Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

Đắc Lắc-Thượng Đạo Phú Yên


Tựa đề như thế

để nói lên Phú Yên là cửa ngỏ của DacLac hay của cả Tây Nguyên. Từ Phú Yên lên Tây Nguyên, người ta có thể sang Lào, Chân Lạp và xuống tận Gia Định(xem bài viết ChuVanTiếp-ThượngĐạo PhúYên).

THEO DÒNG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI. Năm 1831, đời Minh Mạng, nước Việt Nam gồm 31 tĩnh trông na ná như các phủ trong 13 thừa tuyên thời vua Lê và chúa Nguyễn trên bảng đồ HồngĐức : LạngSơn/BắcNinh/TháiNguyên/CaoBằng/TuyênQuang/HưngHóa/SơnTây/QuảngYên/HảiDương/HàNội/HưngYên/NamĐịnh/NinhBình/ThanhHóa/NghệAn/HàTĩnh/QuảngBình/QuảngTrị/ThừaThiên/QuảngNam/QuảngNgãi/BìnhĐịnh(PhúYên/KhánhHòa/BìnhThuận/BiênHòa/GiaĐịnh/ĐịnhTường/VĩnhLong/AngGiang/HàTiên thời chúa Nguyễn). Vua Minh Mạng chia nước thành tĩnh theo cách nhà Thanh bên Tàu. Tĩnh chia ra phủ, huyện, châu. Như vậy phủ chỉ to bằng huyện, nhỏ hơn phủ trong 13 thừa tuyên đời Lê Thánh Tông ví dụ như phủ Thăng Hoa, Hoài Nhân, và phủ Tư nghĩa ở thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ, 9 huyện. Năm 1834-1838 xuất hiện bảng đồ ĐạiNamNhâtThống ToànĐồ. Nhìn bảng đồ này ta có cảm tưởng phía Tây Nam Trung Bộ của nước gồm cả đất TâyNguyên ngày nay vì có hình ảnh con sông MeKong được vẽ lên sát cạnh các tĩnh duyên hải NamTrung Bộ. Trở về đoạn lịch sử thì người ta biết thời Minh Mạng nước ta có cả trấn TâyThành. Việc người Việt biết rõ sông MêKong là điều cầm chắc nhưng phần đất bên tả ngạn sông này không biết người Việt đặt chân tới đâu mà thôi.
Rồi người Pháp đến xâm chiếm, khai phá và bảo hộ Đông Dương theo các hiệp ước đã ký kết với các chính quyền người bản xứ hay với lân bang của họ như ký hiệp ước với triều nhà Thanh bên Tàu về biên giới phía Bắc. Đất Tây Nguyên bây giờ rõ ràng xuất hiện trên bảng đồ Đông Dương và những đơn vị hành chánh ở đó xuất hiện trên các văn bản. Năm 1953, người Pháp rút về nước, chính thức trao trả đất đai lại cho người bản xứ thì biên giới phía Bắc tồn tại nguyên trạng cho tới ngày gần đây và Tây Nguyên cùng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về người ViệtNam. Đất nước của ông cha(vua Lê Thánh Tông) để lại không một chút sứt mẻ dù một tấc đất mà có khi còn to lớn thêm ra(đời chúa và vua Nguyễn).
Cuối thế kỷ 19, người Pháp thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương. Ông Yersin từng lê gót khắp xứ này. Năm 1891 lần đầu tiên ông đặt chân lên cao nguyên Djiring(DiLinh). Năm 1892 Yerin làm một hành trình khám phá từ Ninh Hòa đến DacLac gặp tù trưởng M’Siao rồi đến Stung Treng bên bờ sông MêKong. Năm 1893 ông lên đây một lần nữa. Năm 1893 với 7 tháng trong Xứ Thượng ông khám phá ra cao nguyên LangBiang và rảo một vòng toàn bộ cao nguyên ở phía Nam Rặng Đại Lãnh. Năm 1894 Yersin lên cao nguyên LangBiang kiểm tra lại dữ liệu đã ghi chép. Tới Dankia, ông vượt Rặng Đại Lãnh, đến ĐăcLac, KonTum, Attopeu(NamLào), về ĐàNẵng rồi sang HongKong phám phá ra vi trùng dịch hạch. 
Bước tiếp theo vào cuối thế kỷ 19, người Pháp lập đại lý hành chánh KonTum, trong đó có địa phận DacLac. Pháp sát nhập Đại Lý Hành Chánh KonTum vào Lào. Một chút nói về địa hình. Chỗ gần 3 biên giới Thái-Lào-Miên(stung Treng), từ sông MeKong phát ra 2 con sông. Tong Le Kong chạy lên ĐôngBắc, vào cao nguyên Attopeu. Ton Le San chạy sang Đông rồi chia 2 nhánh. Ton Le San tiếp tục lên ĐôngBăc, vào cao nguyên KonTum, băng qua thị xã KonTum(đoạn này gọi là sông Sesan). Nhánh Ton Le Srepok chạy xuống phía ĐôngNam, tới BanDon rồi vào CaoNguyên LangBiang(bảng đồ Jm Henthorn). Có một thời người Lào ngược dòng Srepok đến định cư ở BanDon. Địa hình và duyên nợ như thế nên có một thời DacLac(DL) được người Pháp sát nhập vào Lào(cao nguyên Attopeu).  
Ngày 22-11-1909, DL tách ra khỏi Lào. Toàn quyền Đông Dương đặt DL dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ. Ngày 9-2-1913 tĩnh KonTum được thành lập. DL trở thành đại lý hành chánh trực thuộc tĩnh KonTum. Ngày 2-7-1923, tĩnh DL được tái thành lập lại. Lúc đó chỉ có đơn vị là làng(buôn), chưa chia huyện và tổng. Trong lần cải cách hành chánh toàn ĐôngDương năm 1831, DL có 5 quận: BanMêThuộc, BuônHồ, DakSong, Lak(LạcThiện) và M’Rak. Ngày 15-4-1950 Pháp trao trả 5 tĩnh của Xứ Thượng Nam Đông Dương(ĐồngNai Thượng, LangBiang, DacLac, PleiKu, KonTum) cho vua Bảo Đại làm Hoàng Triều Cương Thổ(HTCT). Ngày 10-8-1954 sát nhập HTCT vào Trung Phần VNCH. Ngày 2-7-1958 tĩnh DL có 5 quận như liệt kê ở trên với 21 tổng, 77 xã. Ngày 23-1-1959 tách gần toàn bộ DakSong lập ra tĩnh Quảng Đức, còn lại 4 quận, bỏ cấp tổng. Rồi M’Drak bị xé một phần sát nhập vào tĩnh KhánhHòa. Ngày 20-12-1963 thêm quận mới là Phước An.
Hồi còn nhỏ, thời ở với Việt Minh tôi được dạy “Gia Long cõng rắng cắn gà nhà” và được dạy ca ngợi người anh hùng áo vải Quang Trung chống ngoại xâm, được dạy ghét và chống Tây một cách triệt để với bất cứ giá nào. Lớn lên, tôi được đọc nhiều sử liệu khách quan thời VNCH và ngày nay nhìn lại cái giá phải trả chống Tây một cách cực đoan, viết đoạn này cứ mà tủi tủi cho non sông đất nước bỏ lỡ cơ hội chống Tây một cách ôn hòa và sáng suốt như Phan Châu Trinh để cho quốc gia không những không bị sứt mẻ biên cương mà còn tự cường để được vẻ vang như lân bang Thái Lan, Singapore và Hàn Quốc.
TRỞ VỀ ĐOẠN LỊCH SỬ XA HƠN, THỜI NƯỚC NAM BÀN-THỦY XÁ HỎA XÁ. Tháng Giêng năm 1471 vua Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành, ngày 27 phá thành ĐồBàn(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT)). Khâm Định Việt Sử(KĐVS) nhà Nguyễn viết rõ chuyện này hơn. “Thành Hòa thứ7(1471)…hạ được thành Đồ Bàn, bắt được Trà Toàn. Bồ Trì Trì chạy vào PhanRang chiếm 2/5(ĐVSKTT nói 1/5) đất Chiêm Thành. Lê Thánh Tôn phong vương cho Bồ Trì Trì và phong 2 tước vương nữa cho nước Hoa Anh và cho dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương.”Phần ghi chú viết: “Từ phủ Hoài Nhân theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy, tức là nước Thủy Xá Hỏa Xá bây giờ. Nước Hoa Anh về sau mòn mõi suy yếu.” Nam Bàn là đâu, Hoa Anh ở đâu, hậu sinh mù tịt. Từ đấy nhiều sử liệu cứ ghi biên giới phía Nam Đại Việt là núi Thạch Bi thành quán tính, không biết Thạch Bi là núi Đá Bia hay núi MẹBồng Con(chư Mư).
Trở về đoạn lịch sử bi ai đầy máu xương, nước mắt của chủng tộc Chiêm Thành và lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của nhà Lê sau trận hạ thành Đồ Bàn(Vijaya).
Trước hết nói về dòng vua NamBàn của nước Chiêm Thành. Chuyện gần 5 thế kỷ trước(982-1471), vua Lê Đại Hành chém Bi Mi Thuê tại trận, bắt sống quân sĩ nhiều vô kể, cùng kỵ nữ trong cung 100 người, thu vàng bạc của báu kể hàng vạn, san bằng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về(ĐVSKTT, đoạn viết việc năm 982).  Năm 983 sai người con nuôi bắt Quảng Giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại Chiêm Thành đem đi chém(ĐVSKTT). Hồ Văn Châm nói vua lưu quảng giáp Lưu Kế Tông(LKT) ở lại làm vua nước Chiêm Thành. Indravarman IV trốn vào Nam. Năm 986 Indravarman IV chết. LKT tự lập làm vua. Năm 988, người Chiêm Thành nổi dậy chiếm miền Vijaya(Đồ Bàn) tôn người nổi dậy lên ngôi vua hiệu là Ku Xri(Sri?) Harivarman II, sử ta gọi là Băng Vương La Duệ. Lưu Kế Tông lo buồn, sinh bệnh chết(tập họp nhiều tác giả trên mạng). Năm 988 Băng Vương La Duệ ở Phật Thành tự đặt hiệu là Câu Thi Lị Ha Thân Bài Ma La(ĐVSKTT). Sri Harivarman II, gọi là Băng Vương La Duệ lên ngôi năm 988, lấy Phật Thành làm kinh đô(wikipedia). Kinh đô Đồ Bàn được dựng lên đồng thời với kinh đô Thăng Long của ta. Từ đấy sử gia gọi nước Chiêm Thành với kinh đô ở Đồ Bàn thay vì gọi là nước Hoàn Vương khi kinh đô còn ở Đồng Dương. Vận mệnh nước Chiêm Thành từ đó nổi trôi, thịnh suy từ triều vương(TV) thứ 7. Khi thì họ đóng đô ở phía Nam ở Đồ Bàn hay ngay cả ở PhanRang(Panduranga), khi trở về kinh đô Đồng Dương như nước Hoàn Vương hay nước Lâm Ấp trước đó. Sử gia đời xưa lầm lẫn Thành Phật Thệ(TPT). Khi thì mô tả TPT ở Huế(thành Khu Túc), khi thì mô tả nó như là kinh đô Đồng Dương ở Quảng Nam, khi thì mô tả như là thành Đồ Bàn. Chiêm Thành là dân tộc sùng đạo Phật. Kinh đô của họ lúc nào cũng có nơi thờ Phật nguy nga ở bên cạnh. Do đó mà có danh từ thành Phật Thệ chăng? Ngày nay các trang mạng liệt các triều vương Chiêm Thành từ năm 991 đến năm 1044 là triều vương(TV) thứ7. TV8(1044-1074), TV9(1074-1139), TV10(1139-1145), TV11(1145-1318), TV12(1318-1390), TV13(1390-1458), TV14(1458-1471). Triều vương thứ 13 có các vua truyền từ vua La Ngải, Ba Địch Lai, Maha Vijaya còn gọi là Maha BiCa(Bí Cái), Maha Qui Lai, Maha Qui Do thần phục Đại Việt. Sau cái chết tại trận tiền của Chế Bồng Nga, La Ngải dẫn quân lui về Nam lập ra triều vương thứ 13. Triều Lê cho vua triều đại này là chánh thống và  là vua Nam Bàn. TV thứ 14 gồm Trà Duyệt, Trà Toàn, Trà Toại là triều của người dân thường ở Thị Nại nổi lên chiếm ngôi TV 13 và chống lại Đại Việt. Triều Lê xem triều này không chính thống. Chiếu thư của vua Lê Thánh Tông đánh ChiêmThành có đoạn “Người Chiêm Thành ở Thị Nại, bàn La Trà Duyệt là con người vú nuôi, giết chúa hắn là Bí Điền, mà cướp lấy nước rồi truyền cho em là trà Toàn. Trà Toàn là đứa hung bạo, làm càn…dối thần ngược dân…ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, lăng nhục sứ thần…quấy nhiễu biên giới…lừa gạt người Minh để xin viện trợ”(ĐVSKTT viết việc tháng 11-1470). Sau trận hạ thành Đồ Bàn, vua Lê phong “dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn Quốc Vương, chia đất từ núi Thạch Bi về phía Tây”(KĐVS). Dòng vua Nam Bàn là dòng vua thuộc TV13. Minh Thực Lục cho biết hậu duệ của Trà Toàn, Trà Toại và hậu duệ của vua Nam Bàn kiện cáo một cách quyết liệt với nhà Minh vụ Đại Việt hạ thành Đồ Bàn rồi chiếm đóng đất của họ. Đất Nam đèo Cù Mông bất an triền miên. Việc đánh bắt Trà Toại, ĐVSKTT viết vắn tắt: “tháng 11, ngày mồng 8 năm 1471, đánh Chiêm Thành bắt chúa là Trà Toại.” Triều Lê giấu nhẹm việc ở biên giới phía Nam(BGPN) làm cho hậu sinh mù tịt đoạn sử kế tiếp ở BGPN. Các sử liệu sau này, thời vua Nguyễn, nói rõ thêm ra.
