![]() |
| Có một câu chuyện tình thật ở BắcGiang.
Cậu bé
Bùi Tằng Việt(thi si HoàngCầm) 10 tuổi(sinh năm 1921) yêu cô gái ở cái tuổi
tròn trăng đang cập kê tuổi xuất giá, đáng chị của mình đẹp nghiêng nước
nghiêng thành. Hoàng Cầm kể. Một chiều thứ 7 cậu học trò(Bùi Tằng Việt) trên tĩnh
về thấy một cô gái cúi xuống hàng xén của mẹ mình tìm mua cái gì đó. Trong
trang phục áo phin trắng, khoát chiếc áo gile’ sẫm. Nắng xiên khoai dọi vào
nhà. Lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng. Cậu
học trò choáng váng cả người. Khuôn mặt đó làm cho cậu ngẩn ngơ suốt một buổi
chiều. Chị ở bên kia đường hơi xế cữa
hàng của mẹ một tí xíu. Tên chị là Vinh. Trở về tĩnh lị BăcGiang cậu học trò
làm bài thơ lục bát giử chị. HoàngCầm không nhớ bài thơ viết nói gì, chỉ nhớ là
nắn nót viết dòng chữ “Em giửi chi Vinh của
em.”Thư trao tận tay. Chị mỉm cười hơi bí mật rồi bỏ vào túi, không nói gì.
Chị không nhắc đến nó và ông cũng không hỏi lại. Hoàng Cầm kể từ đó hễ ngày nghỉ
học, chị đi đâu thì ông theo đó. Tình yêu chỉ có thế mà yêu đeo đẳng năm này đến
năm khác. Ông không biết làm sao để tỏ mối tình. Lên 12 tuổi trong những lần
theo chị tập ca hát với đám trẻ, cậu thường chen đứng cạnh chị. Có khi đứng trước
chị, đầu vừa đúng ngang tầm ngực chị. Có khi chị ôm lấy vai cậu. Cậu hơi ngả đầu
vào người chị. Chị khe khẻ vuốt cổ, xoa lên vai. Cậu có một cảm giác là lạ. Đó
là những giờ phút say sưa nhất của cậu. Những đêm mùa tiết trời se se lạnh, đứng
dưới gốc cây trên bãi cỏ nhận thấy hơi ấm người chị truyền sang. Hình như chị
cũng cảm thấy sự ham muốn của cậu. Cậu là cậu bé khôi ngô tuấn tú lại có học.
Được chị ôm vào lòng nhưng cậu chưa bao giờ dám chủ động ôm chị. Hôm Noel chị bỏ
cữa hàng đi ra đồng. Cậu vội đi theo. Chị rẽ xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ
ruộng. Cậu nhảy xuống theo. Không biết chị có nhìn thấy hay không. Chợt ngửng đầu
lên chị hỏi “Sao mày cứ theo tao lẳng nhẳng
như thế này nhỉ?” Cậu sung sướng không trả lời. Chị bước lên cái gò nhỏ có
nhiều bụi cây. Cậu hỏi chị tìm cái gì?- “Tìm
cái lá...” “Đứa nào tìm được ta gọi
làm chồng.”(không nói là cái lá gì). Trích dài dòng như vậy để hiểu nội
dung bài thơ Lá Diêu Bông mà HC sáng tác vào năm 1959, năm có vụ Nhân Văn Giai
Phẩm làm ý nghĩa bài thơ có khác đi, khác ý một câu chuyện tình như tác giả kể.
Năm đó, năm 1959 hai mươi lăm năm sau câu chuyện tình, tác giả nói bài thơ được
gợi cảm hứng từ giọng đàn bà khỏang 3g sáng đêm khuya thanh vắng lanh lảnh đọc
câu thơ “Váy Đình Bảng buông chùng cữa võng...”Ký
ức tuổi thơ của nhà thơ hiện dần, hiện dần hình ảnh người chị gái một thời ông
yêu đắm đuối. Tác giả ghi lại thành bài thơ “Lá Diêu Bông”: “Váy Đình Bảng
buông chùng cửa võng/Chị thẩn thơ đi tìm/Đồng chiều/Cuống rạ/Chị bảo/Đứa nào
tìm được lá diêu bông/Từ nay ta (pham duy phỏ nhạc: tao gọi) gọi là chồng/Hai ngày em
tìm thấy lá/Chị chau mày/Đâu phải lá diêu bông/Mùa đông sau em tìm thấy Lá/Chị
lắc đầu trông nắng vãn bên sông/Ngày cưới chị/Em tìm thấy lá/Chị cười xe
chỉ ấm trôn kim/Chị ba con/Em tìm thấy lá/Xoè tay phủ mặt chị không nhìn/Từ thuở
ấy/Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bề/Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời.../ ...ới diêu bông...! Phạm Duy phổ nhạc năm 1985 giữ toàn bộ lời bài thơ, chỉ thêm 2 câu cuối: “Em đi trăm núi nghìn sông! Nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ.”
Tính chất
mối tình như thế nào thì để các bạn nhận thức và bình luận. Đến đây tôi đề cập
câu chuyện tình được đặt để vào khung cảnh bài thơ được sáng tác 25 năm sau:
Khung cảnh thời Nhân Văn Giai Phẩm. Câu chuyện tình có còn là chuyện tình trai
gái yêu nhau đắm đuối nữa hay là không?
Năm 1959 bài thơ Lá Diêu Bông được sáng tác nhưng chưa
in. Bài thơ lọt ra ngoài. Một trang
web viết nói người ta suy diễn bài thơ có ẩn ý. Hoàng Cầm ám chỉ Đảng là Chị,
văn nghệ si là Em. Bài thơ trở nên kiểu thơ có hai nghĩa như thơ của Hồ Xuân
Hương. Nghĩa thứ 2 không còn là câu chuyện tình như tác giả kể trên đây. Nó trở
thành câu chuyện thời sự. Bài thơ Lá Diêu Bông bị coi là có “vấn đề”, bị cấm in
và lưu hành. Tác giả phải làm tờ kiểm điểm, bị tù 18 tháng, bị đuổi ra khỏi hội
nhà văn. Tính chất trử tình trước đây không còn nữa. Tác giả lấy câu chuyện
tình nồng nàn ướt át thời tuổi còn thơ để mà tâm sự chuyện hiện tại. Câu chuyện
không phải câu chuyện tình chút nào. Liệu nghĩ như thế có đúng hay là không. Thử
phân tích. Cách dùng từ trong bài thơ chứng minh điều đó. Thơ trử tình(Lyric)? Trử
tình cái nỗi gì khi tác giả dùng từ trịch thượng, từ áp đặt ra lịnh của kẻ bề
trên truyền lịnh xuống bên dưới như “đứa nào”và xưng “ta” hay “tao”đối với
người yêu tin mình? “Đứa nào tìm được lá diêu bông/Từ nay
ta
(pham duy phỏ nhạc: tao gọi) gọi là chồng.”Chuyện tình lãng mạn tuổi
tác không thành vấn đề. Hai người có thể cách xa nhau nhiều tuổi. Chuyện tình vẫn
xảy ra. Yêu thương chân tình vẫn xảy ra. Câu chuyện chị và em trai cách nhau mười
tuổi yêu nhau vẫn có thể là câu chuyện tình. Tình của họ có thể đắm đuối ướt át
và lâu bền như câu chuyện tình cùng trang lứa, có thể trở nên đậm đà ấn tượng
thành câu chuyện tình sử nữa chứ. Nhưng ở đây, hoàng cảnh năm 1959 bài thơ Lá
Diêu Bông như thế không phải là bài thơ mô tả câu chuyện tình 25 năm trước như
tác giả kể câu chuyện tình nói ở trên. Chuyện tình Việt&Vinh đã khép lại
trong ký ức của tác giả HoàngCầm(HC). Chuyện tình khép lại xảy ra 7 năm sau câu
chuyện tình Viêt&Vinh hồi Việt lên mười tuổi. HC kể năm ông 17 tuổi(7 năm
sau) thi đỗ TúTài, sống ở HàNội, viết lách nên cũng có tiền. Hình dung thì chải
chuốt. Áo quần thì bảnh bao của kẻ ở chốn thị thành. HC viết: “Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ
phớt.”Trong khi ấy Vinh bị người chồng, ông Quản khổ xanh(QKX), trước đây lấy
làm vợ lẻ sinh được một con rồi bỏ rơi chị và mẹ. Ông QKX đưa cả nhà về PhủLý rồi
ruồng bỏ Vinh. Vinh và mẹ đến sống ở SenHồ HàNội. Năm ấy, năm Việt 17 tuổi, HC đến SenHồ ăn tiệc
cưới tình cờ gặp lại Vinh. HC viết: “chị
kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ
tay chị ra...Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say
mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc
đã tàn phai.”Rõ ràng cảm hứng để viết bài thơ Lá Diêu Bông năm 1959 không
phải là do câu chuyện tình hồi tác giả lên 10 tuổi mà gợi cảm bỡi câu chuyện
nhân vật nữ trong câu chuyện tình 25 năm về trước thách đố nhân vật nam tìm được
cái không có trên thế gian này thì chị ta mới nhận cho làm chồng. Hồi đó nhân vật
nam cứ tin đó là lời nói thật. Cứ đi tìm và tìm. So với tình huống xã hội hiện
tại sao mà giống quá! Kẻ bề trên cứ bới
bới, tìm tìm kiểu như chị Vinh cái không có trên thế gian này để hứa kẻ bề dưới
nếu tìm được thì cho “làm chồng.” Cứ tìm hoài và cứ bị lắc đầu là cái không phải.
Bài thơ Lá Diêu Bông ra đời và mang hai ý nghia. Ý câu chuyện tình của tác giả
thời tuổi lên mười và câu chuyện thời sự thời tác giả ở cái tuổi 25 năm sau(1959).
Câu chuyện tình Lá Diêu Bông hay “Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng”(SENVLC). Câu chuyện được Trần Tiến phổ nhạc năm 1990 gần đồng
thời với Phạm Duy phổ nhạc thơ Lá Diêu Bông của HC năm 1985. Cùng gợi cảm từ một
câu chuyện. Câu chuyện nhân vật nam khổ công đi tìm lá Diêu Bông để chứng minh
lòng mình yêu cô gái trước thử thách của nhân vật nữ. Nhân vật nam mong thỏa
yêu sách của nàng thì sẽ lấy được nàng nhưng không lấy được vì nàng vội lấy chồng
trong khi nhân vật nam trên kia không lấy được nàng vì lá Diêu Bông là thứ gì
không có thật trên đời này. Bỡi vậy SENVLC có tính trử tình(lyric) rất nhiều từ
âm điệu đến ca từ và có cái tên thứ 2 đáng yêu. Hãy theo dõi ca từ của ca khúc:
Khổ đầu với
3 câu thơ tác giả giới thiệu câu chuyện tình: “Lời ru
buồn/nghe mênh mang/Mênh mang sau lũy tre làng/Khiến lòng tôi xôn xao.”
Nghe lời
ru buồn sau lũy tre làng bất giác tác giả nghĩ đến mái ấm gia đình, nơi đó có vợ
chồng con cái sum họp. Cảnh này làm lòng chàng xốn xang. Chàng buồn cho câu
chuyện tình của mình dở dang.
Ba câu khổ
thứ 2: “Ngày lấy chồng em đi qua con
đê/Con đê mòn lối cỏ về/Có chú bướm vàng bay theo em.”Tiếp theo tác giả mô
tả chốn xưa cảnh cũ ong bướm đã từng tỏ đường đi lối về. Chàng theo đuổi nàng
đã mòn đường chết cỏ! Cho tới lúc nàng bước
sang thuyền ai bướm vàng vẫn còn đuổi riết theo em.
Khổ thứ
3: “Bướm vàng đã đậu cây mu u rồi/Lấy chồng
sớm làm gi/Để lời ru thêm buồn”Tác giả mô tả câu chuyện tình tiếp. “Đinh đã đóng cột,”nhân vật nam khẳng định.
Bướm vàng đã chọn cây mù u để đậu rồi, đã chọn nơi này làm quê tình ái để xây lầu
yêu đương rồi. Cớ gì em sang sông, đến
đậu thuyền ai? Nhân vật nam trách “lấy chồng
sớm làm gì để lời ru thêm buồn.”Lời ru bây giờ phát ra từ tổ ấm nào đó tác
gia nghe thấy thêm buồn. Lấy chồng sớm làm gì để bây giờ nghe lời ru thấy thêm
buồn!
Khổ thứ
4: “Ru em thời thiếu nữ xa rồi/Còn đâu
bao đêm tranh thanh/Tát gàu sòng vui bên anh.”Nhân vật nam nhắc lại hình ảnh
cũ thời niên thiếu thân thương tình tứ. Hai người gắn bó nhau, vui buồn có
nhau.
Khổ thứ
5: “Ru em thời con gái kiêu sa/Em đố ai
tìm được lá diêu bông/Em xin lấy làm chồng.”Nhân vật nam nhắc lại giai đoạn
theo đuổi con nhà đài cát khó khăn. “Hồng
nào hồng chẳng có gai.”Nàng đã đưa ra thử thách cho chàng.
Khổ thứ
6: “Ru em thời thiếu nữ xa xôi/ Mình tôi
lang thang muôn nơi/Đi tìm lá cho em tôi.”Thử thách nào chàng cũng vượt qua
để lấy cho được nàng. Nhân vật nam nhắc cảnh khi yêu thì mấy sông cũng lội,
ngàn đèo cũng qua. Nguyện một lòng sắt son như “tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời/Dù cho mây bay cho bão tố có kéo qua
đây/Dù có gió, có gió lạnh đầy, có tuyết bùn lầy/Có lá buồn gầy, dù sao, dù sao
đi nữa tôi vẫn yêu em-Niệm Khúc Cuối.”
Khổ thứ
7: “Ru em thời con gái hay quên/Thương em
tôi tìm được lá Diêu Bông/Sao em nỡ vội lấy chồng.”Mất nàng chàng không oán
trách mà có lời tha thứ. “Thời con gái
hay quên”mà! Chàng chỉ đặt lời trách nhẹ nhàng “sao nỡ lấy chồng!”
Trong đoạn
kết lời hát lập lại thứ 2, tác giả viết lập lại 3 lần“DiêuBông hỡi DiêuBông/Sao em nỡ vội lấy chồng.” Lập lại 3 lần để diên tả nỗi tiếc. Tiếc nuối, chàng gọi
theo nàng một cách nhẹ nhàng nhưng thắm thía lưu luyến. Gọi theo như tiếng quốc
kêu não lòng “Tu hoa, quốc quốc quốc!”
Cùng một
tiêu đề “Lá Diêu Bông”, cùng gợi cảm bỡi câu chuyện nhân vật nữ đưa ra thách thức
nhân vật nam để được lấy nàng làm vợ, nhưng thể hiện tình cảm ở 2 ca khúc của
Trần Tiến và Phạm Duy khác nhau. Một bên nhẹ nhàng và có hậu. Bên kia không có
hậu và có sự oán hờn. Tuy gần như đồng thời nhưng môi trường sáng tác khác
nhau. Phạm Duy ở hải ngoại cảm xúc vụ Nhân Văn Giai Phẩm nên hiểu ý nghĩa thứ
2 thơ Lá Diêu Bông cùa HoàngCầm hơn Trần
Tiến ở trong nước, thuộc thế hệ trẻ hơn, hiểu. Chàng trong ca khúc của TrầnTiến
không lấy được nàng chỉ vì một rủi ro nàng “vội
lấy chồng.”Bây giờ nghe câu hát ru dưới mái ấm nhà ai sau lũy tre làng mà
lòng chàng nghe thấy mang mác câu chuyện tình. Bài hát nhận được giải thưởng của
Đoàn Thanh Niên CSHCM năm 1990 về sáng tác cổ động phong tào DânSô KêHoạchHoa
GiaĐinh. Bài hát truyền cảm ý thức “Có chồng
sớm làm gì”chăng?
Trái lại
ca khúc La Diêu Bông của PhạmDuy(PD) ca từ hằn học hơn nhiều. PD bỏ mấy câu mô
tả cảnh chị bới bới, móc móc tìm cái gì ở cánh đồng gốc rạ, sắp xếp các từ còn
lại của bài thơ thành ca khúc. PD lập đi lập lại nhiều lần câu thách đố “Đứa nào tìm được lá diêu bông/Từ nay ta se gọi
là chồng/Tao se gọi là chồng đứa nào tìm được lá diêu bông.” Lập đi lập lại
để thấy tính hằn học và ấm ức thấy ở cả 2 bên. Sau mỗi lần lập đi lập lại câu
thách đố, PD mô tả lời phủ nhận của nhân vật nữ càng ngày càng thấy sự nhẫn tâm
vô cảm trước cảnh nhân vật nam một lòng yêu thương chị và cố đáp ứng đòi hỏi của
chị. Từ cái chau mày nói đâu phải lá diêu bông, đến cái lắc đầu thờ ơ nhìn nắng
vãn bên sông. Lúc này cảnh thật là buồn. Ngày cưới chị, em tìm được lá. Chị cười
hẩy bảo xe chỉ thì ấm trôn kim. Không biết thành ngữ gì đây. Về hình ảnh thì thấy
đau lòng, thương cho nhân vật nam. Chị có chồng thì ấm trôn chị mà thôi. Xe chỉ,
xe duyên cốt tổ tốt cho chị mà thôi. Mãi đến lúc chị 3 con chàng vẫn đi tìm cho
được lá. Chị che mặt, không thèm nhìn. Từ đó chàng như chàng mật trí đi khắp đó
đây cầm chiếc lá gọi diêu bông hời, hỡi diêu bông. PD chua thêm em đi trăm núi
nghìn sông. Nào tìm được lá diêu bông bao giờ. Ongbatampy. Vào Youtube xem videoclip minh họa bài hát:
Vào Trang Van Hoc xem các bài viết khác.
|







0 nhận xét:
Đăng nhận xét