Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

La Dieu Bong-Cau Chuyen Tinh

Có một câu chuyện tình thật ở BắcGiang.
Cậu bé Bùi Tằng Việt(thi si HoàngCầm) 10 tuổi(sinh năm 1921) yêu cô gái ở cái tuổi tròn trăng đang cập kê tuổi xuất giá, đáng chị của mình đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Hoàng Cầm kể. Một chiều thứ 7 cậu học trò(Bùi Tằng Việt) trên tĩnh về thấy một cô gái cúi xuống hàng xén của mẹ mình tìm mua cái gì đó. Trong trang phục áo phin trắng, khoát chiếc áo gile’ sẫm. Nắng xiên khoai dọi vào nhà. Lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng. Cậu học trò choáng váng cả người. Khuôn mặt đó làm cho cậu ngẩn ngơ suốt một buổi chiều.  Chị ở bên kia đường hơi xế cữa hàng của mẹ một tí xíu. Tên chị là Vinh. Trở về tĩnh lị BăcGiang cậu học trò làm bài thơ lục bát giử chị. HoàngCầm không nhớ bài thơ viết nói gì, chỉ nhớ là nắn nót viết dòng chữ “Em giửi chi Vinh của em.”Thư trao tận tay. Chị mỉm cười hơi bí mật rồi bỏ vào túi, không nói gì. Chị không nhắc đến nó và ông cũng không hỏi lại. Hoàng Cầm kể từ đó hễ ngày nghỉ học, chị đi đâu thì ông theo đó. Tình yêu chỉ có thế mà yêu đeo đẳng năm này đến năm khác. Ông không biết làm sao để tỏ mối tình. Lên 12 tuổi trong những lần theo chị tập ca hát với đám trẻ, cậu thường chen đứng cạnh chị. Có khi đứng trước chị, đầu vừa đúng ngang tầm ngực chị. Có khi chị ôm lấy vai cậu. Cậu hơi ngả đầu vào người chị. Chị khe khẻ vuốt cổ, xoa lên vai. Cậu có một cảm giác là lạ. Đó là những giờ phút say sưa nhất của cậu. Những đêm mùa tiết trời se se lạnh, đứng dưới gốc cây trên bãi cỏ nhận thấy hơi ấm người chị truyền sang. Hình như chị cũng cảm thấy sự ham muốn của cậu. Cậu là cậu bé khôi ngô tuấn tú lại có học. Được chị ôm vào lòng nhưng cậu chưa bao giờ dám chủ động ôm chị. Hôm Noel chị bỏ cữa hàng đi ra đồng. Cậu vội đi theo. Chị rẽ xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ ruộng. Cậu nhảy xuống theo. Không biết chị có nhìn thấy hay không. Chợt ngửng đầu lên chị hỏi “Sao mày cứ theo tao lẳng nhẳng như thế này nhỉ?” Cậu sung sướng không trả lời. Chị bước lên cái gò nhỏ có nhiều bụi cây. Cậu hỏi chị tìm cái gì?- “Tìm cái lá...”Đứa nào tìm được ta gọi làm chồng.”(không nói là cái lá gì). Trích dài dòng như vậy để hiểu nội dung bài thơ Lá Diêu Bông mà HC sáng tác vào năm 1959, năm có vụ Nhân Văn Giai Phẩm làm ý nghĩa bài thơ có khác đi, khác ý một câu chuyện tình như tác giả kể. Năm đó, năm 1959 hai mươi lăm năm sau câu chuyện tình, tác giả nói bài thơ được gợi cảm hứng từ giọng đàn bà khỏang 3g sáng đêm khuya thanh vắng lanh lảnh đọc câu thơ “Váy Đình Bảng buông chùng cữa võng...”Ký ức tuổi thơ của nhà thơ hiện dần, hiện dần hình ảnh người chị gái một thời ông yêu đắm đuối. Tác giả ghi lại thành bài thơ “Lá Diêu Bông”: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng/Chị thẩn thơ đi tìm/Đồng chiều/Cuống rạ/Chị bảo/Đứa nào tìm được lá diêu bông/Từ nay ta (pham duy phỏ nhạc: tao gọi) gọi là chồng/Hai ngày em tìm thấy lá/Chị chau mày/Đâu phải lá diêu bông/Mùa đông sau em tìm thấy Lá/Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông/Ngày cưới chị/Em tìm thấy lá/Chị cười xe chỉ ấm trôn kim/Chị ba con/Em tìm thấy lá/Xoè tay phủ mặt chị không nhìn/Từ thuở ấy/Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bề/Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời.../ ...ới diêu bông...!
Phạm Duy phổ nhạc năm 1985 giữ toàn bộ lời bài thơ, chỉ thêm 2 câu cuối: “Em đi trăm núi nghìn sông! Nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ.
Tính chất mối tình như thế nào thì để các bạn nhận thức và bình luận. Đến đây tôi đề cập câu chuyện tình được đặt để vào khung cảnh bài thơ được sáng tác 25 năm sau: Khung cảnh thời Nhân Văn Giai Phẩm. Câu chuyện tình có còn là chuyện tình trai gái yêu nhau đắm đuối nữa hay là không?
Năm 1959 bài thơ Lá Diêu Bông được sáng tác nhưng chưa in. Bài thơ lọt ra ngoài. Một trang web viết nói người ta suy diễn bài thơ có ẩn ý. Hoàng Cầm ám chỉ Đảng là Chị, văn nghệ si là Em. Bài thơ trở nên kiểu thơ có hai nghĩa như thơ của Hồ Xuân Hương. Nghĩa thứ 2 không còn là câu chuyện tình như tác giả kể trên đây. Nó trở thành câu chuyện thời sự. Bài thơ Lá Diêu Bông bị coi là có “vấn đề”, bị cấm in và lưu hành. Tác giả phải làm tờ kiểm điểm, bị tù 18 tháng, bị đuổi ra khỏi hội nhà văn. Tính chất trử tình trước đây không còn nữa. Tác giả lấy câu chuyện tình nồng nàn ướt át thời tuổi còn thơ để mà tâm sự chuyện hiện tại. Câu chuyện không phải câu chuyện tình chút nào. Liệu nghĩ như thế có đúng hay là không. Thử phân tích. Cách dùng từ trong bài thơ chứng minh điều đó. Thơ trử tình(Lyric)? Trử tình cái nỗi gì khi tác giả dùng từ trịch thượng, từ áp đặt ra lịnh của kẻ bề trên truyền lịnh xuống  bên dưới như “đứa nào”và xưng “ta” hay “tao”đối với người yêu tin mình? Đứa nào tìm được lá diêu bông/Từ nay ta (pham duy phỏ nhạc: tao gọi) gọi là chồng.”Chuyện tình lãng mạn tuổi tác không thành vấn đề. Hai người có thể cách xa nhau nhiều tuổi. Chuyện tình vẫn xảy ra. Yêu thương chân tình vẫn xảy ra. Câu chuyện chị và em trai cách nhau mười tuổi yêu nhau vẫn có thể là câu chuyện tình. Tình của họ có thể đắm đuối ướt át và lâu bền như câu chuyện tình cùng trang lứa, có thể trở nên đậm đà ấn tượng thành câu chuyện tình sử nữa chứ. Nhưng ở đây, hoàng cảnh năm 1959 bài thơ Lá Diêu Bông như thế không phải là bài thơ mô tả câu chuyện tình 25 năm trước như tác giả kể câu chuyện tình nói ở trên. Chuyện tình Việt&Vinh đã khép lại trong ký ức của tác giả HoàngCầm(HC). Chuyện tình khép lại xảy ra 7 năm sau câu chuyện tình Viêt&Vinh hồi Việt lên mười tuổi. HC kể năm ông 17 tuổi(7 năm sau) thi đỗ TúTài, sống ở HàNội, viết lách nên cũng có tiền. Hình dung thì chải chuốt. Áo quần thì bảnh bao của kẻ ở chốn thị thành. HC viết: “Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ phớt.”Trong khi ấy Vinh bị người chồng, ông Quản khổ xanh(QKX), trước đây lấy làm vợ lẻ sinh được một con rồi bỏ rơi chị và mẹ. Ông QKX đưa cả nhà về PhủLý rồi ruồng bỏ Vinh. Vinh và mẹ đến sống ở SenHồ HàNội.  Năm ấy, năm Việt 17 tuổi, HC đến SenHồ ăn tiệc cưới tình cờ gặp lại Vinh. HC viết: “chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra...Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai.”Rõ ràng cảm hứng để viết bài thơ Lá Diêu Bông năm 1959 không phải là do câu chuyện tình hồi tác giả lên 10 tuổi mà gợi cảm bỡi câu chuyện nhân vật nữ trong câu chuyện tình 25 năm về trước thách đố nhân vật nam tìm được cái không có trên thế gian này thì chị ta mới nhận cho làm chồng. Hồi đó nhân vật nam cứ tin đó là lời nói thật. Cứ đi tìm và tìm. So với tình huống xã hội hiện tại sao mà giống quá! Kẻ bề trên cứ bới bới, tìm tìm kiểu như chị Vinh cái không có trên thế gian này để hứa kẻ bề dưới nếu tìm được thì cho “làm chồng.” Cứ tìm hoài và cứ bị lắc đầu là cái không phải. Bài thơ Lá Diêu Bông ra đời và mang hai ý nghia. Ý câu chuyện tình của tác giả thời tuổi lên mười và câu chuyện thời sự thời tác giả ở cái tuổi 25 năm sau(1959).