SỬ LIỆU NHÀ NGUYỄN: KĐVS, Chính Biên quyển 22 viết việc đánh bắt Trà Toại rõ hơn. Sách viết “Trà Toàn đã bị bắt, em hắn là Bàn La Trà Toại trốn vào trong núi, sai sứ đem việc hoạn nạn của nước bá cáo nhà Minh và xin nhà Minh phong vương cho, thống lĩnh 3 vạn quân đi đánh, bắt Trà Toại và bộ lạc đem về kinh sư.”Đánh với 3 vạn quân là đánh lớn đấy. Đoạn sử liệu này phù họp với Việt Sử Thông Giám Cương Mục Khảo Lược của Nguyễn Thông: “Thành Hòa thứ 7(1471) Annam đánh Chiêm Thành. Em nước ấy cho sứ sang TQ cáo nạn. Thành Hòa thứ 8(1472) sai sứ cầm cờ tiết sang phong cho em vua. Sứ giả đến cảng Tân Châu, người giữ cữa biển kháng cự, sứ giả biết nước đã bị chiếm cứ, đổi gọi là châu Nam Giao.
Phần cẩn án, KĐVS dẫn Minh Sử trong truyện Annam viết “Năm 1471 Lê vương đánh phá Chiêm Thành, bắt chúa là Bàn La Trà Toàn. Hơn 3 năm sau đánh bắt em là Trà Toại rồi đổi nước ấy làm Nam Châu, đặt quân đóng đồn thú… Theo truyện Chiêm Thành thì  sách ấy nói năm 1474, Annam sai đánh bắt Trà Toại rồi lập cháu của vua nước ấy là Trai A Phất Am làm vua phong cho đất phía Nam nước ấy.
Trong Đại Việt Thông Sử, Lê Qúi Đôn nói việc Lê Chí đánh Chiêm Thành xông lên phá giặc, bắt được Trà Toại, được phong tước Bình Lương bá. Năm 1487 được phong tước Bình Lương hầu. Rõ ràng có trận đánh Chiêm lần 2 mà ĐVSK viết vắn tắt để lờ đi. Bang giao bộ 3 Lê Thánh Tông-Minh-Chiêm Thành có cái tế nhị như ban giao bộ 3 Lý Thánh Tông-Tống-Chiêm mà Lê Qúi Đôn mô tả rất kỹ trong sách Lý Thường Kiệt. Bang giao bộ 3 Lê Đại Hành-Tống-Chiêm cũng tế nhị như thế. Triều hậu Lê giấu việc xảy ra ở biên giới phía Nam, không ghi vào sử sách. Số phận hậu duệ của vua Nam Bàn(Trai A Ma Phất Yêm) sách ĐVSK cũng lờ đi. KĐVS thì nói rõ hơn.
KĐVS, Chính Biên quyển 24, viết việc năm 1488, dẫn Minh Sử mục truyện Chiêm Thành viết nói không bao lâu Trai A Ma Phất Yêm mất, năm 1481 em ông là Cổ   Lai sang nhà Minh kêu ca đòi kế vị và đòi đất Annam đã chiếm, năm 1484, vua Minh sai Lý Mạnh Dương, Diệp Ứng đem sắc thư phong Cổ Lai. Sứ Minh bàn vì Đề Bà Đài vụng trộm chiếm đất đai và vì Chiêm Thành ở xa xôi hẻo lánh, nên sợ phong vương không thành sẽ mấy uy danh nên bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc và ra lệnh Annam ăn năn hối lỗi. Vua Minh nghe lời. Cổ Lai lại đòi đích thân đến triều Minh giải bày. Năm 1487 đình thần lại bàn sai đại thần đến an ủi Cổ Lai và ra dụ khuyên Annam đón Cổ Lai về nước. Vua Minh sai Đồ Dung sang Quảng Đông, đưa hịch sang Annam, rồi mộ 2.000 quân khỏe đi 20 chiếc thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về nước. Sách không nói vào nước ở chỗ nào.
SỬ LIỆU LẤY Ở SÁCH MINH THỰC LỤC(MTL). MTL ra đời sau này(hiện nay ở thư viện Hải Phú Phú Yên có phiên bản chữ quốc ngữ). Trong đó bang giao bộ 3 nhà Lê-nhà Minh-triều Trà Toại hay nhà Lê-nhà Minh-triều vua NamBàn được thực luc rõ ràng. Việc ở biên giới phía Nam Đại Việt trở nên rõ ra. Ta có thể nhận ra nước Nam Bàn ở đâu. Nước Hoa Anh là gì. (Phần in chữ nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục đề ngày 21/5TH8(Thành Hòa8), tức ngày 27-6-1472 đăng lời sứ Lạc Sa của Chiêm Thành cấp báo Annam đánh CT có đoạn “Vào tháng 2 TH7 quan Annam đến đánh phá kinh thành, bắt được quốc vương Bàn La Trà Toàn cùng gia thuộc…nay em của vương là Bàn La Trà Duyệt tạm thời coi việc nước, cúi xin phân xử.” Đoạn dẫn Minh Sử trên đây của KĐVS nói Minh Sử gọi lầm. Bàn La Trà Duyệt là Trà Toại. Như vậy triều Trà Toàn còn tiếp tục tồn tại và thông sứ với nhà Minh. Minh Thực Lục(MTL) viết tiếp nói thượng thư bộ binh tâu lên vua Minh nói năm TH7 Annam  tâu nói rằng Chiêm Thành vượt biên xâm lăng, cần ngăn cản sự tàn ngược. MTL  viết tiếp nói bộ binh tâu rằng Lê Hạo(Lê Thánh Tông) có âm mưu chiếm Chiêm Thành(CT), Annam mấy lần đánh phá CT, bắt vua nước này nên không có cách xử trí thì mất lòng qui phụ của CT, dung dưỡng kẻ ngang ngạnh, nên sai quan sắc dụ bắt phải trả lại ấn tín, quốc vương cùng gia quyến. Thực lục đăng: “bắt phải sai quan đi, đợi sứ thần Annam đến sẽ trao sắc dụ.
Thực lục ngày 22/6 TH8(27-7-1472) viết nói phong cho Bàn La Trà Duyệt, em cố quốc vương Bàn La Trà Toàn kế lập chức quốc vương Chiêm Thành. Thực lục viết nói Bàn La Trà Toàn bị An Nam bắt, ấn tín bị lấy mất. Nay em là Bàn La Trà Duyệt tạm thời trông coi việc nước tâu xin phong tước, cấp ấn tín. Bộ Lễ tâu xin theo lệ sai quan đến phong thế tử Ma Ha Bi Cai(nhà Minh lầm triều Trà Toàn với triều trước) để làm vẻ vang cho lời xin. Được chấp nhận, Hữu cấp sự trung khoa Công Trần Lăng, hành nhân Lý Sang thuộc ty Hành Nhân đến phong. Sách MTL không nói lần này sứ thần có vào được nước Chiêm Thành hay là không.
Thực lục ngày 5/9 TH8(6-10-1472) viết nói sứ thần Lại Sa Lộng Chiêm Thành đến cống. Việc sứ Chiêm đến đáp lễ chứng tỏ sứ nhà Minh đã đến phong.
Thực lục ngày 6/9 TH8(7-10-1472) viết nói Bồi thần Bùi Viết Lương An Nam đến cống. Sứ Annam đến cống có thể là đến biện bạch việc đánh Chiêm chăng?
Thực lục ngày 13/9TH8(14-10-1472) viết nói sắc dụ Lê Hạo chớ xâm vượt lãnh thổ Chiêm Thành. Hạo sai Nguyễn Đức Trinh dâng thư tự trình bày nói Chiêm Thành xâm lấn Hóa Châu. Gởi binh tiếp viện. Chiêm Thành làm phản nên bị thua. Thực lục viết tiếp nói Hoàng Thượng sai Đức Trinh mang sắc dụ Lê Hạo đem về Annam. Dụ nói là Chiêm Thành tâu tháng 2 TH7 Hạo đánh phá bắt quốc vương thân thuộc hơn 50 người, cướp ấn, đốt nhà cữa, giết người già trẻ em không kể xiết. Hoàng Đế cho rằng lời riêng không tin được. Nay nhân được tâu, lời ý đều khác. Dụ có đoạn: “nhưng nước  vương với Chiêm Thành thế lực lớn nhỏ không cần phải biện thuyết. Nếu bọn họ gây hấn trước, thì thật không biết độ đức lượng sức nên gây ra sự bất nghĩa; nếu vương vin vào việc họ quấy phá nhỏ, rồi giận lên hiếp kẻ yếu gây hấn lớn thì hợp với dạo nghĩa ư! Khi sắc đến  vương nên bỏ qua những mất mát nhỏ tăng điều đại nghĩa, trả lại những người bị bắt, răn đe quan lại nơi biên giới đừng sinh sự lập công, hưng binh gây oán hoặc chyên việc báo thù gây nên sự đau buồn, ngỏ hầu trời soi sáng, vĩnh viễn hưởng danh thơm. Khâm thử!” Việc rất rõ ràng: Sứ Chiêm đến tố giác, sứ Việt đến biện minh, triều minh ra dụ phán quyết bảo sứ Việt mang về trao lại cho vua Lê và răn bảo như trên.
Thực lục ngày 14/12TH10(21-1-1475) viết: “Hữu cấp sự trung khoa Công Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại thứ đã mang đi như… Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu Chiêm Thành, quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành đổi tên thành châu Nam Giao. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân nên giả lấy cớ bị gió bão ghé vào rồi đi tiếp đến Mãn Lạt Gia buôn bán, lại dụ vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành , cùng việc quốc vương Mãn Lạt Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ.” Ghi chú số 1997 của ĐVSK bảng điện tử nói Lạt Gia là Mãn Lạt Gia, tức Malacca. Thực lục viết tiếp nói việc được đưa xuống cơ quan hữu trách. Bộ Lễ tâu nói nên đợi sứ Mãn Lạt Gia nhập cống. Bộ Binh tâu nói An Nam cậy mạnh thôn tính nước được triều đình phong tước. Việc quan hệ không nhỏ. Nên bàn luận rộng rãi. Bọn Anh Quốc Công Trương Mậu tâu hài tội thảo phạt, nhưng có lời bàn nói nay chưa biết được nguyên do Chiêm Thành diệt vong, không nên kinh động. Chờ năm sau vào kỳ An Nam vào triều cống.
Đoạn thực lục phù họp với Minh sử viết về truyện Annam và truyện Chiêm Thành mà lời cẩn án của KĐVS trích dẫn trên kia ở đoạn viết việc năm 1471: Trong truyện Annam Minh sử viết:“…Hơn 3 năm sau đánh bắt em là Trà Toại rồi đổi nước ấy làm Nam Châu, đặt quân đóng đồn thú.”Trong truyện Chiêm Thành Minh sử viết: “Theo truyện Chiêm Thành thì  sách ấy nói năm 1474, Annam sai đánh bắt Trà Toại rồi lập cháu của vua nước ấy là Trai A Phất Am làm vua phong cho đất phía Nam nước ấy.” Thời điểm 1474 ghi tromg sách Minh sử phù họp với thời điểm ghi trong MTL: 1-1475.  

Sự việc bây giờ mới sáng rõ ra. Việc đánh bắt Trà Toại xảy ra 3 năm sau năm hạ thành Đồ Bàn. Đến đây, năm 1474, triều vương thứ 14(Trà Duyệt-TràToàn-TràToại) mới chấm dứt. Hậu duệ triều vương thứ 13(Trai A Ma Phất Am) mới được Đại Việt phong lên thay và cho trấn giữ đất ở phía Tây núi Thạch Bi như KĐVS nói trên đây. “Nam châu”(KĐVS dẫn Minh sử) hay “châu Nam Giao”(theo Nguyễn Thông viết trên đây và theo lời sứ thần Tần Tuấn) chắc là đất mới ở ĐồBàn. Đất Đại Chiêm-Cổ Lũy là đất cũ thời Hồ Hán Thương nay lấy lại được.
SAU TRẬN HẠ THÀNH ĐỒ BÀN, TRÀ TOẠI Ở ĐÂU? Câu trả lời là ở ĐồBàn và tiếp tục thông sứ với nhà Minh. Các sách sử đều nói là em Trà Toàn trốn trong núi đem việc trong nước hoạn nạn bá cáo nhà Minh nhưng không nói rõ là núi nào. Ở đây sứ Trần Tuấn nói núi đó có tên là Linh Sơn. Có trang mạng nói Linh Sơn ở dãy núi Đèo Cả. Điều đó không chắc. Thực lục ngày 21-1-1475, MTL  nói về chuyện sứ thần Trần Công Tuấn đến cảng Tân Châu bị chận không vào được có đoạn: “Người thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn”. Thực lục ngày 18-10-1481 có đoạn sứ của Cổ Lai tâu: “Em vương là Bàn La Trà Duyệt trốn chạy đến Phật Linh Sơn.” Vậy Linh Sơn ở đâu?
Tra sách Hồng Đức Bản Đồ thấy ở phần bản đồ của Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư có địa danh “Phật Tĩnh”, “Phật Tĩnh Sơn” ở gần thành ĐồBàn. Ở Giáp Ngọ Bình Nam Đồ(GNBNĐ), Phật Tĩnh Sơn được vẽ to ra; trên đó ghi chú 7 chữ “tự” chỉ 7 ngôi chùa và 1 cái gì gọi là “Thạch Tĩnh.” Phật Tĩnh Sơn là trung tâm tôn giáo linh thiêng ở bên cạnh kinh đô Đồ Bàn giống như thánh địa Mỹ Sơn ở cạnh kinh đô Đồng Dương ở Quảng Nam. Gỉa thuyết đưa ra là  “Phật Tĩnh Sơn” trước kia là Linh Sơn,  Phật Linh Sơn. Sau khi thành bị phá, tàn quân của em vua tụ về đây lánh nạn rồi đưa sứ giả đến bá cáo triều Minh. Điều này có thể tin được vì trong trận hạ thành em vua là Thị Nại và 6 viên đại thần đem 5.000 quân và voi ngầm đến sát dinh vua Lê Thánh Tông. Khi rút lui, tàn quân Chiêm chạy đến núi Mộ Nô bị chặn đường về, Lê Niệm chém được một viên đại tướng. Giặc tan chạy(ĐVSKTT). Như vậy còn một lực lượng ở bên ngoài thành với 5 viên đại thần đủ để em vua nhiếp chính sai sứ sang triều Minh cáo nạn nước. Trận đánh bắt Trà Toại phải xảy ra chính tại ĐồBàn. Sứ Trần Công Tuấn đến ĐồBàn để phong vương chứng tỏ nhà Minh tin Trà Toại còn ở ĐồBàn. Củng cố giả thuyết này là sự kiện ban giao tế nhị bộ 3 Việt-nhà Minh hay nhà Tống-Chiêm Thành xưa nay nói trên, ta tin Lê Thánh Tông(LTT) chỉ đánh bắt chúa Chiêm theo kiểu Lý Thánh Tông đánh bắt chúa Chế Củ rồi đem binh về mà thôi. LTT chỉ lấy lại đất cũ Đại Chiêm-Cổ Lũy. LTT ngày mồng 7 /3 lấy người đầu hàng là Ba Thái làm Đồng Tri Châu Thái Chiêm, Ba Thủy làm Thiêm Tri Châu và phán: “Hai châu Thái Chiêm và Cổ Lũy trước là đất của ta, đời gần đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách sai bọn các ngươi trấn giữ. Có kẻ nào không chịu theo, cho giết trước rồi tâu sau.”Sách không nói gì số phận đất ĐồBàn. Ba năm sau mới có trận đánh bắt Trà Toại. Trận đánh bắt được sách ĐVSKTT đề câp một cách sơ sài vì sợ nhà Minh đem quân sang như thời Hồ Qúi Ly. Sự can thiệp giúp Chiêm lấy lại ĐạiChiêm-CổLũy. Tại vì ĐVSKTT đem việc phong vương cho Bồ Trì Tri, Hoa Anh và vua NamBàn vào đoạn viết việc tháng 3 năm 1471 làm cho hậu sinh hiểu sai lịch sử ở biên giới phía Nam sau trận hạ thành ĐồBàn. ĐVSKTT viết: “Năm 1471 tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống được phong vương. Phong vương  cho Hoa Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại.” Chiêm Thành tiếp tục cho sứ sang nhà Minh tố cáo Đại Việt xâm lấn đất đai. Năm 1488 tháng 12 vua Lê còn cho sứ Hoàng Bá Dương sang nhà Minh tâu việc Chiêm Thành. Mãi tới năm 1490 mới định bản đồ toàn quốc gồm có 13 thừa tuyên. Thừa tuyên thứ 13 là Quảng Nam thừa tuyên(ĐVSKTT). Chinh phục đất mới khó khăn như thế. Hậu sinh lấy đó mà răn: Không nên dễ dàng để mất đất của ông cha để lại!
KÉT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG TRÀ TOẠI. Trong trận hạ thành Đồ Bàn năm 1471, Trà Toại ở vòng ngoài với 5.000 quân và 6 viên đại thần, bị chém 1 còn 5 vị(ĐVSKTT). Trà Toại tụ chúng ở Linh Sơn(Đồ Bàn?), tiếp tục nhiếp chính, tiếp tục thông sứ với nhà Minh tố cáo Đại Việt bắt vua thu ấn tín, xin nhà Mính giúp đỡ và phong vương. Triều tồn tại hơn 3 năm. Năm 1475 sứ nhà Minh, Trần Công Tuấn, đến phong vương. Vào cảng Tân Châu, sứ mới hay đất này bị chiếm đóng, đổi thành châu Nam Giao(MTL)(Trà Toại và vợ con bị bắt đem về an trí ở ngoài cữa Bảo Khánh(cữa Nam) thành Thăng Long gần 30 Năm. Đến đời Cảnh Thống(trước năm 1504), con là Trà Phúc mang trộm hài cốt của cha trốn về nước-ĐVSKTT viết việc năm 1509).
Sau đó nhà Lê lập vua nước NamBàn và phong một tước vương nữa cho nước HoaAnh(vua Đề Bà Đài?)
SỐ PHẬN HẬU DUỆ CỦA VUA NAM BÀN. Sau đây là trang sử bi ai của hậu duệ vua NamBàn mất nước phải lưu vong vào núi rừng Tây Nguyên.(Phần chữ in nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục đề ngày 25/8TH11(24-9-1475), MTL đăng lời Lê Hạo(LH) tâu. LH nói Trà Toàn xâm phạm đạo Hóa Châu, bị em là Trà Toại giết. Trà Toại tự lập làm vua, sắp xin cầu phong, lại bị con của Bàn La Trà Duyệt là Trà Chất Đài Lai giết. Từ đó nước này loạn lạc nổi lên. Việc đó không phải lỗi của nước ông. Nay tuân thủ chỉ dụ của Thiên Tử, dẹp binh đao, hòa mục với lân bang, trả số người bị bắt. MTL viết tiếp nói lời tâu đưa xuống. Bộ Binh trình lên nói lời của LH sơ lược, không giống lời của sứ Trần Tuấn. Thực gian không quyết được. MTL đăng sắc dụ của hoàng thượng ban cho sứ thần Lê Hoằng Dục vào cống ngày 20-9-1475 mang về nước. Trong sắc dụ vua Minh tin phần nào lời của vua Lê và tin một phần nào lời của sứ Chiêm. Kết luận sắc dụ có đoạn: “Nhưng Chiêm Thành là nước truyền từ lâu đời, trước kia há không có một lực lượng nào mạnh có sức thôn tính nước này, nhưng sử sách chưa từng nghe,  vậy bài học được mất có thể thấy được. Nay nếu  nước này thình lình bị tiêu diệt, không những trái với chiếu chỉ của triều đình; mà còn e  bị các nước phiên tại hải ngoại sinh sợ, rồi gây sự tranh giành, như vậy đối với vương có lợi ư!. Sắc đến vương nên sửa đổi”
26/3TH14(28-4-1478), MTL đăng lời tâu của Lê Hạo. Đoạn trên vua Lê biện bạch cuộc chiến trước 1475 là Trà Toàn bị em là Trà Toại giết, tự lập làm vua rồi Toại bị con của Trà Duyệt giết. Năm nay 1478, vua Lê biện bạch việc ở Chiêm Thành. MTL đăng lời tâu của vua Lê có đoạn: “Đầu mục Chiêm Thành Ba Lung Ma Ha trước đây thông hiếu với nước thần. Vào năm TH11, nước y thu hoạch được nhiều thuyền của nước Lưu Cầu do gió trôi dạt đến, bèn mang quân đến nước thần xâm lược, bị quân tại biên giới đánh bại.”Đầu Mục là quân cát cứ, xưng hùng ở địa phương, TH11 là năm 1475, Lưu Cầu là Okinawa. Mọi cuộc chiến ở Chiêm Thành(CT) đều do nội loạn mà ra cả. MTL đăng lời vua Lê tâu tiếp. Vua lê tâu Lê Hoằng Dục từ Thiên Triều trở về mang sắc trách vua chiếm đoạt đất đai CT . Vua Lê tâu: “Vì việc này(Đại Việt chiếm đất), thần không thể không lọc máu viết lời trần tình để đoan chắc rằng không có. ” Vua Lê biện bạch rằng đất đai CT được phong cằn cỗi nghèo nàn, vườn không có tơ dâu, núi không có của báu, biển thiếu cá muối, chỉ có ngà voi, sừng tê giác, tô mộc, trầm hương mà những thứ đó nước thần sản xuất nhiều, không cho là quí. Lấy đất, dân, của đó, không thể ở, dùng, giàu được.  Giữ đất đó thì khó mà lợi thì ít, họa thì rõ ràng, danh thì mờ mịt. Đó là lý do tại sao vua Lê không chiếm đoạt đất. Vua Lê xin sứ giả Thiên Triều đến xem đất đai và phục hưng nước CT để trên dưới được an tập. Biên Thùy của Đại Việt cũng được yên ổn. Kính cẩn sai Nguyễn Thế Đạt tâu lên. Hoàng Thượng mệnh đem tấu chương này xuống bàn luận.
Thực lục ngày 24/4TH14(25-5-1478), MTL viết việc sứ Bùi Sơn sang mừng lập Hoàng Thái Tử nhà Minh.
Thực lục ngày 3/5TH14(3-6-1478), MTL chép việc sứ Bùi Sơn trở về nước.
Thực lục ngày 30/7TH14(27-8-1478), MTL chép việc sứ Chiêm là Ba La Á Đệ và La Tử sang cống nhà Minh.
Thực lục ngày 6/8TH14(2-9-1478), MTL viết việc sứ Lê Phùng Nghĩa và Trương Cẩn sang phong vương cho Tế Á Ma Vật Am(TAMVA). MTL viết tiếp nói  TAMVA sai người tâu rằng người Annam trả đất phía Nam. Nhưng sợ uy trời không tự tiện chủ trì, bèn sai sứ xin phong(Sử Việt mãi tới năm 1488 mới chính thức đề cập tới nhân vật hậu duệ của vua Nam Bàn là Trai A Ma Phất Yêm(TAMPY) và Cổ Lai. KĐVS Chính Biên quyển 22 viết việc năm 1471, phần cẩn án, viết sơ lược về TAMPY là 3 năm sau đánh bắt Trà Toại, lập TAMPY là cháu vua Chiêm cũ  làm vua. KĐVS, Chính Biên quyển 24, sách mới chính thức dẫn Minh Sử viết về TAMPY và Cổ Lai. Sách viết nói không bao lâu Trai A Ma Phất Yêm mất, năm 1481 em ông là Cổ Lai sang nhà Minh kêu ca đòi kế vị và đòi đất Annam đã chiếm. Sách viết chuyện sai Lý Mạnh Dương, Diệp Ứng đi phong. Sứ thần bàn luận nên bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc. CL đòi đến triều Minh tâu bày. Đình thần bàn nên sai một đại thần đi. Năm 1487, sai Đồ Dung sang an ủi Cổ Lai và mộ binh đưa Cổ Lai về nước. Trong Cương Mục Khảo Lược, Nguyễn Thông gọi là Tề Á Ma Phất Yêm).
 Sau đây là đoạn sách Minh Thực Lục viết việc triều Trai A Ma Phất Yêm-Cổ Lai một cách rõ ràng ra.(phần chữ in nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục ngày 9/5TH15(29-5-1479), MTL đăng việc sứ Trương Cấn đi phong vương CT. Đến Giang Tây gặp sóng gió chiếu thư và đồ vật bị hư ướt. Quan thủ thần trình lên. Bộ Lễ tâu chiếu thư và lễ vật nên thay mới, sai hành nhân đưa đến cho Cấn. Những vật khác không lấy trong kho triều đình. Lệnh Bố Chính Quảng Đông cho chế ra giống hệt như vậy. MTL viết tiếp:  tờ tấu không có tên họ viên chánh sứ, lệnh tuần án Giang Tây, ngự sử xét sự thực trình lên”MTL viết: “Hoàng Thượng chấp nhận. ”
Thực lục ngày 21/9TH17(13-10-1481). MTL viết về việc Cổ Lai sai cháu của vương là Cap Na Ba sang cống voi, cọp, sản vật địa phương và thỉnh phong.
Thực lục ngày 22/9TH17(14-10-1481) Thực lục viết. Thượng thư bộ binh tâu nói Annam đánh phá lân bang, dòm ngó Vân Nam…sứ Chiêm nói Annam sửa soạn 3.000 chiếc thuyền, muốn tập kích HảiNam, không thể không phòng bị. Thiên Tử phán phải phòng bị.
Thực lục ngày 26/9TH17(18-10-1481). MTL viết việc sứ của Cổ Lai tâu nói chuyện Annam đánh CT, bắt quốc vương, phá thành trì, cướp ấn. Trà Duyệt trốn lên núi Phật Linh Sơn, sai sứ xin phong. Thiên sứ đến nơi nhưng trước đó Trà Duyệt bị Giao Chỉ bắt. Cổ Lai cùng anh là Tề Á Ma Phất Am trốn trong rừng. Người Giao sợ Thiên Triều lập TAMPA làm vương. Chẳng bao lâu TAMPA chết. Nay ông(Cổ Lai) tạm giữ chức nhưng không tự tiện, xin cầu phong và xin dụ người Giao châu trả đất. Bộ lại bàn luận sai sứ đi phong rồi dụ rằng không cần sai quan đi. Vừa lúc sứ Annam về nước, bèn sắc dụ Lê Hạo. Sắc dụ của vua Minh khuyên bảo lẫn trách cứ rất dài,  cuối có đoạn : “Khi sắc tới ngươi nên nghĩ đến việc đoàn kết, hữu nghị với lân quốc, trả hết đất đai cũ cho CT.
Thực lục ngày 15/10TH17(6-11-1481) MTL viết nói Trương Cấn(TC) đi sứ mắc tội bị hạ ngục. Thực lục viết tiếp nói TC đi sứ mang nhiều hàng hóa để bán kiếm lời. Khi đến Quảng Đông nghe Tề Á Ma Vật Am chết. Người em là Cổ Lai sai Cáp Na Ba đến xin phong. Nghĩ về không thì mất lời, bèn vội đến CT. Người Chiêm cho biết sau khi người cháu xin phong bị Cổ Lai giết. Annam ban sắc ngụy lập Đề Bà Đài Gỉa nắm quyền quốc sự. Không đợi mệnh vua, Cấn mang ấn trao cho Đề Bà Đài Gỉa(DBĐG), được hối lộ hơn 100 lạng vàng rồi qua Mãn Lạt Gia bán hết hàng hóa rồi về. Cấn bị luận tội tự tiện phong tước, đáng tội hình, bị tống vào ngục.  Bấy giờ Cáp Na Ba ở tại quán dịch bộ Lễ trả lời qua thong dịch rằng TAMVA chết vì bịnh, không bị giết. Người được gọi là DBĐG thì không biết là ai. Bèn ra lệnh sứ tạm về Quảng Đông, lệnh quan chức địa phương ưu đãi, đợi sứ DBDG đến tạ ơn rồi thẩm xét phải trái.  
Thực lục ngày 16/9TH18(27-10-1482). Sứ của Cổ Lai đợi sứ của Đề Bà Đài Gỉa(ĐBĐG) hơn một năm, không chịu được rét nên trình lên ngự sử Vương Biện. Bộ Lễ lại tâu lên. Lệnh sứ tạm về nước, chờ sứ ĐBĐG đến kinh đô.  
Thực lục ngày 7/7TH20(28-7-1484). Sắc dụ Cổ Lai phủ dụ Đề Bà Đài Gỉa, lệnh nạp ấn quốc Chiêm Thành trước kia trao cho y. Tha tội ĐBĐG đã nhận sắc phong ngụy của Annnam. Lệnh cho làm Đầu Mục của nước này.
Thực lục ngày 5/8TH20(25-8-1484). Ban vật phẩm cho người ĐBĐG sai đến tạ ơn gồm bọn cháu là Ba La Chất, phó sứ Man Đê, Đại Thông Sự Mai Gỉa Lượng.
Thực lục ngày 17/8TH20(6-9-1484). Sai chánh sứ Lý Mạnh Dương, phó sứ Diệp Ứng sang phong vương cho em quốc vương CT Tề Á Ma Vật Am là Cổ Lai. Mãnh Dương tâu nói Đề Bà Đài chiếm cứ lâu rồi. Vậy trước khi làm lễ tấn phong nên cho sứ của ĐBĐ về nước loan báo cho dân là triều đình phong vương cho Cổ Lai. Người cháu của vương cũ do ĐBĐ đưa đến tạ ơn rồi bị lưu lại ở Quảng Đông làm con tin cũng cho về luôn. Định khi thuyền làm xong, thuận gió sẽ đến nơi Cổ Lai trú đóng để tuyên đọc sắc văn. Hoàng Thượng họp đình thần bàn bạc và chấp thuận.
Thực lục ngày 5/10TH20(24-10-1484). Tha cho Trương Cấn tội chết và đày làm lính thú tại vệ biên giới thuộc Quảng Tây.
Thực lục ngày 3/Chạp TH21(8-1-1486). Thăng cấp cho Lý Mãnh Dương. Mãnh Dương phụng mệnh đi sứ sang CT như chưa đi,trú tại Quảng Đông, bị tật xin ở nội địa trị bịnh, chờ lành sẽ đi, lại trình rằng sắp hết hạn 9 năm, ý không muốn đi nên có lệnh này(lệnh thăng chức).
Thực lục ngày 12/tháng MộtTH22(7-12-1486).  Giám Sát Ngự Sử Tuần Án Quảng Đông Từ Đồng Ái tâu: “Con quốc vương Chiêm Thành  Cổ Lai đánh giết ngụy vương Đề Bà Đài do Giao Chỉ đặt lên. Giao Chỉ giận, mamg binh đến biên giới đòi cho được mạng sống của Đề Bà Đài. Cổ Lai sợ hãi, mang vương phi, cháu vương, bộ lạc hơn 1.000 người, cùng sản vật địa phương vượt biển đến châu Nhai, Quảng Đông.”Việc đưa xuống bàn. Hoàng Thượng phán giúp đỡ Cổ Lai, lệnh canh phòng biên giới.
Thực lục ngày 20/GiêngTH23(13-2-1487). Lệnh Mệnh Đô ngự  sử Nam Kinh Đồ Dung đến Quảng Đông dụ Cổ Lai. Bọn Tổng Đốc Lưỡng Quảng Hữu đô Ngự sử quân vụ Tống Mân tầu rằng: “Cổ Lai tại châu Nhai rất muốn được triều yết, để tố cáo sự tai hại gây ra bỡi Giao Chỉ xâm lăng, và nói rằng số châu huyện mà Giao Chỉ hoàn lại là những khu vực căn cỗi điêu tàn.” Nội vụ đem xuống bàn. Bộ Binh tâu nói lời của Annam trước đây và của Cổ Lai không giống nhau. Xinh lệnh nhiều quan đến họp bàn. Trương Mậu, Hà Tông bàn việc 2 nước khó đoán cho chính xác. Nên sai một viên đại thần đến khao thưởng Cổ Lai và khuyên CL đừng vào triều vì sống bên ngoài lâu thì kẻ chiếm đóng có cơ hội củng cố, còn người ở đất khách đễ đổi long chi bằng về nước sớm để yên người trong nước. Xin gởi văn thư khuyên Annam hãy quí việc phục hưng nước bị diệt, nối dòng họ bị đứt; nếu chuyện ấy không phải là ý của vương thì xin sai sứ đón Cổ Lai về nước. Hoàng Thượng chấp nhận. Lệnh Đồ Dung khởi hành.  
KẾT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG TRAI A MA VẬT AM: Lịch sử biên giới phía Nam sau năm 1471 khó hiểu vì ĐVSKTT viết gộp sự kiện ở các thời điểm khác nhau vào một thời điểm năm 1471. ĐVSKTT viết:“Năm 1471…tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống được phong vương. Phong vương  cho Hoa Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại.” Đánh bắt Trà Toại mãi  tới hơn 3 năm sau(1475). Sứ Minh đi phong vương cho Trà Toại, đến cảng Tân Châu mới hay nước bị chiếm đổi thành châu Nam Giao. Chiêm Thành(CT) tố cáo Đại Việt xâm lăng. Tiếp theo vua Lê có 2 lần tâu lên vua Minh biện bạch không chiếm đất CT(TL ngày 24-9-1475 và TL ngày 28-4-1478). Lê Phùng Nghĩa và Trương Cấn sang phong vương cho Tế Á Ma Vật Am(TL ngày 2-9-1478). Căn cứ 2 đoạn thực lục tháng 4 và tháng 9 năm 1478, Gỉa thiết đưa ra là vua Lê lập vua NamBàn vào năm 1478(khoảng giữa tháng 4 và tháng 9). Vua NamBàn Tế Á Ma Vật Am sai sứ tâu rằng Annam trả đất ở phía Nam để cai quản, nhưng không dám tự tiện, sai sứ xin phong. MTL đăng lệnh sai Trương Cấn đi phong (TL ngày 9/1478). Đến Giang Tây gặp sóng gió chiếu thư và phẩm vật bị hư ướt(TL ngày 29-5-1479.) Tiếp theo Cổ Lai lại sai cháu vương là Cap Na Ba xin phong(TL ngày 13-10-1481). Sứ của Cổ Lai sang nhà Minh tố cáo và đòi đất. Chiếu dụ vua Lê trả đất(TL ngày 18-10-1481). Đến Quảng Đông nghe TÁMVA chết, người em là Cổ Lai sai bọn Cáp Na Ba đến xin phong, Trương Cấn đến thẳng CT trao ấn cho Đề Bà Đài Gỉa(ĐBĐG) mà trước đây Annam phong vương cho để nhận hối lộ hơn 100 lượng vàng. Trương Cấn bị hạ ngục(TL ngày 6-11-1481). Suy ra ĐBĐG được phong vào năm 1478 cùng với TÁMVA nhưng TÁMVA chết trước năm 1481 là năm cháu của vương đến nhà Minh xin phong(sau đây ta sẽ biết ĐBDG chết năm 1486 - LT ngày 1-12-1486). Tiếp theo là triều Cổ Lai. Hai nước kia tồn tại từ năm 1478-1481. Sau đó vùng Nam đèo Cù Mông hỗn loạn. Cổ Lai lùi sâu vào Tây Nguyên.
Đến đây, năm 1487, vua Minh Hiến Tông băng. Minh Hiếu Tông lên ngôi và MTL tiếp tục thực lục triều Minh Hiếu Tông. Ta sẽ biết việc của triều Cổ Lai. (Phần chữ in nhỏ dành cho người thích khảo cứu.)

Thực lục ngày 13-10TH23(29-10-1487). Phong vương cho con của Cổ Lai tại Quảng Đông rồi hộ tống về nước và sắc cho Annam trả đất đã xâm chiếm. MTL viết tiếp nói Đồ Dung tâu lên rằng theo lời của Cổ lai thì nước có 8 châu, 25 huyện bị Annam thôn tính cả. Chiêm Thành(CT) tố cáo, Annam trả các xứ Bang Đô Lang, Mã Na Lý, 4 châu 5 huyện. Sau đó đầu mục CT Đề Bà Đài làm phản theo Annam. Annam cho y 1 châu 3 huyện. CT chỉ còn 3 châu 2 huyện. Annam đòi cho được mạng ĐBĐ, cố ý lấy hết đất và lập con ĐNĐ làm vương. Lũ Ma, con của Cổ Lai, cùng đầu mục Vạn Nhân Phương cố thủ để đợi. Ý Cổ Lai muốn được thụ phong ở Quảng Đông, xin bộ binh hộ tống về nước, xin văn thư công nhận cương thổ để được an toàn. Bọn thần(Đồ Dung) muốn lời xin được chấp nhận, xin mệnh bọn Mãnh Dương đến nơi này sắc phong. Đến mùa Đông sai quan võ đến hộ tống về nước. Bọn Mãn Dương không cần thân hành đến đó. Xin sắc cho Annam trả đất đã xâm lấn. Bộ binh phúc tấu đồng ý. Ban cho vua Annam sắc thư.  Sắc có đoạn “…nước nguyên có 8 châu như Ban Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập…thành hòa thứ 7 nước ngươi mang quân chiếm hết…thành hòa 13 trả lại 4 châu 5 huyện trong đó có Bang Đô Lang, Mã Na Lý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế cho đầu mục phản phúc Đề Bà Đài…lấy 8 châu 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả cho Cổ Lai…hãy kính cẩn theo lời dụ này ”.
Thực lục ngày 5/tháng ChạpTH23(19-12-1487). Nhân lên ngôi Hoàng Thượng sai sứ ban chiếu cho Triều Tiên, Lưu Tiền, Lữ Hiến, Annam.
Thực lục ngày 3/2 Hoằng Trị(HT) thứ nhất(15-3-1488). MTL viết nói quốc vương CT Cổ Lai sai bọn bồi thần và cháu là Cáp Na Ba dâng biểu viết trên vàng lá và phẩn vật sang cống.
Thực lục ngày 13/10HT2(5-11-1489) viết nói quốc vương CT trở về nước, lại sai em là Bốc Cố Lương thông báo quan cọi lưỡng Quảng rằng Annam vẫn còn chiếm cứ, không có chỗ ở, xin như thời Vĩnh Lạc mang binh che chở. MTL viết tiếp.  Việc đem bàn. Lời Bộ Binh tâu có đoạn: “Annam và Chiêm Thành vị trí nơi bờ biển hoangtichj, đời đời triều cống, tổ tiên có di huấn là những nước không nên chinh phạt…Mới đây Cổ Lai mang gia quyến đến Quảng Đông, triều đình đã giáng sắc cho Annam xem xét…nay chưa chưa nhận được lời tâu trở lại…tướng mang quân chinh phạt là do Lê Qúi Ly thoán đoạt giết vua…mới đây Lê Hạo lo việc triều cống rất cẩn trọng…nếu chỉ căn cứ lời của một bên…Nên lệnh các quan trấn thủ bảo Cổ Lai rằng…đã mệnh quan đại thần giúp đỡ săn sóc đầy đủ…hộ tống người của vương trở về xong…Sự tình được biết người Giao giết con của vương là Cổ Tô Ma, vương mang binh đánh lại chúng, sự rửa thù đã xong, sau không thấy Annam mang quân đến đánh…mà lời tấu của Annam chưa đến, sự kiện chưa rõ ràng…Khi lời tấu của Annam đến, ta sẽ xem xét…
Vương hãy tự tin, điều hành quản trị, an ủi nhân dân và bảo vệ đất đai… tìm cách nối lại bang giao tốt với An Nam…Từ xưa đến nay, không có 1 nguyên tắc nào cho nhà cai trị không tự tin ỏ mình, lại cầu xin triều đình mang quân đi đến từ miền xa xôi để bảo vệ họ. Sắc của Thiên tử sẽ giao cho Bốc Cố Lang y cũng được thưởng quà.”
Thực lục ngày 21/5HT3(8-6-1490). Thực lục viết nói Bốc Cổ Lang bị chặn lấy đồ vật do triều đình ban cho. Xin đưa quân đến cướu giúp. Mệnh đưa xuống các ty có trách nhiệm hay biết.
Thực lục ngày 25/5HT3(12-6-1490). Thực lục viết nói Lê Hạo biện bạch rằng việc tại CT do các thổ tù tranh dành cát cứ. Vân Nam vốn là nơi các thổ tù đã cư trú, không dám vượt biên sinh sự. Mệnh quan bộ binh đòi Hoàng Bá Dương còn tại sứ quán, đến bộ Lễ dụ rằng “Hãy về báo với quốc vương ngươi đừng nói nhiều lời, mỗi bên lo giữ gìn cương thổ để hưởng thái bình; nếu không vậy thì một ngày nào đó triều đình nổi giận, quân Thiên Tư đến biên cảnh như dưới thời Vĩnh Lạc thì không còn hối hận được nữa.”Thực lục viết tiếp: “sứ giả sợ hãi rút lui.”
Thực lục ngày 10/6HT3(27-6-14-90). Ban vật phẩm cho sứ CT.
Thực lục ngày 26/7HT3(11-8-1490). Nói Đồ Dung(ĐD) trở về. Sứ CT là Ban Bà Đế mang phẩm vật tạ ơn ĐD. Có chỉ dụ bảo ĐD nhận. ĐD từ chối. Bộ  lễ sai người đuổi theo sứ CT, trả lại đầy đủ phẩm vật.
Thực lục ngày 16/10HT8(2-11-1495). Cổ Lai sai Sa Cố Tính  sang cống.
Thực lục ngày 28/10HT8(14-11-1495). Thực lục viết nói Cổ Lai Sai Sa Cố Tính đến tâu báo rằng Annam chiếm đất giết người, tuy triều đình giáng sắc dụ phải hòa mục, nhưng Annam ngoài mặt ra vẻ thuận lòng, còn âm mưu thì ác độcnên sai cháu là Sa Cố Tính đến kinh khuyết xin đại thần đến nơi để giảng hòa. Thực lục viết nói lời tâu rất bi ai. Đưa xuống đình thần bàn bạc. Bàn cho rằng từ xưa chưa có lệ sai quan đại thần ra nước ngoài để hòa giải giữa các Di. Xin giao Lưỡng Quảng gửi văn thư cho Annam, dụ phải hòa mục, hoàn lại đất đã chiếm. Sắc dụ Cổ Lai chăm sóc nhân dân, luyện võ bị làm kế lâu dài. Khi sự việc đã yên. Lệnh 2 nước trình bày đầy đủ. Lời bàn được dâng lên.  Ý Hoàng Thượng muốn sai đại thần đi xem xét. Bọn Đại Học Sĩ Từ Phố tâu có đoạn “Nước Chiêm Thành  xin sai đại thần đến nước họ, báo cho Annam trả lại hết đất đai xâm chiếm; các nha môn 2 lần hội nghị đều cho rằng không nên làm như vậy. Bộ Lễ được yêu cầu nêu rõ vấn đề rằng Thánh Thiên Tử muốn sai quan đến dụ; nhìn lên thấy được Thánh ý đối xử chung một lòng nhân không phân biệt Di, Hạ; tuy nhiên bọn thần phân tích bằng sự lý, thấy sách Xuân Thu dạy không cai trị Di vì rằng sự chế ngự Di Địch và cai trị trong nước không giống nhau … Annam tuy làm tròn chức cống, vốn là ngoại Di…Còn nước Chiêm Thành kia thì quá nhỏ mà sơ viễn…xem xét lời dạy của tổ triều Minh rằng CT và một vài nước triều cống lại đưa hàng đến bán có nhiều sự gian trá nên từ năm Hồng Vũ thứ 8 bị cấm, mãi năm thứ 12 mới được triều cống trở lại…Thành Hòa thứ 7 bị Annam xâm chiếm, mấy lần đến tố cáo. Hiến Tông Hoàng Đế mấy lần sắc Tổng Trấn Lưỡng Quảng, Đô Ngự Sử khu xử. Nhưng Annam khẳng định rằng họ đã trả lại đất; thực ra chúng không khai thực và không chịu nhận tội…giáng sắc, sai quan đến nước xa xôi này cũng phí lời…hải đảo rộng mênh mang, không cách gì khám xét đất đai; hơn nữa làm sao Annam có thể tự động cải hối, bỏ mối lợi…nhỏ thì che dấu lỗi lầm, lớn thì chống cãi lại…tưởng không nên dương oai ngoài cõi…bỏ qua không hỏi đến thì tổn thương uy danh, đem sự việc ra hạch hỏi thì phải hưng binh, mối lo lại càng lắm…ngẫm lời giáo huấn của tổ tiên Di Địch bốn phương, cách núi ngăn biển, riêng một góc trời, có được đất đó không đủ cung cấp cho nhu cầu, có được dân đó không đủ để sai khiến…chúng đến quấy phá biên giới ta thì tự nó sẽ gặp điều không lành, nếu nó không làm hại đến Trung Quốc mà ta kinh xuất, mang quân đi chinh phạt cũng là điều không lành…bọn thổ quan các xứ thù nghịch nhau, không thể lấy vương pháp mà cấm đoán được, vì thế bọn chúng đánh nhau là sự thường tình…CT bị xâm đoạt có hay không, thực hay dối trá, vẫn chưa biết rõ. Tuy tình cảnh đáng thương nhưng về lý không nên can thiệp đến cùng…dùng văn thư hiếu dụ cũng được rồi, hà tất phải nhân danh Thiên Tử sai đại thần đi khám…việc đại sự không thể không hỏi quần thần. Nay mọi người đều một lòng tâu là không nên, nhưng chỉ nói chung sự lý, chưa trình bày hết về lợi hại được mất…bọn thần…nếu không trình bày hết, vạn nhất việc xấu nảy sinh, thì đến chết cũng không chuộc hết tội…không nề rườm rà lời khó nghe trình bày những vấn đề liên quan đến Hoàng Thượng, xã tắc sinh dân, chứ không phải muốn hùa với đám đông…Như thời thế có thể làm được, sự việc không gây tai hại, bọn thần đáng phải giúp Hoàng Thượng, đâu dám dâng lên những lời trái tai này. ”Hoàng Thượng nghe lời.
Thực lục ngày 18-4-1497 nói sứ Lê Tuấn đến cống, thực lục ngày  29-11-1498 nói Lê Hạo qua đời.
Thực lục ngày 21/6HT12(28-7-1499). Thực lục viết Cổ Lai tâu vùng cảng Tân Châu bị Annam chiếm từ lâu. Mối lo chưa hết. Nay ông đã già. Khi chưa chết muốn cho con trưởng là Sa Cố Bốc Lạc được nối ngôi. Mệnh bộ Lễ, bộ Binh họp bàn. Tờ trình lên có đoạn “Annam gây tai hại CT không phải mới xảy ra…nhân CT tố cáo bèn gửi tỷ thư chỉ dạy, lại sai thủ thần…giảng điều hòa mục…nhưng Annam trước sau đều tâu…tuân theo mệnh của triều đình, trả lại hết đất…ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa đều do thổ tù cát cứ, nước tôi hoàn toàn không can thiệp…Annam vừa mới đưa lời biện bạch thì CT lại tố cáo, khó biết đâu là thật tình. Xin lệnh thủ thần gửi văn thư nghiêm khắc dụ Annam chớ tham nhân dân đất đai… nếu không tuân sẽ bàn định mang quân đi hỏi tội. Về việc con trưởng…khi cha còn sống không có lý được phong kế lập, hãy lập thế tử…sau này như lệ định sẽ phong thế tập. Điều này được chấp thuận
Thực lục ngày 3-8-1499 viết nói sứ Sa Bất Đăng Cổ Lỗ đến cống. Thực lục ngày 10-9-1499 viết nói Cổ Lai sai cháu Sa Bất Đăng Cổ Lỗ, sứ Yến Thiện Nô Ba Địa đến cống. Thưc lục ngày 16-9-1499 viết nói  ban mũ và dây đai cho cháu vương và sứ. Thực lục ngày 16-10-1499 viết nói cấp gạo, sai thủ thần Lưỡng Quảng sử chữa thuyền cho đoàn sứ 60 người.
KẾT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG CỔ LAI: Triều này được mô tả rõ ràng nhờ sách Minh Thực Lục(MTL) bắt đầu thực lục(TL) từ ngày 29-10-1487. Trước đó MTL viết nói thủ thần Từ Đồng Ái ở Quảng Đông tâu nói con của Cổ Lai đánh giết ngụy vương Đề Bà Đài(ĐBĐ). Giao Chỉ mang binh đến biên giới đòi mạng ĐBĐ. Cổ Lai sợ hãi đem gia quyến và bộ lạc đến châu Nhai, Quảng Đông(TL 7-12-1486). Kế tiếp đại thần Đồ Dung đến QĐ phong vương cho Cổ Lai  rồi hộ tống về nước và sắc dụ Annam trả đất cho CT(TL 29-10-1487). Trên đây ta thấy KĐVS dẫn Minh Sử, mục truyện Chiêm Thành, nói rõ ĐD sang Quảng Đông(QĐ) đưa hịch sang Annam rồi mộ 2000 quân khỏe, đi 20 chiếc thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về nước. Các sách không nói vào nước ở chỗ nào.
Tiếp theo, nhờ MTL mà ta hình dung được  nước Nam Bàn của Cổ Lai. Tới QĐ, Đồ Dung(ĐD) tâu lên vua Minh. ĐD nói theo lời của Cổ Lai, thì nước nguyên có 8 châu, 25 huyện bị Annam thôn tính cả. CT tố cáo. Annam trả các xứ Bang Đô Lang, Mã Na Lý, 4 châu 5 huyện. Sau đó Annam cho Đề Bà Đài 1 châu, 3 huyện. CT chỉ còn 3 châu 2 huyện. Triều Minh giửi sắc văn cho vua Lê. Trong sắc văn giử cho vua Lê có đoạn viết nói các quan coi giữ Quảng Đông tâu rằng con của Quốc vương CT là Cổ Lai tố cáo nước nguyên có 8 châu như Ban Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập. Annam lấy hết, sau trả 4 châu 5 huyện trong đó có Bang Đô Lang, Mã Na Lý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế cho Đề Bà Đài. Cuối cùng sắc văn viết nói “lấy 8 châu, 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả lại cho Cổ Lai, tạo nên sự hòa mục”(TL 29-10-1487).
Thế là cương thổ của vua Nam Bàn được định rõ ra và lịch sử đất phía nam sau trận hạ thành Đồ Bàn cũng rõ ra. Hạ thành xong thì vua Lê chỉ chiếm lại Đại Chiêm và Cổ Lũy cùa nhà Hồ “để lại”mà thôi. Hơn 3 năm sau(1475) vua Lê mới đánh bắt Trà Toại, chiếm thêm đất ĐồBàn đặt thành châu Nam Giao. CT kiện cáo. Vào năm 1478, Vua Lê trả đất cho hậu duệ vua Nam Bàn là đất Bang Đô Lang, Mã Na Lý(lời của Cổ Lai). Tiếp theo cắt đất Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế(trong sắc dụ vua Lê) cho ngụy vương Đề Bà Đài làm vua nước Hoa Anh(năm 1478).
Đoạn viết vắn tắt trong sử cũ ĐVSKTT và KĐVS trở nên rõ ra. ĐVSKTT viết: “Năm 1471 tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống được phong vương. Phong vương  cho Hoa Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại. KĐVS viết. “Lê Thánh Tôn phong vương cho Bồ Trì Trì và phong 2 tước vương nữa cho nước Hoa Anh và cho dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương. Phần ghi chú về nước Nam Bàn, KĐVS viết việc năm 1471, viết: “Nam Bàn: Từ triều Lê trở về trước, Nam Bàn thuộc Chiêm Thành, đến khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đai đến núi Thạch Bi , phong dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương, và chia cho giữ đất đai từ núi Thạch Bi này trở về phía tây, từ phủ Hoài Nhân đi theo đường thượng đạo  thì phải đi 14 ngày mới đến được nước này, tức là đất của hai nước Thủy Xá và Hoài Xá bây giờ.”
Không phải chỉ quan làm sử ở Sử Quán triều vua Nguyễn biết đường lên nước NamBàn mất 14 ngày tính từ phủ Hoài Nhân, mà trước đó vào thời chúa Nguyễn, Văn Thế Nghị(VTN) cũng biết hành trình lên đó mất 14 ngày. VTN kể cho Lê Qúi Đôn năm 1776 nghe chuyện đi tìm trầm, chuyện lên Thủy Xá Hỏa. VTN kể: “Từ đây (nguồn sông Kỳ Lộ ở Phú Yên) thuê người Man dẫn đường đến chỗ ở của 2 vua Thủy Xá Hỏa Xá của nước Nam Bàn mất 14 ngày.”(Phủ Biên Tạp Lục)
Một chút nói về tên địa danh trong sử liệu cũ. Địa danh viết bẳng chữ HánNôm. Tiếng nước ngoài hay tiếng của các bộ tộc khác người Kinh thì sách ta hay sách Tàu viết bằng chữ HánNôm theo âm của tiếng đó ví dụ như ghi chú số 1997 ĐVSKTT bảng điện tử nói Lạt Gia là Mãn Lạc Gia, tức là Malacca. Từ “Bang Đô Lang” có âm hưởng giống tên các buôn ở ĐắcLắc-GiaLai như Buôn Mê Thuộc hay Buôn Đôn. “Mã Na Lý”, “Mai Đá Lý” có âm gần tên địa danh của người miền xuôi. Đối chiếu với tên trên thực địa, chắc các sử quan nhà Nguyễn hiểu được các địa danh ghi bằng chữ HánNôm trong Minh Sử, nên nhận ra được Nam Bàn là đâu. Do đó sử quan mới viết câu ghi chú về nước NamBàn: “chia cho giữ đất đai từ núi Thạch Bi này trở về phía tây”. Các quan ở Lưỡng Quảng cũng hiểu được các địa danh mà sứ thần của CT nói đến nên biết rõ cương vực của CT. Đến Quảng Đông, sứ Lý Mãnh Dương(LMD) biết việc xảy ở CT và biết chỗ ở của Cổ Lai. Cho nên được sai đi phong vương cho Cổ Lai từ năm 1484 cho đến năm 1486 mà LMD cứ trù trừ không chịu đến CT. Trái lại, trước đây, sứ Trương Cấn thì đi ngay đến CT để trao ấn cho ngụy vương Đề Bà Đài do Annam dựng lên năm 1478 để lấy hối lộ hơn 100 lượng vàng.  Có lẽ Đề Bà Đài thì ở miền duyên hải dễ dàng đến đó hơn, còn Cổ Lai thì ở sâu trong nội địa, đến đó khó khăn hơn chăng?  Cũng trong năm 1486, Cổ Lai đánh giết ĐBĐ. Giao Chỉ đem quân đến biên giới đòi mạng ĐBĐ. Cổ Lai sợ, thoát chạy khỏi núi rừng, vượt biển mà sang Quảng Đông.
Về tên địa danh “Bôn Đế Ba Đế” và tên nhân vật Đề Bà Đài: Có phải ngụy vương Đề Bà Đài cát cứ ở xứ Bà Đài.  Sắc của vua Lê Thế Tông năm 1597, sai biên thần Lương Văn Chánh làm quan ở huyện Tuy Viễn đến khai phá xứ phía Nam Đại Việt có đoạn: “sức các hộ dân mới đến tựu các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Bà Nông từ trên nguồn di dưới đến cữa biển, kết lập gia cư khai khẩn đất.” Vua CT thường lấy tên đất làm tên hiệu ví dụ em Trà Toàn tên là Thị Nại, vua Bí Cái tên là Ma Ha BiCa hay là Ma Ha Vijaya(ĐồBàn), vân vân. Địa danh “Bôn Đế Ba Đế” có âm hưởng na ná “Bà Đài.”
Từ suy nghĩ như trên và văn cảnh trong Minh Thực Lục ở những đoạn trích trên đây cùng sách Phủ Biên Tạp Lục lẫn sách KĐVS nói về nước Nam Bàn cho ta kết luận Nam Bàn ở ĐắcLăc-GiaLai. Sau này sứ Lý Quán không chịu đến CT phong vương cho con của Cổ Lai là Sa Cố Bốc Lạc. Lý Quán nói “đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc. ” “Xích Khâm bang, Đô Lang quốc” là xứ đất đỏ GiaLai-ĐắcLắc? Chỗ ngụy vương ĐBĐ xuất thân là châu thổ sông cái(sông Kỳ Lộ)? Sông Cái đổ nước vào vịnh Xuân Đài. Phần đất còn lại là “Mã Na Lý”, “Mai Đá Lý” là hạ lưu sông Ba(sông Đà Rằng) và trung lưu của nó là sông Ayunpa ở Cheo Reo(Phú Bổn)?
Về địa hình suy nghĩ trên cũng phù họp. “đất đai từ núi Thạch Bi này trở về phía tâylà ĐắcLắc. Núi Thạch Bi là núi Mẹ Bồng Con hay chư Mư(2052m). Núi này mới xứng đáng làm cột móc chia 3 “thiên hạ”, chia 3 nước NamBàn, Hoa Anh và nước của Bồ Trì Trì để ràng buộc. Hiện nay nơi đây là 3 biên giới ĐắcLắc-Khánh Hòa-Phú Yên. Nơi đây có đèo Khánh Dương xuyên qua Rặng Đại Lãnh vào vương quốc của Bồ Trì Trì. Ngọn Mẹ Bồng Con trông xuống đèo Khánh Dương. Nơi đây là chỗ thung lũng sông Ba ăn sâu vào Rặng Đại Lãnh(bảng đồ Jm Henthorn). Nơi đây là điểm phân thủy của 3 con sông: Đổ về Đông là sông Cay ở Ninh Hòa, chạy theo tuyến QL21 cũ(bảng đồ Jm Henthorn) rồi đổ ra đầm Nha Phu bên kia Hòn Khói. Đổ về Tây có sông Krong Ana, chảy dọc theo chân phía ĐôngBắc Rặng Đại Lãnh, tới Ban Mê Thuộc, họp lưu với sông Krong Kno thành sông Ea Krong hay Dark Krong đổ nước vào sông Srepok rồi vào sông MeKong. Chảy về Bắc có sông Ea Krong Hnang đổ nước vào sông Ba xuôi về biển Đông.
Hậu sinh lầm lẫn núi Đá Bia với núi Thạch Bi ghi trong sử sách. Một sự lầm lẫn kéo dài một thời gian dài kỷ lục, đằng đẵng tới ngày hôm nay.  Núi Đá Bia và núi Mẹ Bồng Con đều trông giống “thạch bi.”Nhưng một núi ở sát mép biển(núi Đá Bia) không chia 3 đất của ai được cả trong khi núi Mẹ Bồng Con ở trên đường phân thủy và ở trong nội địa chia 3 được thiên hạ: Nước Hoa Anh(phủ Phú Yên)-nước của Bồ Trì Trì(phủ BìnhKhang)-nước NamBàn(Đắc Lắc)(mời xem bài viết Rặng Đại Lãnh với 3 Đèo). Ngay cả trong sách Bảng Đồ Hồng Đức(làm thời chúa Trịnh-Nguyễn) cũng sai lầm. Núi Thạch Bi khi thì được vẽ ở ranh giới Phú Yên phủ giáp Thái Khang phủ(ở bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ trang 158 trong sách Hồng Đức Bảng Đồ). Còn ở bảng đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT) khi thì “Thạch Bi” được vẽ ở cữa sông Bàn Thạch gọi là Ăn Năn hải môn(TNTCLĐT trang 98), khi thì được vẽ ở Cam Ranh hải môn(TNTCLĐT tr 101). Tất cả lấy cái ý “Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đai đến núi Thạch Bi”ghi trong sách KĐVS. Lấy cái ý núi Thạch Bi là ranh giới Chiêm-Việt ở trong sách cũ mà không hiểu thấu đáo địa hình gì ráo. Có tác giả nói GNBNĐ được vẽ ở Nam Hà hay lúc chúa Trịnh định đánh xuống Nam Hà thời Tây Sơn. Do đó tôi cho sách GNBNĐ vẽ chính xác hơn TNTCLĐT. Hậu sinh còn thêu dệt là vua Lê Thành Tông lên đá bia khắc chữ phân định biên giới Chiêm-Việt do tự ông Trời!
Về di tích Thành Hồ và các tháp Chăm. Ở Phú Yên có cái thành cổ là Thành Hồ. Tiếc thay thành không được khảo cổ tường tận. Không biết thành xây vào thời nào. Chỉ có một sử liệu đề cập tới địa danh Thành Hồ là Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên. Sách có đoạn “Lương Văn Chánh người huyện Tuy Hòa…Đầu năm Mậu Ngọ(1558), theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Khoảng năm 1578, tiến tới sông Đà Diễn, đánh lấy Hồ Thành.”Lúc xây dựng Kinh Mương Bắc của Thủy Nông Đồng Cam, người ta thấy Thành Hồ còn khá tốt. Khi đào bới xây dựng kinh mương qua đây người ta phát hiện nhiều di vật Chiêm Thành. Với địa hình và qui mô của Thành Hồ, người ta nghi đây có thể là một kinh đô cũ, kinh đô của ngụy vương Đề Bà Đài? Bên kia sông, đối diện, cũng có tháp Chăm. Từ đây dọc sông Ba đến Phú Bổn người ta cũng phát hiện có tháp Chăm. Tại Phú Bổn thời Pháp có di tích tháp Chăm rất rõ ràng. Nơi đây có thể là kinh đô của nước Nam Bàn chăng?
Sau đó bộ 3 Chiêm-Việt-Minh tiếp tục thông sứ. Sứ Cáp Na Ba sang(TL 15-3-1488). Bốc Cố Lương sang tố cao Annam còn chiếm đất xin đem binh đến giúp(TL 5-11-1489). Sứ Chiêm sang tố cáo Annam chặn sứ Chiêm thu lấy phẩm vật mà triều Minh ban cho(TL 8-6-1490). Sứ Chiêm sang tố cáo. Triều Minh dụ sứ Annam là Hoàng Bá Dương bảo vua Lê chớ nhiều lời. Mỗi bên lo giữ biên cương. Không vậy thì một ngày nào đó triều đình sẽ đem quân sang(TL 12-6-1490). Sứ CT Ban Bà Đế sang tạ ơn Đồ Dung(11-8-1490). Sứ Sa Cố Tính sang(2-11-1495). Annam tiếp tục chiếm đất. Sứ Sa Cố Tính sang xin đại thần sang CT giảng hòa. Lời tâu rất bi ai. Triều đình nói không có thông lệ đó. Triều Minh tính lợi hại không cử quan đi. Dùng văn thư sắc dụ 2 nước là đủ rồi(TL 14-11-1495). Năm 1498 Lê Thánh Tôn qua đời. Cổ Lai tâu rằng ông đã già lão,  tố cáo Annam tiếp tục chiếm đất và xin lập con trưởng Sa Cố Bốc Lạc làm vương lo việc hậu sự nước nhà. Đình thần bàn nói cha còn sống nên không phong kế tập, hãy lập thế tử, sau theo như lệ sẽ phong vương cho.  Đình thần tâu lên nói Annam nói đã trả hết đất đai. Ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa, đất đai đều do thổ tù cát cứ. Annam hoàn toàn không can thiệp(TL 28-7-1499).
Sang đời Minh Vũ Tông,  MTL cho biêt Cổ Lai mất(TL 17-7-1505).  Còn vào năm 1498 thì Lê Thánh Tôn qua đời. Khoảng 30 năm(1471-1498), hai nhà lãnh đạo lão thành và cừ khôi Chiêm-Việt gườm nhau tranh giữ và cố chiếm lại đất ĐồBàn(Vijaya). Một được(Lê Thánh Tôn), một thua(Cổ Lai). Tới mãi năm 1490 xác định bản đồ toàn quốc mới thấy thừa tuyên thứ 13 là thừa tuyên Quảng Nam với 3 phủ, 9 huyện. Phủ mới là phủ Hoài Nhân với 3 huyện là Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Đất phía Nam đèo Cù Mông thì hãy còn do thổ tù cát cứ(lời Lê Thánh Tông tâu lên vua Minh). Đất này chìm trong bất ổn tới 140 năm(1471-1611). Vì lẽ bất ổn đó mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng năm 1611 mới đặt tên phủ mới này là phủ Phú Yên, sau khi phải đánh mới chiếm được đất. Năm 1597 Lương Văn Chánh không thể khai phá đất này dễ dàng được để mà người đời nay tôn ông là Thần Hoàng của đất này. Mở nước và giữ nước công phu như thế, con cháu hậu sinh đừng nên lấy chuyện giữ biên cương cho được vẹn tòan là chuyện “lấy làm chơi-Bức Dư Đồ Rách của Tản Đà.
MINH VŨ TÔNG THỰC LỤC. (phần in chữ nhỏ dành cho người thích tra cứu.)
Thực lục ngày 17/6HT18(17-7-1505). Con của quốc vương CT là Sa Cố Bốc Lạc sai sứ Sa Bất Đăng Cổ lỗ sang cống, xin đại thần đến cảng Tân Châu phong tước nhưng không tâu rõ cha mất. lời tâu của Lương Bật có đoạn “Lời di huấn của Hoàng Tổ cho rằng Chiêm Thành triều cống  mang thương nhân đi theo, nhiều trí trá, cần ngăn cấm… thực hư khó biết… kỳ thực quốc vương nước này lập hay không, không lệ thuộc vào việc phong tước hay không phong tước… nếu không xử trí được vấn đê lãnh thổ, lại đến phong, nếu sứ giả bị câu lưu để chờ phân xử, không biết triều dình xử trí như thế nào…”Bộ lễ họp bàn nói CT không cáo ai, không nói rõ năm tháng Cổ Lai mất. Vậy sai ty Bố Chánh Quảng Đông gửi văn thư để nước này  trình báo. Hoàng Thượng chấp nhận(TL ngày ). Thực lục ngày 13/7HT18(12-8-1505). Ban phẩm vật cho sứ CT.
Thực lục ngày 26/7Chính Đức(CĐ) thứ 5(30-8-1510). Thế tử Cố Sa Bốc Lạc sai chú là Sa Hệ Bà Ma đến xin phong. Bộ Lễ tâu có đoạn “Sa Hệ Bà Ma đến kinh đô đã 1 tháng, quan bạn tống và  mang sản vật địa phương vẫn còn đi sau , nên trị tội trì hoãn.” Ban thưởng sứ CT. Về quan bạn tống, lệnh ty Pháp xét hỏi.
Thực lục ngày 3/8 CĐ5(5-9-1510). Sai chánh sứ Lê Vu Thông và phó sứ Lưu Mật đi phong vương cho CT. Thực lục viết nói trước đây sai Lý Quán đi sứ phong vương cho CT. Quán đến Từ Châu, gặp cướp cắt ngắn tóc; tâu xin dưỡng ở nhà, chờ tóc dài rồi đi. Được chấp thuận. Sau đó Mật chết trên đường đi; Quán đến Quảng Đông tâu mấy lần nên việc trì hoãn đến 7 năm không đi; triều đình bàn cho nước này lãnh sắc phong mang về. Thực lục ngày 20-9-1510 viết nói ban cho sứ Sa Hệ Bà Ma phẩm vật.
Thực lục ngày 13 tháng Chạp 7(19-1-1513). Thực lục viết về Lý Quán và Lưu Mật đi sứ phong vương cho CT trước đây. Họ nhận sắc. Đến Quảng Đông, Mật bị bịnh chết. Sai Lưu Văn Thụy đi thay. Thụy chưa đến, Quán tâu nói có những năm CT không đến cống. Mới đây các quan bàn không nên đi xa để phong. Vậy xin tuyên sắc phong tại quán dịch Hoài Viễn tại Quảng Thành, cùng ban thưởng cho vua CT. Lệnh cho sứ là bọn chú vương Sa Hệ Bà Ma lãnh mang về. Bộ Lễ bàn nói Sa Cố Bộc Lạc xin phong đã hơn 2 năm. Nay vô cớ dừng lại là sai với chế độ phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt. Sa Hệ Bà Ma không tuân theo hay phong cho người khác để đi đến tranh chấp thì xử sự làm sao. Xin như cũ sai Quán đến sắc tại nước này để khỏi thất tín với ngoại Di và giữ thanh danh TQ. Hoàng Thượng chấp nhận.
Thực lục ngày 16/710(25-8-1515). Thực lục viết nói sứ CT bọn Lục Na Ba lãnh sắc phong trở về nước. Thực lục viết tiếp việc sứ Lý Quán đi phong. Đến Quảng Đông xin lệ sắc phong cho Cổ Lai là cho sứ thần CT nhận sắc mang về nước. Đình thần bàn không nên phong để sứ mang về. Lệnh Quán phải đi gấp. Quán lại tâu: “Đi sứ nơi xa cần có hướng đạo biết đường, thông dịch viên biết ngôn ngữ và chữ viết; nay tất cả đều không có, xin bàn và phân xử.” Đình thần bàn lại: “Lệnh các quan tuần phủ dịa phương, bằng mọi cách tìm cho được người hướng đạo và thông dịch. Nếu không có được; chấp nhận theo lệ cũ thi hành.” Quán lại tâu nói phụng mệnh đã hơn 5 năm. Mấy lần dâng sớ lên nhưng chưa quyết định cách đi. Sợ sóng gió. Lời tâu có đoạn “nhưng đáng lưu ý là đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc; không còn ở chỗ cũ, xét không thể đi được” Quán tâu tiếp nói Cổ Lai là đầu mục giết vua đoạt ngôi. Vua có 3 con, hiện còn một. Không mang quân đi hỏi tội thì cũng chấm dứt đường triều cống. Cho họ lãnh sắc phong mà đi. Cần gì phải kiếm hướng đạo thông dịch, họp bàn vô ích. Tuần án Quảng Đông ngự sử Đinh Giai tấu tương tự. Họp bàn. Lời bàn có đoạn “Trung Quốc đối các Di Địch, đến thì vỗ về, không đến thì cắt đứt. Nay thế tử ở rừng núi bưng biền không đến được; vậy nên ra lệnh Tuần Án Quảng Đông triệu chánh sứ Lục Na Ba đến dụ rằng sứ thần không thể đi xa được, rồi lấy sách phong cùng lễ vật từ quán trao cho sứ thần mang về. Như vậy không mất lòng nước Di xa xôi, mà toàn vẹn thể chế của Tiều đình.” Chiếu chấp nhận rồi lệnh Quán trở về
Thực lục ngày 5/815(16-9-1520). Sứ và chú vua là Sa Một Đế Đại triều cống. Thực lục ngày 25-1-1521 viết nói Quốc vườn CT Sa Cổ Bốc Lạc sai chú là Sa Một Đế Đại, chánh phó sứ Sa Bát Thoat Na Biện sang cống và tạ ơn sắc phong..
MINH THẾ TÔNG THỰC LUC .
Thực lục ngày 3/Một Gia Tĩnh thứ 15(16-11-1536). Thực lục nói Annam 20 năm nay không làm tròn chức cống. Hãy sai sứ hỏi tội(Triều nhà Mạc). Thực lục ngày 26-11-1536. Bộ Binh họp bàn chinh phạt. Thực lục ngày 7-12-1536. Ban chiếu có thể thi hành chinh phạt Annam. Thực lục ngày 12-1-1537. Đình chinh phạt, đợi vệ Cám Y khám tâu. Thực lục ngày 13-3-1537. Sứ vua Lê Trang Tông sang. Triều đinh câu lưu sứ để xét hỏi việc nhà Mạc đoạt ngôi. Thực lục ngày 24-4-1538. Cho Mao Bá Ôn nhận chức Tổng Đốc Tham Tán trông coi lục quân được tiện nghi hành sự.
Thực lục ngày 21/6GT22(22-7-1543) vua Công Sa Nhật Đế Tề sai chú là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ sang cống. Thực lục ngày 11-8-1543. Sứ Bất Đăng Cổ Lỗ xin lệ cấp cho mũ và dây đai, than nước mấy lần bị Annam đánh phá, đường sá trở ngại không về được, xin cho người hộ tống xuất cảnh. Được chấp nhận.
KẾT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG SA CỐ BỐC LẠC(SCBL)CÔNG SA NHẬT ĐẾ TỀ. Cổ Lai chết. Con là SCBL sai chú là Sa Bất Đăng Cổ lỗ sang nhà Minh xin đại thần đến cảng Tân Châu phong vương nhưng không khai báo cha mất lúc nào và đất đai ra sao nên triều đình lệnh ty Bố Chánh Quảng Đông gửi văn thư để CT trình báo(TL ngày 17-7-1505).
Lại sai chú là Sa Hệ Bà Ma xin phong. Sứ đến kinh đô đã 1 tháng nhưng quan bạn tống và mang phẩm vật vẫn còn đi sau. Ban thưởng sứ và lệnh ty Pháp xét hỏi quan bạn tống về tội trì hoãn(TL ngày 30-8-1510). Đường sứ đi ngược trở lại, từ nhà Minh sang CT cũng không thông. Sự đi phong vương gặp khó khăn vì sứ nhà Minh ngại đi đến CT, tìm cách thoái thác không đi. Triều đình sai chánh sứ Lê Vu Thông và phó sứ Lưu Mật đi phong vương cho CT(TL ngày 5-9-1510). Đầu tiên sai Lý Quán đi rồi nội bộ sửa lệnh bắt Thông đi. Rồi Thông khiếu nại nên lệnh Quán Đi(5-9-1510).  Đến Từ Châu, Quán bị cướp cắt tóc, tâu xin dưỡng ở nhà, chờ tóc dài rồi đi. Sau Mật chết trên đường đi. Quán đến Quảng Đông tâu mấy lần nên việc trì hoãn đến 7 năm không đi. Bàn cho CT lãnh sắc phong mang về(TL ngày 5-9-1510). Ban cho sứ Sa Hệ Bà Ma phẩm vật(TL ngày 20-9-1510). Thực lục lại nói chuyện Quán đi sứ. Mật bị bịnh chết nên sai Lưu Văn Thụy đi thay. Thụy chưa đến thì Quán tâu nại lý do có những năm CT không đến cống và mới đây các quan bàn không nên đi xa để phong vì vậy nên tuyên sắc ở quán dịch Hoài Viễn tại Quảng Thành cùng ban thưởng cho vua CT. Lệnh cho Sa Hệ Bà Ma(SHBM) lãnh mang về.  Bộ Lễ bàn nói xin phong hơn 2 năm nay vô cớ dừng lại thì sai với chế độ phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt. Nếu SHBM không tuân theo hay phong cho người khác thì xử lý làm sao. Xin sai Quán đi đến phong tại nước CT. Hoàng Thượng chấp nhận(TL ngày 19-1-1513). Đến Quảng Đông, Quán lại xin lệ phong cho Cổ Lai là cho sứ nhận sắc phong đem về nước. Bàn không nên và lệnh Quán phải đi gấp. Quán lại tâu xin hướng đạo(HĐ) và thông dịch(TD). Bàn lệnh quan địa phương tìm cho được HĐ và TD. Không có thì chấp nhận lệ cũ. Quán lại tâu nói sợ sóng gió. Và nói “nhưng đáng lưu ý là đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc; không còn ở chỗ cũ, xét không thể đi được” Quán lại tâu nại lý do Cổ Lai là đầu mục giết vua đoạt ngôi. Vua có 3 con hiện còn một. Không mang quân đi hỏi tội thì cũng chấm dứt đường triều cống. Cho họ lãnh sắc phong mà đi. Cần gì tìm HĐ, TD, họp bàn vô ích. Tuần án ngự sử Quảng Đông tâu tương tự. Họp bàn. Lệnh tuần án Quảng Đông triệu Lục Na Ba đến nhận sắc phong, lễ vật mang về nước. Lệnh Quán trở về(TL ngày 25-8-1515). Thực lục ngày 16-9-1520 viết nói sứ và chú Sa Một Đế Đại của vua sang triều cống. Thực lục ngày 25-1-1521 viết nói quốc vương Sa Cố Bốc Lạc sai chánh phó sứ Sa Bát Thoát Na Biện sang cống và tạ ơn sắc phong.
Rất lâu sau CT mới đáp lễ chứng tỏ đường đi sứ không thông, rất khó khăn. Trong đoạn này thấy rõ nước Nam Bàn ở sâu trong nội địa, xứ Xích Khâm bang, Đô Lang quốc. Có phải là xứ đất đỏ Ban Mê Thuộc  là vương quốc của triều vương Sa Cố Bốc Lạc?
Đời vương tiếp theo là Công Sa Nhật Đế Tề Đến đời Minh Thế Tông, thực lục ngày 3/Một Gia Tĩnh thứ 15(16-11-1536) nói việc Annam 20 năm không cống nên sai quân đi hỏi tội. Viết việc tháng 11-1540, ĐVSKTT viết “Mạc Đăng Dung cùng với cháu là…bề tôi là…qua trấn Nam Giao, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không, đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử.”(Lê Trung Hưng kiện nhà Mạc tiếm ngôi).
Thực lục ngày 22-7-1543 vua Công Sa Nhật Đế Tề sai chú là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ  sang cống. Thực lục ngày 11-8-1543 viết nói sứ Bất Đăng Cổ Lỗ xin lệ cấp mũ và dây đai, than bị Annam mấy lần đánh phá, đường sá trở ngại không về được, xin cho người hộ tống. Vua Công Sa Nhật Đế Tề ở vào thời Trịnh Kiểm(1545-1570) nắm quyền nhà Lê Trung Hưng.
Thời Lê-Trịnh biên giới phía Nam(BGPN) do biên thần ở phủ Hoài Nhân coi giữ. Chiêm Thành không lợi dụng nước có nội chiến tiến chiếm đòi đất là do công của biên thần. Đến đời triều Trịnh Tùng(TT) có 2 lần TT củng cố BGPN. Lần thứ nhất khoảng năm 1578. Năm 1573, TT dẹp được Lê Cập Đệ và Trịnh Cối, chế ngự được quân Mạc, diệt vua Anh Tông, tôn vua Lê Thế Tông lên ngôi. TT chuyển sang việc củng cố BGPN. Năm 1578 sai Lương Văn Chánh đánh vào Hồ Thành. Lần thứ 2 vào năm 1597. Năm 1592 TT lấy lại được Đông Đô(Thăng Long) cho nhà Lê từ tay nhà Mạc. Năm 1593 TT truy đuổi tàn quân nhà Mạc lên tận biên giới phía Bắc. Tháng 5 Nguyễn Hoàng theo về. TT trở lại củng cố BGPN. Năm 1596 tưởng thưởng công biên thần Lương Văn Chánh(LVC) làm quan ở huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhân. Năm 1597 sai LVC đi khai hoang đất phía Nam đèo Cù Mông. Về sau, triều vua Nguyễn vinh danh LVC là Tiền Trấn Biên quan(tiền là có trước đây), một trong số các trấn biên quan có công trong công cuộc Nam Tiến của chúa. Người đời nay lầm ông là Thần Hoàng dựng đặt đất Phú Yên.
Viết việc tháng 3-1509, ĐVSKTT viết: “Thánh Tông thân hành đi đánh Chiêm bắt được Trà Toại và vợ con nó đem về nước ta an trí ở ngoài cữa Bảo Khánh gần 30 năm. Đến đời Cảnh Thống(1498-1504), con là Trà Phúc mang trộm hài cốt của cha là Trà Toại trốn về nước… Trà Phúc đã trở về nước sai con là Ma La sang cầu viện nhà Minh, lại đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương.” Triều Trà Phúc thuộc dòng vua Nam Chiêm Thành(NCT). Trong ký ức, người NCT đời sau nhớ rất ít về việc và nhân vật lịch sử ở Bắc Chiêm Thành(một số tác giả trên mạng). Họ lẫn lộn nhiều vị vua với nhau và nhiều sự kiện với nhau. Người NCT tôn thờ vị anh hùng dân tộc Trà Duyệt, Trà Toàn, Trà Toại và có tháp thờ các vị vua này ở Ninh Thuận. Các cát cứ địa phương và các vua NCT tiếp tục đánh vào phủ Hoài Nhân. Cho tới năm 1611, xứ Nam Hà của chúa Nguyễn mới vượt qua bên kia đèo Cù Mông. Công giữ vững biên giới phía Nam Đại Việt của biên thần LVC không nhỏ. Công dựng đặt phủ Phú Yên là công của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hậu duệ của ông.
MỘT CHÚT VỀ ĐỊA HÌNH ĐẮC LẮC, CỮA NGÕ PHÚ YÊN.
Đắc Lắc-Gia Lai là “phần trũng” của cao nguyên Nam Trung Bộ. Độ cao khoảng 500m(vùng tô màu hồng trong bản đồ Jm Henthorn). Phía Bắc là cao nguyên KonTum cao chớn chở(tô màu đỏ) với các ngọn núi cao 2378m ở ranh QuảngTín-KonTum, ngọn cao 2299m ở ranh KonTum-QuảngNgãi. Từ đó phát ra nguồn của sông VuGia, ThuBồn đổ nước về Bắc, nguồn của sông Trà Khúc đổ về Bắc rồi sang Đông, nguồn sông Côn đổ về Nam. Về phía Nam KonTum có ngọn Ngọc Krinh(2066m) phát ra nguồn Sông Ba chảy về Nam và ở phía Tây.  Từ KonTum chảy về Tây có sông Sesam đổ nước vào sông Mekong.
Phía Nam ĐắcLắc-GiaLai cũng là một cao nguyên cao chớn chở(tô màu đỏ), cao nguyên LangBiang với ngọn chư YangSin(2442m), chư TuSa(1977m) ở Phía Bắc. Phía Đông giáp ranh với Khánh Hòa có ngọn Hòn Giao(2062m) và giáp ranh với Ninh Thuận có ngọn Bidoup(2287m).  Từ đây phát ra nguồn sông Krong Kno chảy về Tây vào sông Srepok rồi vào sông MeKong, phát ra nguồn sông ĐồngNai chảy về Nam và phát ra nguồn sông Cái ở Nha Trang chảy về Đông.
Sông Ba chảy qua và ở trên cao nguyên thấp lè tè và rộng lớn này, ở cao độ 500m: cao nguyên đất đỏ GiaLai-Đắc Lắc. Sông Ba ngoặc sang Đông chảy về Phú Yên. Thung lũng sông Ba có phải là cửa ngỏ vào Tây Nguyên hay không? Đi máy bay trông xuống ta sẽ tháy cái cữa ngỏ này. Máy bay(MB) từ Tân Sơn Nhất bay thẳng lên Bắc. Trông xuống, khách du thấy núi rừng trùng trùng điệp điệp. Bỗng nhiên khách thấy bên dưới máy bay “một trãng” đất đỏ rộng lớn như một vùng “toàn cỏ tranh” và đồi Thấp. ĐắcLắc-GiaLai là đây. Ngoặc sang Đông chẳng bao lâu, thì MB đáp xuống phi trường ĐôngTác. Vào thời Minh Mạng, nước Thủy Xá Hỏa Xá theo cửa ngỏ này vào cống. Tiền trạm là đồn Phúc Sơn(Củng Sơn). Biên thần Phú Yên tiếp sứ và báo về triều Đình Huế.
Mùa kỷ niệm Chiến Tranh Trung-Việt 17-2- 1979 ở biên giới phía Băc. Thuộc đoạn sử và địa lý như trên đây thì ta sẽ yêu quê hương đất nước bội phần. Ta Không thể có hành động phản cảm như các DƯ LUẬN VIÊN xua đuổi những người đến thắp hương tri ân những vị vì quốc vong thân để bảo vệ biên cương cho được vẹn toàn, dưới tượng đài vua dựng nước Đại Việt là Lý Thái Tổ. 17-2-2017, Ongtampy.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét