà dân được hưởng. Về tinh thần là cái gì làm sáng tỏ thêm ra những di tích lịch sử cũ nói chung, làm sáng tỏ thân thế của vị khai sơn phá thạch LVC nói riêng ra. Khách tham quan sẽ đến đây tìm hiểu lịch sử tĩnh nhà sẽ được hiểu rõ lịch sử Phú Yên hơn ra để bù vào cái đã học đã nghiên cứu trong sách sử. Riêng về chỗ giới thiệu công thần LVC cái quí nhất là trưng ra bộ 14 sắc phong đã được gìn giữ, nay được phiên âm dịch nghĩa công bố cho dân chúng xem. Trong đó 2 bản văn ký năm 1596-1597 các học giả nên nghiên cứu để đưa vào chánh sử. Nhờ đó mà đoạn viết về LVC trong ĐNLT-TB và ĐNNTC được sáng ra, chấm dứt những ngộ nhận, hiểu sai lạc nhân vật lịch sử LVC. Nên tôn vinh con cháu dòng họ Lương Phụng Tường có công bảo quản bộ sắc phong đó nói chung và 2 văn bản 1596-1597 nói riêng. Cổ vật đó trở nên quí giá tầm cỡ quốc gia. Nó góp vào việc làm sáng tỏ những gì viết trong chánh sử chưa rõ.
Đây là các móc thời gian phù hợp với chính sử: Năm 1558 theo NH vào Nam. Năm 1578 LVC tiến đánh Hồ thành(Liệt Truyện). Việc này phù hợp năm 1573 Trịnh Tùng củng cố được địa vị sau khi giữ vững chiến tuyến lũy Yên Trường ở phía Bắc, loại địch thủ Trịnh Cối, Lê Cập Đệ, tôn hoàng tử Đảm làm vua hiệu Thế Tông(1573-1600). Bây giờ Trịnh Tùng mới rảnh tay lo việc đánh dẹp biên giới phía Nam. Năm 1596-1597 lần thứ 2 Trịnh Tùng sai LVC đánh dẹp biên giới phía Nam. Việc này phù hợp với chánh sử. Sau mùa Xuân năm 1592-1593 lấy được Đông Đô, bình định xong đất Bắc, năm 1596 Trịnh Tùng ban thưởng chức tước cho biên thần LVC, cho làm quan huyện Tuy Viễn. Năm 1597 sai di dân lập ấp các xứ Nam đèo Cù Mông. Năm 1611 NH sai chủ sự Văn Phong đi đánh lấy được đất Nam đèo Cù Mông bèn đặt làm một phủ(Thực     Lục và VNSL của Trần Trọng Kim).
Móc 1578 phù hợp với tài liệu ngày nay nói Năm 1579 người Khmer vượt Trường Sơn đánh Po Ất(dòng vua Nam Bàn), chiếm Thành Hồ của Po Ất, lên làm vua hiệu là Po Klong Halau.  Đây là vị vua mạnh, qua đời năm 1603. Con là Po Nit lên thay tiếp tục đánh phá phủ Hoài Nhơn(bài viết của Nguyễn Văn Huy). Nếu tài liệu này đúng thì con cháu chúng ta phải tung hô vạn tuế LVC, người có công giữ vững biên cương phía Nam trước đối thủ mạnh là Po Klong Halau. Không biết LVC chết lúc nào nhưng rõ ràng chánh sử ghi ông tham gia 2 trận đánh Chiêm Thành. Chiêm Thành lấy lại xứ Nam đèo Cù Mông. Năm 1611 Văn Phong phải đánh lấy lại. LVC xứng đáng TIỀN TRẤN BIÊN QUAN trong công cuộc giữ vững biên giới(An Biên trấn, không phải hoàn toàn đất Phú Yên ngày nay. Có lẽ phần đất huyện Đồng Xuân thuộc huyện Tuy Viễn), sánh được với quan biên trấn sau này xuất phát từ Phú Yên là một phủ trọn ven(gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa), tiến xuống phía Nam mở rộng đất đai. Phủ Phú Yên là cái nôi thực hiện 2 cuộc Nam Tiến song song đồng thời lấn đất Chân Lạp và lấy phần còn lại của Chiêm Thành. Phú Yên là tĩnh nhỏ “nghèo nàn” đủ thứ nhưng được “trời ban” cho vị trí rất đặc biệt trong sách sử.
Mùa lễ hội kỷ niệm Phú Yên 400 Năm
HBC.








0 nhận xét:

Đăng nhận xét