Câu chuyện tình Lá Diêu Bông hay “Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng”(SENVLC). Câu chuyện được Trần Tiến phổ nhạc năm 1990 gần đồng thời với Phạm Duy phổ nhạc thơ Lá Diêu Bông của HC năm 1985. Cùng gợi cảm từ một câu chuyện. Câu chuyện nhân vật nam khổ công đi tìm lá Diêu Bông để chứng minh lòng mình yêu cô gái trước thử thách của nhân vật nữ. Nhân vật nam mong thỏa yêu sách của nàng thì sẽ lấy được nàng nhưng không lấy được vì nàng vội lấy chồng trong khi nhân vật nam trên kia không lấy được nàng vì lá Diêu Bông là thứ gì không có thật trên đời này. Bỡi vậy SENVLC có tính trử tình(lyric) rất nhiều từ âm điệu đến ca từ và có cái tên thứ 2 đáng yêu. Hãy theo dõi ca từ của ca khúc:
Khổ đầu với 3 câu thơ tác giả giới thiệu câu chuyện tình:  Lời ru buồn/nghe mênh mang/Mênh mang sau lũy tre làng/Khiến lòng tôi xôn xao.”
Nghe lời ru buồn sau lũy tre làng bất giác tác giả nghĩ đến mái ấm gia đình, nơi đó có vợ chồng con cái sum họp. Cảnh này làm lòng chàng xốn xang. Chàng buồn cho câu chuyện tình của mình dở dang.
Ba câu khổ thứ 2: “Ngày lấy chồng em đi qua con đê/Con đê mòn lối cỏ về/Có chú bướm vàng bay theo em.”Tiếp theo tác giả mô tả chốn xưa cảnh cũ ong bướm đã từng tỏ đường đi lối về. Chàng theo đuổi nàng đã mòn đường chết cỏ! Cho tới lúc nàng bước  sang thuyền ai bướm vàng vẫn còn đuổi riết theo em.
Khổ thứ 3: “Bướm vàng đã đậu cây mu u rồi/Lấy chồng sớm làm gi/Để lời ru thêm buồn”Tác giả mô tả câu chuyện tình tiếp. “Đinh đã đóng cột,”nhân vật nam khẳng định. Bướm vàng đã chọn cây mù u để đậu rồi, đã chọn nơi này làm quê tình ái để xây lầu yêu đương rồi. Cớ gì em sang sông, đến đậu thuyền ai? Nhân vật nam trách “lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn.”Lời ru bây giờ phát ra từ tổ ấm nào đó tác gia nghe thấy thêm buồn. Lấy chồng sớm làm gì để bây giờ nghe lời ru thấy thêm buồn!
Khổ thứ 4: “Ru em thời thiếu nữ xa rồi/Còn đâu bao đêm tranh thanh/Tát gàu sòng vui bên anh.”Nhân vật nam nhắc lại hình ảnh cũ thời niên thiếu thân thương tình tứ. Hai người gắn bó nhau, vui buồn có nhau.
Khổ thứ 5: “Ru em thời con gái kiêu sa/Em đố ai tìm được lá diêu bông/Em xin lấy làm chồng.”Nhân vật nam nhắc lại giai đoạn theo đuổi con nhà đài cát khó khăn. “Hồng nào hồng chẳng có gai.”Nàng đã đưa ra thử thách cho chàng.
Khổ thứ 6: “Ru em thời thiếu nữ xa xôi/ Mình tôi lang thang muôn nơi/Đi tìm lá cho em tôi.”Thử thách nào chàng cũng vượt qua để lấy cho được nàng. Nhân vật nam nhắc cảnh khi yêu thì mấy sông cũng lội, ngàn đèo cũng qua. Nguyện một lòng sắt son như “tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời/Dù cho mây bay cho bão tố có kéo qua đây/Dù có gió, có gió lạnh đầy, có tuyết bùn lầy/Có lá buồn gầy, dù sao, dù sao đi nữa tôi vẫn yêu em-Niệm Khúc Cuối.”
Khổ thứ 7: “Ru em thời con gái hay quên/Thương em tôi tìm được lá Diêu Bông/Sao em nỡ vội lấy chồng.”Mất nàng chàng không oán trách mà có lời tha thứ. “Thời con gái hay quên”mà! Chàng chỉ đặt lời trách nhẹ nhàng “sao nỡ lấy chồng!
Trong đoạn kết lời hát lập lại thứ 2, tác giả viết lập lại 3 lần“DiêuBông hỡi DiêuBông/Sao em nỡ vội lấy chồng.” Lập lại 3 lần để diên tả nỗi tiếc. Tiếc nuối, chàng gọi theo nàng một cách nhẹ nhàng nhưng thắm thía lưu luyến. Gọi theo như tiếng quốc kêu não lòng “Tu hoa, quốc quốc quốc!”
Cùng một tiêu đề “Lá Diêu Bông”, cùng gợi cảm bỡi câu chuyện nhân vật nữ đưa ra thách thức nhân vật nam để được lấy nàng làm vợ, nhưng thể hiện tình cảm ở 2 ca khúc của Trần Tiến và Phạm Duy khác nhau. Một bên nhẹ nhàng và có hậu. Bên kia không có hậu và có sự oán hờn. Tuy gần như đồng thời nhưng môi trường sáng tác khác nhau. Phạm Duy ở hải ngoại cảm xúc vụ Nhân Văn Giai Phẩm nên hiểu ý nghĩa thứ 2  thơ Lá Diêu Bông cùa HoàngCầm hơn Trần Tiến ở trong nước, thuộc thế hệ trẻ hơn, hiểu. Chàng trong ca khúc của TrầnTiến không lấy được nàng chỉ vì một rủi ro nàng “vội lấy chồng.”Bây giờ nghe câu hát ru dưới mái ấm nhà ai sau lũy tre làng mà lòng chàng nghe thấy mang mác câu chuyện tình. Bài hát nhận được giải thưởng của Đoàn Thanh Niên CSHCM năm 1990 về sáng tác cổ động phong tào DânSô KêHoạchHoa GiaĐinh. Bài hát truyền cảm ý thức “Có chồng sớm làm gì”chăng?
Trái lại ca khúc La Diêu Bông của PhạmDuy(PD) ca từ hằn học hơn nhiều. PD bỏ mấy câu mô tả cảnh chị bới bới, móc móc tìm cái gì ở cánh đồng gốc rạ, sắp xếp các từ còn lại của bài thơ thành ca khúc. PD lập đi lập lại nhiều lần câu thách đố “Đứa nào tìm được lá diêu bông/Từ nay ta se gọi là chồng/Tao se gọi là chồng đứa nào tìm được lá diêu bông.” Lập đi lập lại để thấy tính hằn học và ấm ức thấy ở cả 2 bên. Sau mỗi lần lập đi lập lại câu thách đố, PD mô tả lời phủ nhận của nhân vật nữ càng ngày càng thấy sự nhẫn tâm vô cảm trước cảnh nhân vật nam một lòng yêu thương chị và cố đáp ứng đòi hỏi của chị. Từ cái chau mày nói đâu phải lá diêu bông, đến cái lắc đầu thờ ơ nhìn nắng vãn bên sông. Lúc này cảnh thật là buồn. Ngày cưới chị, em tìm được lá. Chị cười hẩy bảo xe chỉ thì ấm trôn kim. Không biết thành ngữ gì đây. Về hình ảnh thì thấy đau lòng, thương cho nhân vật nam. Chị có chồng thì ấm trôn chị mà thôi. Xe chỉ, xe duyên cốt tổ tốt cho chị mà thôi. Mãi đến lúc chị 3 con chàng vẫn đi tìm cho được lá. Chị che mặt, không thèm nhìn. Từ đó chàng như chàng mật trí đi khắp đó đây cầm chiếc lá gọi diêu bông hời, hỡi diêu bông. PD chua thêm em đi trăm núi nghìn sông. Nào tìm được lá diêu bông bao giờ.  Ongbatampy. Vào Youtube xem videoclip minh họa bài hát:

Vào Trang Van Hoc xem các bài viết khác.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét