Tựa đề như thế
để nói lên Phú Yên là cửa ngỏ
của DacLac hay của cả Tây Nguyên. Từ Phú Yên lên Tây Nguyên, người ta có thể
sang Lào, Chân Lạp và xuống tận Gia Định(xem bài viết ChuVanTiếp-ThượngĐạo
PhúYên).
THEO DÒNG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI. Năm 1831, đời Minh Mạng, nước Việt Nam gồm 31 tĩnh
trông na ná như các phủ trong 13 thừa tuyên thời vua Lê và chúa Nguyễn trên bảng
đồ HồngĐức : LạngSơn/BắcNinh/TháiNguyên/CaoBằng/TuyênQuang/HưngHóa/SơnTây/QuảngYên/HảiDương/HàNội/HưngYên/NamĐịnh/NinhBình/ThanhHóa/NghệAn/HàTĩnh/QuảngBình/QuảngTrị/ThừaThiên/QuảngNam/QuảngNgãi/BìnhĐịnh(PhúYên/KhánhHòa/BìnhThuận/BiênHòa/GiaĐịnh/ĐịnhTường/VĩnhLong/AngGiang/HàTiên
thời chúa Nguyễn). Vua Minh Mạng chia nước thành tĩnh theo cách nhà Thanh bên
Tàu. Tĩnh chia ra phủ, huyện, châu. Như vậy phủ chỉ to bằng huyện, nhỏ hơn phủ trong
13 thừa tuyên đời Lê Thánh Tông ví dụ như phủ Thăng Hoa, Hoài Nhân, và phủ Tư
nghĩa ở thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ, 9 huyện. Năm 1834-1838 xuất hiện bảng đồ
ĐạiNamNhâtThống ToànĐồ. Nhìn bảng đồ này ta có cảm tưởng phía Tây Nam Trung Bộ của
nước gồm cả đất TâyNguyên ngày nay vì có hình ảnh con sông MeKong được vẽ lên
sát cạnh các tĩnh duyên hải NamTrung Bộ. Trở về đoạn lịch sử thì người ta biết
thời Minh Mạng nước ta có cả trấn TâyThành. Việc người Việt biết rõ sông MêKong
là điều cầm chắc nhưng phần đất bên tả ngạn sông này không biết người Việt đặt
chân tới đâu mà thôi.
Rồi người Pháp đến xâm chiếm,
khai phá và bảo hộ Đông Dương theo các hiệp ước đã ký kết với các chính quyền
người bản xứ hay với lân bang của họ như ký hiệp ước với triều nhà Thanh bên
Tàu về biên giới phía Bắc. Đất Tây Nguyên bây giờ rõ ràng xuất hiện trên bảng đồ
Đông Dương và những đơn vị hành chánh ở đó xuất hiện trên các văn bản. Năm
1953, người Pháp rút về nước, chính thức trao trả đất đai lại cho người bản xứ
thì biên giới phía Bắc tồn tại nguyên trạng cho tới ngày gần đây và Tây Nguyên
cùng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về người ViệtNam. Đất nước của ông
cha(vua Lê Thánh Tông) để lại không một chút sứt mẻ dù một tấc đất mà có khi
còn to lớn thêm ra(đời chúa và vua Nguyễn).
Cuối thế kỷ 19, người Pháp thành
lập Xứ Thượng Nam Đông Dương. Ông Yersin từng lê gót khắp xứ này. Năm 1891 lần
đầu tiên ông đặt chân lên cao nguyên Djiring(DiLinh). Năm 1892 Yerin làm một hành
trình khám phá từ Ninh Hòa đến DacLac gặp tù trưởng M’Siao rồi đến Stung Treng
bên bờ sông MêKong. Năm 1893 ông lên đây một lần nữa. Năm 1893 với 7 tháng
trong Xứ Thượng ông khám phá ra cao nguyên LangBiang và rảo một vòng toàn bộ
cao nguyên ở phía Nam Rặng Đại Lãnh. Năm 1894 Yersin lên cao nguyên LangBiang
kiểm tra lại dữ liệu đã ghi chép. Tới Dankia, ông vượt Rặng Đại Lãnh, đến
ĐăcLac, KonTum, Attopeu(NamLào), về ĐàNẵng rồi sang HongKong phám phá ra vi
trùng dịch hạch.
Bước tiếp theo vào cuối thế
kỷ 19, người Pháp lập đại lý hành chánh KonTum, trong đó có địa phận
DacLac. Pháp sát nhập Đại Lý Hành Chánh KonTum vào Lào. Một chút nói về địa
hình. Chỗ gần 3 biên giới Thái-Lào-Miên(stung Treng), từ sông MeKong phát ra 2
con sông. Tong Le Kong chạy lên ĐôngBắc, vào cao nguyên Attopeu. Ton Le San chạy
sang Đông rồi chia 2 nhánh. Ton Le San tiếp tục lên ĐôngBăc, vào cao nguyên
KonTum, băng qua thị xã KonTum(đoạn này gọi là sông Sesan). Nhánh Ton Le Srepok
chạy xuống phía ĐôngNam, tới BanDon rồi vào CaoNguyên LangBiang(bảng đồ Jm
Henthorn). Có một thời người Lào ngược dòng Srepok đến định cư ở BanDon. Địa
hình và duyên nợ như thế nên có một thời DacLac(DL) được người Pháp sát nhập
vào Lào(cao nguyên Attopeu).
Ngày 22-11-1909, DL
tách ra khỏi Lào. Toàn quyền Đông Dương đặt DL dưới quyền cai trị của Khâm sứ
Trung Kỳ. Ngày 9-2-1913 tĩnh KonTum được thành lập. DL trở thành đại
lý hành chánh trực thuộc tĩnh KonTum. Ngày 2-7-1923, tĩnh DL được tái thành lập lại.
Lúc đó chỉ có đơn vị là làng(buôn), chưa chia huyện và tổng. Trong lần cải cách
hành chánh toàn ĐôngDương năm 1831, DL có 5 quận: BanMêThuộc, BuônHồ, DakSong,
Lak(LạcThiện) và M’Rak. Ngày 15-4-1950 Pháp trao trả 5 tĩnh của Xứ Thượng Nam Đông
Dương(ĐồngNai Thượng, LangBiang, DacLac, PleiKu, KonTum) cho vua Bảo Đại làm
Hoàng Triều Cương Thổ(HTCT). Ngày 10-8-1954 sát nhập HTCT vào Trung Phần VNCH. Ngày 2-7-1958
tĩnh DL có 5 quận như liệt kê ở trên với 21 tổng, 77 xã. Ngày 23-1-1959
tách gần toàn bộ DakSong lập ra tĩnh Quảng Đức, còn lại 4 quận, bỏ cấp tổng. Rồi
M’Drak bị xé một phần sát nhập vào tĩnh KhánhHòa. Ngày 20-12-1963
thêm quận mới là Phước An.
Hồi còn nhỏ, thời ở với Việt
Minh tôi được dạy “Gia Long cõng rắng cắn
gà nhà” và được dạy ca ngợi người anh hùng áo vải Quang Trung chống ngoại
xâm, được dạy ghét và chống Tây một cách triệt để với bất cứ giá nào. Lớn lên, tôi
được đọc nhiều sử liệu khách quan thời VNCH và ngày nay nhìn lại cái giá phải
trả chống Tây một cách cực đoan, viết đoạn này cứ mà tủi tủi cho non sông đất
nước bỏ lỡ cơ hội chống Tây một cách ôn hòa và sáng suốt như Phan Châu Trinh để
cho quốc gia không những không bị sứt mẻ biên cương mà còn tự cường để được vẻ
vang như lân bang Thái Lan, Singapore và Hàn Quốc.
TRỞ VỀ ĐOẠN LỊCH SỬ XA HƠN, THỜI NƯỚC NAM BÀN-THỦY XÁ
HỎA XÁ. Tháng Giêng năm 1471 vua
Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành, ngày 27 phá thành ĐồBàn(Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư(ĐVSKTT)). Khâm Định Việt Sử(KĐVS) nhà Nguyễn viết rõ chuyện này hơn. “Thành Hòa thứ7(1471)…hạ được thành Đồ Bàn, bắt được Trà Toàn. Bồ Trì Trì chạy vào PhanRang chiếm
2/5(ĐVSKTT nói 1/5) đất Chiêm Thành.
Lê Thánh Tôn phong vương cho Bồ Trì Trì và phong 2 tước vương nữa cho nước Hoa
Anh và cho dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương.”Phần ghi chú viết: “Từ phủ Hoài Nhân theo đường thượng đạo đi mất
14 ngày thì tới nước ấy, tức là nước Thủy Xá Hỏa Xá bây giờ. Nước Hoa Anh về
sau mòn mõi suy yếu.” Nam Bàn là đâu, Hoa Anh ở đâu, hậu sinh mù tịt. Từ đấy
nhiều sử liệu cứ ghi biên giới phía Nam Đại Việt là núi Thạch Bi thành quán
tính, không biết Thạch Bi là núi Đá Bia hay núi MẹBồng Con(chư Mư).
Trở về đoạn lịch sử bi ai đầy
máu xương, nước mắt của chủng tộc Chiêm Thành và lịch sử hào hùng dựng nước và
giữ nước của nhà Lê sau trận hạ thành Đồ Bàn(Vijaya).
Trước hết nói về dòng vua NamBàn của
nước Chiêm Thành. Chuyện gần 5 thế kỷ trước(982-1471), vua Lê Đại Hành chém Bi
Mi Thuê tại trận, bắt sống quân sĩ nhiều vô kể, cùng kỵ nữ trong cung 100 người,
thu vàng bạc của báu kể hàng vạn, san bằng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một
năm thì trở về(ĐVSKTT, đoạn viết việc năm 982).
Năm 983 sai người con nuôi bắt Quảng Giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại Chiêm
Thành đem đi chém(ĐVSKTT). Hồ Văn Châm nói vua lưu quảng giáp Lưu Kế Tông(LKT) ở
lại làm vua nước Chiêm Thành. Indravarman IV trốn vào Nam. Năm 986 Indravarman
IV chết. LKT tự lập làm vua. Năm 988, người Chiêm Thành nổi dậy chiếm miền Vijaya(Đồ
Bàn) tôn người nổi dậy lên ngôi vua hiệu là Ku Xri(Sri?) Harivarman II, sử ta gọi
là Băng Vương La Duệ. Lưu Kế Tông lo buồn, sinh bệnh chết(tập họp nhiều tác giả
trên mạng). Năm 988 Băng Vương La Duệ ở Phật Thành tự đặt hiệu là Câu Thi Lị Ha
Thân Bài Ma La(ĐVSKTT). Sri Harivarman II, gọi là Băng Vương La Duệ lên ngôi
năm 988, lấy Phật Thành làm kinh đô(wikipedia). Kinh đô Đồ Bàn được dựng lên đồng
thời với kinh đô Thăng Long của ta. Từ đấy sử gia gọi nước Chiêm Thành với kinh
đô ở Đồ Bàn thay vì gọi là nước Hoàn Vương khi kinh đô còn ở Đồng Dương. Vận mệnh
nước Chiêm Thành từ đó nổi trôi, thịnh suy từ triều vương(TV) thứ 7. Khi thì họ
đóng đô ở phía Nam ở Đồ Bàn hay ngay cả ở PhanRang(Panduranga), khi trở về kinh
đô Đồng Dương như nước Hoàn Vương hay nước Lâm Ấp trước đó. Sử gia đời xưa lầm
lẫn Thành Phật Thệ(TPT). Khi thì mô tả TPT ở Huế(thành Khu Túc), khi thì mô tả nó
như là kinh đô Đồng Dương ở Quảng Nam, khi thì mô tả như là thành Đồ Bàn. Chiêm
Thành là dân tộc sùng đạo Phật. Kinh đô của họ lúc nào cũng có nơi thờ Phật
nguy nga ở bên cạnh. Do đó mà có danh từ thành Phật Thệ chăng? Ngày nay các
trang mạng liệt các triều vương Chiêm Thành từ năm 991 đến năm 1044 là triều
vương(TV) thứ7.
TV8(1044-1074),
TV9(1074-1139),
TV10(1139-1145),
TV11(1145-1318),
TV12(1318-1390),
TV13(1390-1458),
TV14(1458-1471).
Triều vương thứ 13 có các vua truyền từ vua La Ngải, Ba Địch Lai, Maha Vijaya
còn gọi là Maha BiCa(Bí Cái), Maha Qui Lai, Maha Qui Do thần phục Đại Việt. Sau
cái chết tại trận tiền của Chế Bồng Nga, La Ngải dẫn quân lui về Nam lập ra triều
vương thứ 13. Triều Lê cho vua triều đại này là chánh thống và là vua Nam Bàn. TV thứ 14 gồm Trà Duyệt, Trà Toàn, Trà Toại
là triều của người dân thường ở Thị Nại nổi lên chiếm ngôi TV 13 và chống lại Đại
Việt. Triều Lê xem triều này không chính thống. Chiếu thư của vua Lê Thánh Tông
đánh ChiêmThành có đoạn “Người Chiêm
Thành ở Thị Nại,
bàn La Trà Duyệt là con người vú nuôi, giết chúa hắn là Bí Điền, mà cướp lấy nước
rồi truyền cho em là trà Toàn. Trà Toàn là đứa hung bạo, làm càn…dối thần ngược
dân…ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, lăng nhục sứ thần…quấy nhiễu
biên giới…lừa gạt người Minh để xin viện trợ”(ĐVSKTT viết việc tháng
11-1470). Sau trận hạ thành Đồ Bàn, vua Lê phong “dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn Quốc Vương, chia đất từ núi Thạch Bi về
phía Tây”(KĐVS). Dòng vua Nam Bàn
là dòng vua thuộc TV13. Minh Thực Lục cho biết hậu duệ của Trà Toàn, Trà Toại
và hậu duệ của vua Nam Bàn kiện cáo một cách quyết liệt với nhà Minh vụ Đại Việt
hạ thành Đồ Bàn rồi chiếm đóng đất của họ. Đất Nam đèo Cù Mông bất an triền
miên. Việc đánh bắt Trà Toại, ĐVSKTT viết vắn tắt: “tháng 11, ngày mồng 8 năm 1471, đánh Chiêm Thành bắt chúa là Trà Toại.”
Triều Lê giấu nhẹm việc ở biên giới phía Nam(BGPN) làm cho hậu sinh mù tịt đoạn
sử kế tiếp ở BGPN. Các sử liệu sau này, thời vua Nguyễn, nói rõ thêm ra.
SỬ LIỆU NHÀ NGUYỄN: KĐVS,
Chính Biên quyển 22 viết việc đánh bắt Trà Toại rõ hơn. Sách viết “Trà Toàn đã bị bắt, em hắn là Bàn La Trà Toại
trốn vào trong núi, sai sứ đem việc hoạn nạn của nước bá cáo nhà Minh và xin
nhà Minh phong vương cho, thống lĩnh 3 vạn quân đi đánh, bắt Trà Toại và bộ lạc
đem về kinh sư.”Đánh với 3 vạn quân là đánh lớn đấy. Đoạn sử liệu này phù họp
với Việt Sử Thông Giám Cương Mục Khảo Lược của Nguyễn Thông: “Thành Hòa thứ 7(1471) Annam đánh Chiêm Thành. Em nước ấy cho sứ
sang TQ cáo nạn. Thành Hòa thứ 8(1472)
sai sứ cầm cờ tiết sang phong cho em vua. Sứ giả đến cảng Tân Châu, người giữ cữa
biển kháng cự, sứ giả biết nước đã bị chiếm cứ, đổi gọi là châu Nam Giao.”
Phần cẩn án, KĐVS dẫn Minh Sử
trong truyện Annam viết “Năm 1471 Lê
vương đánh phá Chiêm Thành, bắt chúa là Bàn La Trà Toàn. Hơn 3 năm sau đánh bắt
em là Trà Toại rồi đổi nước ấy làm Nam Châu, đặt quân đóng đồn thú… Theo truyện Chiêm Thành thì sách ấy nói năm 1474, Annam sai đánh bắt Trà
Toại rồi lập cháu của vua nước ấy là Trai A Phất Am làm vua phong cho đất phía
Nam nước ấy.”
Trong Đại Việt Thông Sử, Lê
Qúi Đôn nói việc Lê Chí đánh Chiêm Thành xông lên phá giặc, bắt được Trà Toại,
được phong tước Bình Lương bá. Năm 1487 được phong tước Bình Lương hầu. Rõ ràng
có trận đánh Chiêm lần 2 mà ĐVSK viết vắn tắt để lờ đi. Bang giao bộ 3 Lê Thánh
Tông-Minh-Chiêm Thành có cái tế nhị như ban giao bộ 3 Lý Thánh Tông-Tống-Chiêm
mà Lê Qúi Đôn mô tả rất kỹ trong sách Lý Thường Kiệt. Bang giao bộ 3 Lê Đại
Hành-Tống-Chiêm cũng tế nhị như thế. Triều hậu Lê giấu việc xảy ra ở biên giới
phía Nam, không ghi vào sử sách. Số phận hậu duệ của vua Nam Bàn(Trai A Ma Phất
Yêm) sách ĐVSK cũng lờ đi. KĐVS thì nói rõ hơn.
KĐVS, Chính Biên quyển 24, viết
việc năm 1488, dẫn Minh Sử mục truyện Chiêm Thành viết nói không bao lâu Trai A
Ma Phất Yêm mất, năm 1481 em ông là Cổ Lai
sang nhà Minh kêu ca đòi kế vị và đòi đất Annam đã chiếm, năm 1484, vua Minh
sai Lý Mạnh Dương, Diệp Ứng đem sắc thư phong Cổ Lai. Sứ Minh bàn vì Đề Bà Đài
vụng trộm chiếm đất đai và vì Chiêm Thành ở xa xôi hẻo lánh, nên sợ phong vương
không thành sẽ mấy uy danh nên bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc và ra lệnh
Annam ăn năn hối lỗi. Vua Minh nghe lời. Cổ Lai lại đòi đích thân đến triều
Minh giải bày. Năm 1487 đình thần lại bàn sai đại thần đến an ủi Cổ Lai và ra dụ
khuyên Annam đón Cổ Lai về nước. Vua Minh sai Đồ Dung sang Quảng Đông, đưa hịch
sang Annam, rồi mộ 2.000 quân khỏe đi 20 chiếc thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về
nước. Sách không nói vào nước ở chỗ nào.
SỬ LIỆU LẤY Ở SÁCH MINH THỰC
LỤC(MTL). MTL ra đời sau này(hiện nay ở thư viện Hải Phú Phú Yên có phiên bản
chữ quốc ngữ). Trong đó bang giao bộ 3 nhà Lê-nhà Minh-triều Trà Toại hay nhà
Lê-nhà Minh-triều vua NamBàn được thực luc rõ ràng. Việc ở biên giới phía Nam Đại
Việt trở nên rõ ra. Ta có thể nhận ra nước Nam Bàn ở đâu. Nước Hoa Anh là gì. (Phần
in chữ nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục đề ngày 21/5TH8(Thành
Hòa8), tức ngày 27-6-1472 đăng lời sứ Lạc Sa của Chiêm Thành cấp báo
Annam đánh CT có đoạn “Vào tháng 2 TH7
quan Annam đến đánh phá kinh thành, bắt được quốc vương Bàn La Trà Toàn cùng
gia thuộc…nay em của vương là Bàn La Trà Duyệt tạm thời coi việc nước, cúi xin
phân xử.” Đoạn dẫn Minh Sử trên đây của KĐVS nói Minh Sử gọi lầm. Bàn La
Trà Duyệt là Trà Toại. Như vậy triều Trà Toàn còn tiếp tục tồn tại và thông sứ
với nhà Minh. Minh Thực Lục(MTL) viết tiếp nói thượng thư bộ binh tâu lên vua
Minh nói năm TH7 Annam tâu nói rằng
Chiêm Thành vượt biên xâm lăng, cần ngăn cản sự tàn ngược. MTL viết tiếp nói bộ binh tâu rằng Lê Hạo(Lê
Thánh Tông) có âm mưu chiếm Chiêm Thành(CT), Annam mấy lần đánh phá CT, bắt vua
nước này nên không có cách xử trí thì mất lòng qui phụ của CT, dung dưỡng kẻ
ngang ngạnh, nên sai quan sắc dụ bắt phải trả lại ấn tín, quốc vương cùng gia
quyến. Thực lục đăng: “bắt phải sai quan
đi, đợi sứ thần Annam đến sẽ trao sắc dụ.”
Thực lục ngày 22/6 TH8(27-7-1472)
viết nói phong cho Bàn La Trà Duyệt, em cố quốc vương Bàn La Trà Toàn kế lập chức
quốc vương Chiêm Thành. Thực lục viết nói Bàn La Trà Toàn bị An Nam bắt, ấn tín
bị lấy mất. Nay em là Bàn La Trà Duyệt tạm thời trông coi việc nước tâu xin
phong tước, cấp ấn tín. Bộ Lễ tâu xin theo lệ sai quan đến phong thế tử Ma Ha
Bi Cai(nhà Minh lầm triều Trà Toàn với triều trước) để làm vẻ vang cho lời xin.
Được chấp nhận, Hữu cấp sự trung
khoa Công Trần Lăng, hành nhân Lý Sang thuộc ty Hành Nhân đến phong. Sách MTL không
nói lần này sứ thần có vào được nước Chiêm Thành hay là không.
Thực lục ngày 5/9 TH8(6-10-1472)
viết nói sứ thần Lại Sa Lộng Chiêm Thành đến cống. Việc sứ Chiêm đến đáp lễ chứng
tỏ sứ nhà Minh đã đến phong.
Thực lục ngày 6/9 TH8(7-10-1472)
viết nói Bồi thần Bùi Viết Lương An Nam đến cống. Sứ Annam đến cống có thể là đến
biện bạch việc đánh Chiêm chăng?
Thực lục ngày 13/9TH8(14-10-1472)
viết nói sắc dụ Lê Hạo chớ xâm vượt lãnh thổ Chiêm Thành. Hạo sai Nguyễn Đức
Trinh dâng thư tự trình bày nói Chiêm Thành xâm lấn Hóa Châu. Gởi binh tiếp viện.
Chiêm Thành làm phản nên bị thua. Thực lục viết tiếp nói Hoàng Thượng sai Đức
Trinh mang sắc dụ Lê Hạo đem về Annam. Dụ nói là Chiêm Thành tâu tháng 2 TH7 Hạo
đánh phá bắt quốc vương thân thuộc hơn 50 người, cướp ấn, đốt nhà cữa, giết người
già trẻ em không kể xiết. Hoàng Đế cho rằng lời riêng không tin được. Nay nhân
được tâu, lời ý đều khác. Dụ có đoạn: “nhưng
nước vương với Chiêm Thành thế lực lớn
nhỏ không cần phải biện thuyết. Nếu bọn họ gây hấn trước, thì thật không biết độ
đức lượng sức nên gây ra sự bất nghĩa; nếu vương vin vào việc họ quấy phá nhỏ,
rồi giận lên hiếp kẻ yếu gây hấn lớn thì hợp với dạo nghĩa ư! Khi sắc đến vương nên bỏ qua những mất mát nhỏ tăng điều
đại nghĩa, trả lại những người bị bắt, răn đe quan lại nơi biên giới đừng sinh
sự lập công, hưng binh gây oán hoặc chyên việc báo thù gây nên sự đau buồn, ngỏ
hầu trời soi sáng, vĩnh viễn hưởng danh thơm. Khâm thử!” Việc rất rõ ràng:
Sứ Chiêm đến tố giác, sứ Việt đến biện minh, triều minh ra dụ phán quyết bảo sứ
Việt mang về trao lại cho vua Lê và răn bảo như trên.
Thực lục ngày 14/12TH10(21-1-1475) viết:
“Hữu cấp sự trung khoa Công Trần Tuấn đi
sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại thứ đã mang đi như… Bọn Tuấn đi
sứ Chiêm Thành để phong cho quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng
Tân Châu Chiêm Thành, quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch
cho biết đất này đã bị An Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn.
Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất
Chiêm Thành đổi tên thành châu Nam Giao. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền
chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân nên giả lấy cớ bị gió bão ghé vào rồi
đi tiếp đến Mãn Lạt Gia buôn bán, lại dụ vương nước này sai sứ đến triều cống.
Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành , cùng việc quốc
vương Mãn Lạt Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất
đầy đủ.” Ghi chú số 1997 của ĐVSK bảng điện tử nói Lạt Gia là Mãn Lạt Gia,
tức Malacca. Thực lục viết tiếp nói việc được đưa
xuống cơ quan hữu trách. Bộ Lễ tâu nói nên đợi sứ Mãn Lạt Gia nhập cống. Bộ
Binh tâu nói An Nam cậy mạnh thôn tính nước được triều đình phong tước. Việc
quan hệ không nhỏ. Nên bàn luận rộng rãi. Bọn Anh Quốc Công Trương Mậu tâu hài
tội thảo phạt, nhưng có lời bàn nói nay chưa biết được nguyên do Chiêm Thành
diệt vong, không nên kinh động. Chờ năm sau vào kỳ An Nam vào triều cống.
Đoạn thực lục phù họp với
Minh sử viết về truyện Annam và truyện Chiêm Thành mà lời cẩn án của KĐVS trích
dẫn trên kia ở đoạn viết việc năm 1471: Trong truyện Annam Minh sử viết:“…Hơn 3 năm sau đánh bắt em là Trà Toại rồi
đổi nước ấy làm Nam Châu, đặt quân đóng đồn thú.”Trong truyện Chiêm Thành
Minh sử viết: “Theo truyện Chiêm Thành
thì sách ấy nói năm 1474, Annam sai đánh
bắt Trà Toại rồi lập cháu của vua nước ấy là Trai A Phất Am làm vua phong cho đất
phía Nam nước ấy.” Thời điểm 1474 ghi tromg sách Minh sử phù họp với thời
điểm ghi trong MTL: 1-1475.
Sự việc bây giờ mới sáng rõ
ra. Việc đánh bắt Trà Toại xảy ra 3 năm sau năm hạ thành Đồ Bàn. Đến đây, năm
1474, triều vương thứ 14(Trà Duyệt-TràToàn-TràToại) mới chấm dứt. Hậu duệ triều
vương thứ 13(Trai A Ma Phất Am) mới được Đại Việt phong lên thay và cho trấn giữ
đất ở phía Tây núi Thạch Bi như KĐVS nói trên đây. “Nam châu”(KĐVS dẫn Minh sử)
hay “châu Nam Giao”(theo Nguyễn Thông viết trên đây và theo lời sứ thần Tần Tuấn)
chắc là đất mới ở ĐồBàn. Đất Đại Chiêm-Cổ Lũy là đất cũ thời Hồ Hán Thương nay
lấy lại được.
SAU TRẬN HẠ THÀNH ĐỒ BÀN, TRÀ TOẠI Ở
ĐÂU? Câu trả lời là ở ĐồBàn và tiếp tục thông sứ với nhà Minh. Các sách sử đều nói
là em Trà Toàn trốn trong núi đem việc trong nước hoạn nạn bá cáo nhà Minh
nhưng không nói rõ là núi nào. Ở đây sứ Trần Tuấn nói núi đó có tên là Linh Sơn.
Có trang mạng nói Linh Sơn ở dãy núi Đèo Cả. Điều đó không chắc. Thực lục ngày
21-1-1475, MTL nói về chuyện sứ thần Trần
Công Tuấn đến cảng Tân Châu bị chận không vào được có đoạn: “Người thông dịch cho biết đất này đã bị An
Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn”. Thực lục ngày
18-10-1481 có đoạn sứ của Cổ Lai tâu: “Em
vương là Bàn La Trà Duyệt trốn chạy đến Phật Linh Sơn.” Vậy Linh Sơn ở đâu?
Tra sách Hồng Đức Bản Đồ thấy ở phần bản
đồ của Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư có địa danh “Phật Tĩnh”, “Phật Tĩnh Sơn”
ở gần thành ĐồBàn. Ở Giáp Ngọ Bình Nam Đồ(GNBNĐ), Phật Tĩnh Sơn được vẽ to ra;
trên đó ghi chú 7 chữ “tự” chỉ 7 ngôi chùa và 1 cái gì gọi là “Thạch Tĩnh.” Phật Tĩnh Sơn
là trung tâm tôn giáo linh thiêng ở bên cạnh kinh đô Đồ Bàn giống như thánh địa
Mỹ Sơn ở cạnh kinh đô Đồng Dương ở Quảng Nam. Gỉa thuyết đưa ra là “Phật Tĩnh Sơn” trước kia là Linh Sơn,
Phật Linh Sơn. Sau khi thành bị phá, tàn quân của em vua tụ về
đây lánh nạn rồi đưa sứ giả đến bá cáo triều Minh. Điều này có thể tin được vì trong
trận hạ thành em vua là Thị Nại và 6 viên đại thần đem 5.000 quân và voi ngầm đến
sát dinh vua Lê Thánh Tông. Khi rút lui, tàn quân Chiêm chạy đến núi Mộ Nô bị
chặn đường về, Lê Niệm chém được một viên đại tướng. Giặc tan chạy(ĐVSKTT). Như
vậy còn một lực lượng ở bên ngoài thành với 5 viên đại thần đủ để em vua nhiếp
chính sai sứ sang triều Minh cáo nạn nước. Trận đánh bắt Trà Toại phải xảy ra
chính tại ĐồBàn. Sứ Trần Công Tuấn đến ĐồBàn để phong vương chứng tỏ nhà Minh tin
Trà Toại còn ở ĐồBàn. Củng cố giả thuyết này là sự kiện ban giao tế nhị bộ 3 Việt-nhà
Minh hay nhà Tống-Chiêm Thành xưa nay nói trên, ta tin Lê Thánh Tông(LTT) chỉ
đánh bắt chúa Chiêm theo kiểu Lý Thánh Tông đánh bắt chúa Chế Củ rồi đem binh về
mà thôi. LTT chỉ lấy lại đất cũ Đại Chiêm-Cổ Lũy. LTT ngày mồng 7 /3 lấy người đầu
hàng là Ba Thái làm Đồng Tri Châu Thái Chiêm, Ba Thủy làm Thiêm Tri Châu và
phán: “Hai châu Thái Chiêm và Cổ Lũy trước
là đất của ta, đời gần đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách
sai bọn các ngươi trấn giữ. Có kẻ nào không chịu theo, cho giết trước rồi tâu
sau.”Sách không nói gì số phận đất ĐồBàn. Ba năm sau mới có trận đánh bắt
Trà Toại. Trận đánh bắt được sách ĐVSKTT đề câp một cách sơ sài vì sợ nhà Minh
đem quân sang như thời Hồ Qúi Ly. Sự can thiệp giúp Chiêm lấy lại ĐạiChiêm-CổLũy.
Tại vì ĐVSKTT đem việc phong vương cho Bồ Trì Tri, Hoa Anh và vua NamBàn vào đoạn
viết việc tháng
3 năm 1471 làm cho hậu sinh hiểu sai lịch sử ở biên giới phía Nam
sau trận hạ thành ĐồBàn. ĐVSKTT viết: “Năm
1471 tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống
được phong vương. Phong vương cho Hoa
Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại.”
Chiêm Thành tiếp tục cho sứ sang nhà Minh tố cáo Đại Việt xâm lấn đất đai. Năm
1488 tháng 12 vua Lê còn cho sứ Hoàng Bá Dương sang nhà Minh tâu việc Chiêm
Thành. Mãi tới năm 1490 mới định bản đồ toàn quốc gồm có 13 thừa tuyên. Thừa
tuyên thứ 13 là Quảng Nam thừa tuyên(ĐVSKTT). Chinh phục đất mới khó khăn như
thế. Hậu sinh lấy đó mà răn: Không nên dễ dàng để mất đất của ông cha để lại!
KÉT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG TRÀ TOẠI. Trong
trận hạ thành Đồ Bàn năm 1471, Trà Toại ở vòng ngoài với 5.000 quân và 6 viên đại
thần, bị chém 1 còn 5 vị(ĐVSKTT). Trà Toại tụ chúng ở Linh Sơn(Đồ Bàn?), tiếp tục
nhiếp chính, tiếp tục thông sứ với nhà Minh tố cáo Đại Việt bắt vua thu ấn tín,
xin nhà Mính giúp đỡ và phong vương. Triều tồn tại hơn 3 năm. Năm 1475 sứ nhà
Minh, Trần Công Tuấn, đến phong vương. Vào cảng Tân Châu, sứ mới hay đất này bị chiếm
đóng, đổi thành châu Nam Giao(MTL)(Trà Toại
và vợ con bị bắt đem về an trí ở ngoài cữa Bảo Khánh(cữa Nam) thành Thăng Long
gần 30 Năm. Đến đời Cảnh Thống(trước năm 1504), con là Trà Phúc mang trộm hài cốt
của cha trốn về nước-ĐVSKTT viết việc năm 1509).
Sau đó nhà Lê lập vua nước NamBàn và
phong một tước vương nữa cho nước HoaAnh(vua Đề Bà Đài?)
SỐ PHẬN HẬU DUỆ CỦA VUA NAM BÀN. Sau đây
là trang sử bi ai của hậu duệ vua NamBàn mất nước phải lưu vong vào núi rừng
Tây Nguyên.(Phần chữ in nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục đề ngày 25/8TH11(24-9-1475),
MTL đăng lời Lê Hạo(LH) tâu. LH nói Trà Toàn xâm phạm đạo Hóa Châu, bị em là
Trà Toại giết. Trà Toại tự lập làm vua, sắp xin cầu phong, lại bị con của Bàn
La Trà Duyệt là Trà Chất Đài Lai giết. Từ đó nước này loạn lạc nổi lên. Việc đó
không phải lỗi của nước ông. Nay tuân thủ chỉ dụ của Thiên Tử, dẹp binh đao,
hòa mục với lân bang, trả số người bị bắt. MTL viết tiếp nói lời tâu đưa xuống.
Bộ Binh trình lên nói lời của LH sơ lược, không giống lời của sứ Trần Tuấn. Thực
gian không quyết được. MTL đăng sắc dụ của hoàng thượng ban cho sứ thần Lê Hoằng
Dục vào cống ngày 20-9-1475 mang về nước. Trong sắc dụ vua Minh tin phần nào lời
của vua Lê và tin một phần nào lời của sứ Chiêm. Kết luận sắc dụ có đoạn: “Nhưng Chiêm Thành là nước truyền từ lâu đời,
trước kia há không có một lực lượng nào mạnh có sức thôn tính nước này, nhưng sử
sách chưa từng nghe, vậy bài học được mất
có thể thấy được. Nay nếu nước này thình
lình bị tiêu diệt, không những trái với chiếu chỉ của triều đình; mà còn e bị các nước phiên tại hải ngoại sinh sợ, rồi
gây sự tranh giành, như vậy đối với vương có lợi ư!. Sắc đến vương nên sửa đổi”
26/3TH14(28-4-1478), MTL đăng lời tâu của Lê Hạo. Đoạn
trên vua Lê biện bạch cuộc chiến trước 1475 là Trà Toàn bị em là Trà Toại giết,
tự lập làm vua rồi Toại bị con của Trà Duyệt giết. Năm nay 1478, vua Lê biện bạch
việc ở Chiêm Thành. MTL đăng lời tâu của vua Lê có đoạn: “Đầu mục Chiêm Thành Ba Lung Ma Ha trước đây thông hiếu với nước thần. Vào
năm TH11, nước y thu hoạch được nhiều thuyền của nước Lưu Cầu do gió trôi dạt đến,
bèn mang quân đến nước thần xâm lược, bị quân tại biên giới đánh bại.”Đầu Mục
là quân cát cứ, xưng hùng ở địa phương, TH11 là năm 1475, Lưu Cầu là Okinawa. Mọi
cuộc chiến ở Chiêm Thành(CT) đều do nội loạn mà ra cả. MTL đăng lời vua Lê tâu
tiếp. Vua lê tâu Lê Hoằng Dục từ Thiên Triều trở về mang sắc trách vua chiếm đoạt
đất đai CT . Vua Lê tâu: “Vì việc này(Đại
Việt chiếm đất), thần không thể không lọc
máu viết lời trần tình để đoan chắc rằng không có. ” Vua Lê biện bạch rằng đất
đai CT được phong cằn cỗi nghèo nàn, vườn không có tơ dâu, núi không có của
báu, biển thiếu cá muối, chỉ có ngà voi, sừng tê giác, tô mộc, trầm hương mà những
thứ đó nước thần sản xuất nhiều, không cho là quí. Lấy đất, dân, của đó, không
thể ở, dùng, giàu được. Giữ đất đó thì
khó mà lợi thì ít, họa thì rõ ràng, danh thì mờ mịt. Đó là lý do tại sao vua Lê
không chiếm đoạt đất. Vua Lê xin sứ giả Thiên Triều đến xem đất đai và phục
hưng nước CT để trên dưới được an tập. Biên Thùy của Đại Việt cũng được yên ổn.
Kính cẩn sai Nguyễn Thế Đạt tâu lên. Hoàng Thượng mệnh đem tấu chương này xuống
bàn luận.
Thực lục ngày 24/4TH14(25-5-1478),
MTL viết việc sứ Bùi Sơn sang mừng lập Hoàng Thái Tử nhà Minh.
Thực lục ngày 3/5TH14(3-6-1478),
MTL chép việc sứ Bùi Sơn trở về nước.
Thực lục ngày 30/7TH14(27-8-1478),
MTL chép việc sứ Chiêm là Ba La Á Đệ và La Tử sang cống nhà Minh.
Thực lục ngày 6/8TH14(2-9-1478),
MTL viết việc sứ Lê Phùng Nghĩa và Trương Cẩn sang phong vương cho Tế Á Ma Vật
Am(TAMVA). MTL viết tiếp nói TAMVA sai
người tâu rằng người Annam trả đất phía Nam. Nhưng sợ uy trời không tự tiện chủ
trì, bèn sai sứ xin phong(Sử Việt mãi tới năm 1488 mới chính thức đề cập tới nhân
vật hậu duệ của vua Nam Bàn là Trai A Ma Phất Yêm(TAMPY) và Cổ Lai. KĐVS Chính Biên
quyển 22 viết việc năm 1471, phần cẩn án, viết sơ lược về TAMPY là 3 năm sau
đánh bắt Trà Toại, lập TAMPY là cháu vua Chiêm cũ làm vua. KĐVS, Chính Biên quyển 24, sách mới
chính thức dẫn Minh Sử viết về TAMPY và Cổ Lai. Sách viết nói không bao lâu
Trai A Ma Phất Yêm mất, năm 1481 em ông là Cổ Lai sang nhà Minh kêu ca đòi kế
vị và đòi đất Annam đã chiếm. Sách viết chuyện sai Lý Mạnh Dương, Diệp Ứng đi
phong. Sứ thần bàn luận nên bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc. CL đòi đến triều
Minh tâu bày. Đình thần bàn nên sai một đại thần đi. Năm 1487, sai Đồ Dung sang
an ủi Cổ Lai và mộ binh đưa Cổ Lai về nước. Trong Cương Mục Khảo Lược, Nguyễn
Thông gọi là Tề Á Ma Phất Yêm).
Sau đây là
đoạn sách Minh Thực Lục viết việc triều Trai A Ma Phất Yêm-Cổ Lai một cách rõ
ràng ra.(phần chữ in nhỏ dành cho người thích tra cứu)
Thực lục ngày 9/5TH15(29-5-1479),
MTL đăng việc sứ Trương Cấn đi phong vương CT. Đến Giang Tây gặp sóng gió chiếu
thư và đồ vật bị hư ướt. Quan thủ thần trình lên. Bộ Lễ tâu chiếu thư và lễ vật
nên thay mới, sai hành nhân đưa đến cho Cấn. Những vật khác không lấy trong kho
triều đình. Lệnh Bố Chính Quảng Đông cho chế ra giống hệt như vậy. MTL viết tiếp: “tờ tấu
không có tên họ viên chánh sứ, lệnh tuần án Giang Tây, ngự sử xét sự thực trình
lên”MTL viết: “Hoàng Thượng chấp nhận.
”
Thực lục ngày 21/9TH17(13-10-1481).
MTL viết về việc Cổ Lai sai cháu của vương là Cap Na Ba sang cống voi, cọp, sản
vật địa phương và thỉnh phong.
Thực lục ngày 22/9TH17(14-10-1481)
Thực lục viết. Thượng thư bộ binh tâu nói Annam đánh phá lân bang, dòm ngó Vân
Nam…sứ Chiêm nói Annam sửa soạn 3.000 chiếc thuyền, muốn tập kích HảiNam, không
thể không phòng bị. Thiên Tử phán phải phòng bị.
Thực lục ngày 26/9TH17(18-10-1481).
MTL viết việc sứ của Cổ Lai tâu nói chuyện Annam đánh CT, bắt quốc vương, phá
thành trì, cướp ấn. Trà Duyệt trốn lên núi Phật Linh Sơn, sai sứ xin phong.
Thiên sứ đến nơi nhưng trước đó Trà Duyệt bị Giao Chỉ bắt. Cổ Lai cùng anh là Tề
Á Ma Phất Am trốn trong rừng. Người Giao sợ Thiên Triều lập TAMPA làm vương. Chẳng
bao lâu TAMPA chết. Nay ông(Cổ Lai) tạm giữ chức nhưng không tự tiện, xin cầu
phong và xin dụ người Giao châu trả đất. Bộ lại bàn luận sai sứ đi phong rồi dụ
rằng không cần sai quan đi. Vừa lúc sứ Annam về nước, bèn sắc dụ Lê Hạo. Sắc dụ
của vua Minh khuyên bảo lẫn trách cứ rất dài,
cuối có đoạn : “Khi sắc tới ngươi
nên nghĩ đến việc đoàn kết, hữu nghị với lân quốc, trả hết đất đai cũ cho CT.”
Thực lục ngày 15/10TH17(6-11-1481)
MTL viết nói Trương Cấn(TC) đi sứ mắc tội bị hạ ngục. Thực lục viết tiếp nói TC
đi sứ mang nhiều hàng hóa để bán kiếm lời. Khi đến Quảng Đông nghe Tề Á Ma Vật
Am chết. Người em là Cổ Lai sai Cáp Na Ba đến xin phong. Nghĩ về không thì mất
lời, bèn vội đến CT. Người Chiêm cho biết sau khi người cháu xin phong bị Cổ
Lai giết. Annam ban sắc ngụy lập Đề Bà Đài Gỉa nắm quyền quốc sự. Không đợi mệnh
vua, Cấn mang ấn trao cho Đề Bà Đài Gỉa(DBĐG), được hối lộ hơn 100 lạng vàng rồi
qua Mãn Lạt Gia bán hết hàng hóa rồi về. Cấn bị luận tội tự tiện phong tước,
đáng tội hình, bị tống vào ngục. Bấy giờ
Cáp Na Ba
ở tại quán dịch bộ Lễ trả lời qua thong dịch rằng TAMVA chết vì bịnh, không bị
giết. Người được gọi là DBĐG thì không biết là ai. Bèn ra lệnh sứ tạm về Quảng
Đông, lệnh quan chức địa phương ưu đãi, đợi sứ DBDG đến tạ ơn rồi thẩm xét phải
trái.
Thực lục ngày 16/9TH18(27-10-1482). Sứ
của Cổ Lai đợi sứ của Đề Bà Đài Gỉa(ĐBĐG) hơn một năm, không chịu được rét nên
trình lên ngự sử Vương Biện. Bộ Lễ lại tâu lên. Lệnh sứ tạm về nước, chờ sứ
ĐBĐG đến kinh đô.
Thực lục ngày 7/7TH20(28-7-1484). Sắc
dụ Cổ Lai phủ dụ Đề Bà Đài Gỉa, lệnh nạp ấn quốc Chiêm Thành trước kia trao cho
y. Tha tội ĐBĐG đã nhận sắc phong ngụy của Annnam. Lệnh cho làm Đầu Mục của nước
này.
Thực lục ngày 5/8TH20(25-8-1484).
Ban vật phẩm cho người ĐBĐG sai đến tạ ơn gồm bọn cháu là Ba La Chất, phó sứ
Man Đê, Đại Thông Sự Mai Gỉa Lượng.
Thực lục ngày 17/8TH20(6-9-1484).
Sai chánh sứ Lý Mạnh Dương, phó sứ Diệp Ứng sang phong vương cho em quốc vương
CT Tề Á Ma Vật Am là Cổ Lai. Mãnh Dương tâu nói Đề Bà Đài chiếm cứ lâu rồi. Vậy
trước khi làm lễ tấn phong nên cho sứ của ĐBĐ về nước loan báo cho dân là triều
đình phong vương cho Cổ Lai. Người cháu của vương cũ do ĐBĐ đưa đến tạ ơn rồi bị
lưu lại ở Quảng Đông làm con tin cũng cho về luôn. Định khi thuyền làm xong,
thuận gió sẽ đến nơi Cổ Lai trú đóng để tuyên đọc sắc văn. Hoàng Thượng họp
đình thần bàn bạc và chấp thuận.
Thực lục ngày 5/10TH20(24-10-1484).
Tha cho Trương Cấn tội chết và đày làm lính thú tại vệ biên giới thuộc Quảng
Tây.
Thực lục ngày 3/Chạp TH21(8-1-1486).
Thăng cấp cho Lý Mãnh Dương. Mãnh Dương phụng mệnh đi sứ sang CT như chưa
đi,trú tại Quảng Đông, bị tật xin ở nội địa trị bịnh, chờ lành sẽ đi, lại trình
rằng sắp hết hạn 9 năm, ý không muốn đi nên có lệnh này(lệnh thăng chức).
Thực lục ngày 12/tháng MộtTH22(7-12-1486). Giám Sát Ngự Sử Tuần Án Quảng Đông Từ Đồng Ái
tâu: “Con quốc vương Chiêm Thành Cổ Lai đánh giết ngụy vương Đề Bà Đài do Giao
Chỉ đặt lên. Giao Chỉ giận, mamg binh đến biên giới đòi cho được mạng sống của
Đề Bà Đài. Cổ Lai sợ hãi, mang vương phi, cháu vương, bộ lạc hơn 1.000 người,
cùng sản vật địa phương vượt biển đến châu Nhai, Quảng Đông.”Việc đưa xuống
bàn. Hoàng Thượng phán giúp đỡ Cổ Lai, lệnh canh phòng biên giới.
Thực lục ngày 20/GiêngTH23(13-2-1487). Lệnh
Mệnh Đô ngự sử Nam Kinh Đồ Dung đến Quảng
Đông dụ Cổ Lai. Bọn Tổng Đốc Lưỡng Quảng Hữu đô Ngự sử quân vụ Tống Mân tầu rằng:
“Cổ Lai tại châu Nhai rất muốn được triều
yết, để tố cáo sự tai hại gây ra bỡi Giao Chỉ xâm lăng, và nói rằng số châu huyện
mà Giao Chỉ hoàn lại là những khu vực căn cỗi điêu tàn.” Nội vụ đem xuống
bàn. Bộ Binh tâu nói lời của Annam trước đây và của Cổ Lai không giống nhau.
Xinh lệnh nhiều quan đến họp bàn. Trương Mậu, Hà Tông bàn việc 2 nước khó đoán
cho chính xác. Nên sai một viên đại thần đến khao thưởng Cổ Lai và khuyên CL đừng
vào triều vì sống bên ngoài lâu thì kẻ chiếm đóng có cơ hội củng cố, còn người ở
đất khách đễ đổi long chi bằng về nước sớm để yên người trong nước. Xin gởi văn
thư khuyên Annam hãy quí việc phục hưng nước bị diệt, nối dòng họ bị đứt; nếu
chuyện ấy không phải là ý của vương thì xin sai sứ đón Cổ Lai về nước. Hoàng
Thượng chấp nhận. Lệnh Đồ Dung khởi hành.
KẾT LUẬN VỀ TRIỀU VƯƠNG TRAI A MA VẬT AM: Lịch sử biên giới phía Nam sau năm
1471 khó hiểu vì ĐVSKTT viết gộp sự kiện ở các thời điểm khác nhau vào một thời
điểm năm 1471. ĐVSKTT viết:“Năm
1471…tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống
được phong vương. Phong vương cho Hoa
Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại.”
Đánh bắt Trà Toại mãi tới hơn 3 năm sau(1475). Sứ
Minh đi phong vương cho Trà Toại, đến cảng Tân Châu mới hay nước bị chiếm đổi
thành châu Nam Giao. Chiêm Thành(CT) tố cáo Đại Việt xâm lăng. Tiếp theo vua Lê
có 2 lần tâu lên vua Minh biện bạch không chiếm đất CT(TL ngày 24-9-1475 và TL
ngày 28-4-1478).
Lê Phùng Nghĩa và Trương Cấn sang phong vương cho Tế Á Ma Vật Am(TL ngày 2-9-1478).
Căn cứ 2 đoạn thực lục tháng 4 và tháng 9 năm 1478, Gỉa thiết đưa ra là vua Lê lập
vua NamBàn vào năm 1478(khoảng giữa tháng 4 và tháng 9). Vua NamBàn Tế
Á Ma Vật Am sai sứ tâu rằng Annam trả đất ở phía Nam để cai quản, nhưng không
dám tự tiện, sai sứ xin phong. MTL đăng lệnh sai Trương Cấn đi phong (TL ngày 9/1478).
Đến Giang Tây gặp sóng gió chiếu thư và phẩm vật bị hư ướt(TL ngày 29-5-1479.) Tiếp theo Cổ Lai lại
sai cháu vương
là Cap Na Ba xin phong(TL ngày 13-10-1481). Sứ của Cổ Lai sang nhà Minh tố cáo và đòi đất.
Chiếu dụ vua Lê trả đất(TL ngày 18-10-1481). Đến Quảng Đông nghe TÁMVA chết, người em là
Cổ Lai sai bọn Cáp Na Ba đến xin phong, Trương Cấn đến thẳng CT trao ấn cho Đề
Bà Đài Gỉa(ĐBĐG) mà trước đây Annam phong vương cho để nhận hối lộ hơn 100 lượng
vàng. Trương Cấn bị hạ ngục(TL ngày 6-11-1481). Suy ra ĐBĐG được phong vào năm 1478 cùng với TÁMVA nhưng TÁMVA chết trước năm 1481 là
năm cháu của vương đến nhà Minh xin phong(sau đây ta sẽ biết ĐBDG chết
năm 1486
- LT ngày 1-12-1486). Tiếp theo là triều Cổ Lai. Hai nước kia tồn tại từ năm 1478-1481.
Sau đó vùng Nam đèo Cù Mông hỗn loạn. Cổ Lai lùi sâu vào Tây Nguyên.
Đến đây, năm 1487, vua Minh Hiến Tông băng. Minh
Hiếu Tông lên ngôi và MTL tiếp tục thực lục triều Minh Hiếu Tông. Ta sẽ biết việc
của triều Cổ
Lai. (Phần chữ in nhỏ dành cho người thích khảo cứu.)
Thực lục ngày 13-10TH23(29-10-1487).
Phong vương cho con của Cổ Lai tại Quảng Đông rồi hộ tống về nước và sắc cho Annam trả đất đã
xâm chiếm. MTL viết tiếp nói Đồ Dung tâu lên rằng theo lời của Cổ lai thì nước
có 8
châu, 25
huyện bị Annam thôn tính cả. Chiêm Thành(CT) tố cáo, Annam trả các xứ Bang Đô
Lang, Mã Na Lý, 4 châu 5 huyện. Sau đó đầu mục CT Đề Bà Đài làm phản theo
Annam. Annam cho y 1 châu 3 huyện. CT chỉ còn 3 châu 2 huyện. Annam đòi cho được
mạng ĐBĐ, cố ý lấy hết đất và lập con ĐNĐ làm vương. Lũ Ma, con của Cổ Lai, cùng
đầu mục Vạn Nhân Phương cố thủ để đợi. Ý Cổ Lai muốn được thụ phong ở Quảng
Đông, xin bộ binh hộ tống về nước, xin văn thư công nhận cương thổ để được an
toàn. Bọn thần(Đồ Dung) muốn lời xin được chấp nhận, xin mệnh bọn Mãnh Dương đến
nơi này sắc phong. Đến mùa Đông sai quan võ đến hộ tống về nước. Bọn Mãn Dương
không cần thân hành đến đó. Xin sắc cho Annam trả đất đã xâm lấn. Bộ binh phúc
tấu đồng ý. Ban cho vua Annam sắc thư. Sắc
có đoạn “…nước nguyên có 8 châu như Ban
Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập…thành hòa thứ 7 nước ngươi mang quân chiếm hết…thành
hòa 13
trả lại 4
châu 5
huyện trong đó có Bang Đô Lang, Mã Na Lý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý,
Bôn Đế Ba Đế
cho đầu mục phản phúc Đề Bà Đài…lấy 8 châu 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả
cho Cổ Lai…hãy kính cẩn theo lời dụ này ”.
Thực lục ngày 5/tháng ChạpTH23(19-12-1487).
Nhân lên ngôi Hoàng Thượng sai sứ ban chiếu cho Triều Tiên, Lưu Tiền, Lữ Hiến,
Annam.
Thực lục ngày 3/2 Hoằng Trị(HT) thứ nhất(15-3-1488).
MTL viết nói quốc vương CT Cổ Lai sai bọn bồi thần và cháu là Cáp Na Ba
dâng biểu viết trên vàng lá và phẩn vật sang cống.
Thực lục ngày 13/10HT2(5-11-1489) viết
nói quốc vương CT trở về nước, lại sai em là Bốc Cố Lương thông báo quan cọi lưỡng
Quảng rằng Annam vẫn còn chiếm cứ, không có chỗ ở, xin như thời Vĩnh Lạc mang
binh che chở. MTL viết tiếp. Việc đem
bàn. Lời Bộ Binh tâu có đoạn: “Annam và
Chiêm Thành vị trí nơi bờ biển hoangtichj, đời đời triều cống, tổ tiên có di huấn
là những nước không nên chinh phạt…Mới đây Cổ Lai mang gia quyến đến Quảng
Đông, triều đình đã giáng sắc cho Annam xem xét…nay chưa chưa nhận được lời tâu
trở lại…tướng mang quân chinh phạt là do Lê Qúi Ly thoán đoạt giết vua…mới đây
Lê Hạo lo việc triều cống rất cẩn trọng…nếu chỉ căn cứ lời của một bên…Nên lệnh
các quan trấn thủ bảo Cổ Lai rằng…đã mệnh quan đại thần giúp đỡ săn sóc đầy đủ…hộ
tống người của vương trở về xong…Sự tình được biết người Giao giết con của
vương là Cổ Tô Ma, vương mang binh đánh lại chúng, sự rửa thù đã xong, sau
không thấy Annam mang quân đến đánh…mà lời tấu của Annam chưa đến, sự kiện chưa
rõ ràng…Khi lời tấu của Annam đến, ta sẽ xem xét… ”
Vương hãy tự tin, điều hành quản trị, an ủi nhân dân
và bảo vệ đất đai… tìm cách nối lại bang giao tốt với An Nam…Từ xưa đến nay,
không có 1 nguyên tắc nào cho nhà cai trị không tự tin ỏ mình, lại cầu xin triều
đình mang quân đi đến từ miền xa xôi để bảo vệ họ. Sắc của Thiên tử sẽ giao cho
Bốc Cố Lang y cũng được thưởng quà.”
Thực lục
ngày 21/5HT3(8-6-1490). Thực lục viết nói Bốc Cổ Lang bị chặn lấy đồ
vật do triều đình ban cho. Xin đưa quân đến cướu giúp. Mệnh đưa xuống các ty có
trách nhiệm hay biết.
Thực lục
ngày 25/5HT3(12-6-1490). Thực lục viết nói Lê Hạo biện bạch rằng
việc tại CT do các thổ tù tranh dành cát cứ. Vân Nam vốn là nơi các thổ tù đã
cư trú, không dám vượt biên sinh sự. Mệnh quan bộ binh đòi Hoàng Bá Dương còn tại
sứ quán, đến bộ Lễ dụ rằng “Hãy về báo với
quốc vương ngươi đừng nói nhiều lời, mỗi bên lo giữ gìn cương thổ để hưởng thái
bình; nếu không vậy thì một ngày nào đó triều đình nổi giận, quân Thiên Tư đến
biên cảnh như dưới thời Vĩnh Lạc thì không còn hối hận được nữa.”Thực lục
viết tiếp: “sứ giả sợ hãi rút lui.”
Thực lục
ngày 10/6HT3(27-6-14-90). Ban vật phẩm cho sứ CT.
Thực lục
ngày 26/7HT3(11-8-1490). Nói Đồ Dung(ĐD) trở về. Sứ CT là Ban
Bà Đế mang phẩm vật tạ ơn ĐD. Có chỉ dụ bảo ĐD nhận. ĐD từ chối. Bộ lễ sai người đuổi theo sứ CT, trả lại đầy đủ
phẩm vật.
Thực lục
ngày 16/10HT8(2-11-1495). Cổ Lai sai Sa Cố Tính sang cống.
Thực lục
ngày 28/10HT8(14-11-1495).
Thực lục viết nói Cổ Lai Sai Sa Cố Tính đến tâu báo rằng Annam chiếm đất giết
người, tuy triều đình giáng sắc dụ phải hòa mục, nhưng Annam ngoài mặt ra vẻ
thuận lòng, còn âm mưu thì ác độc…nên
sai cháu là Sa Cố
Tính đến kinh khuyết xin đại thần đến nơi để giảng hòa. Thực lục viết
nói lời tâu rất bi ai. Đưa xuống đình thần bàn bạc. Bàn cho rằng từ xưa chưa có
lệ sai quan đại thần ra nước ngoài để hòa giải giữa các Di. Xin giao Lưỡng Quảng
gửi văn thư cho Annam, dụ phải hòa mục, hoàn lại đất đã chiếm. Sắc dụ Cổ Lai
chăm sóc nhân dân, luyện võ bị làm kế lâu dài. Khi sự việc đã yên. Lệnh 2 nước
trình bày đầy đủ. Lời bàn được dâng lên. Ý Hoàng Thượng muốn sai đại thần đi xem xét. Bọn
Đại Học Sĩ Từ Phố tâu có đoạn “Nước Chiêm
Thành xin sai đại thần đến nước họ, báo
cho Annam trả lại hết đất đai xâm chiếm; các nha môn 2 lần hội nghị đều cho rằng
không nên làm như vậy. Bộ Lễ được yêu cầu nêu rõ vấn đề rằng Thánh Thiên Tử muốn
sai quan đến dụ; nhìn lên thấy được Thánh ý đối xử chung một lòng nhân không
phân biệt Di, Hạ; tuy nhiên bọn thần phân tích bằng sự lý, thấy sách Xuân Thu dạy
không cai trị Di vì rằng sự chế ngự Di Địch và cai trị trong nước không giống
nhau … Annam tuy làm tròn chức cống, vốn là ngoại Di…Còn nước Chiêm Thành kia
thì quá nhỏ mà sơ viễn…xem xét lời dạy của tổ triều Minh rằng CT và một vài nước
triều cống lại đưa hàng đến bán có nhiều sự gian trá nên từ năm Hồng Vũ thứ 8 bị
cấm, mãi năm thứ 12 mới được triều cống trở lại…Thành Hòa thứ 7 bị Annam xâm
chiếm, mấy lần đến tố cáo. Hiến Tông Hoàng Đế mấy lần sắc Tổng Trấn Lưỡng Quảng,
Đô Ngự Sử khu xử. Nhưng Annam khẳng định rằng họ đã trả lại đất; thực ra chúng
không khai thực và không chịu nhận tội…giáng sắc, sai quan đến nước xa xôi này
cũng phí lời…hải đảo rộng mênh mang, không cách gì khám xét đất đai; hơn nữa
làm sao Annam có thể tự động cải hối, bỏ mối lợi…nhỏ thì che dấu lỗi lầm, lớn
thì chống cãi lại…tưởng không nên dương oai ngoài cõi…bỏ qua không hỏi đến thì
tổn thương uy danh, đem sự việc ra hạch hỏi thì phải hưng binh, mối lo lại càng
lắm…ngẫm lời giáo huấn của tổ tiên Di Địch bốn phương, cách núi ngăn biển,
riêng một góc trời, có được đất đó không đủ cung cấp cho nhu cầu, có được dân
đó không đủ để sai khiến…chúng đến quấy phá biên giới ta thì tự nó sẽ gặp điều
không lành, nếu nó không làm hại đến Trung Quốc mà ta kinh xuất, mang quân đi
chinh phạt cũng là điều không lành…bọn thổ quan các xứ thù nghịch nhau, không
thể lấy vương pháp mà cấm đoán được, vì thế bọn chúng đánh nhau là sự thường
tình…CT bị xâm đoạt có hay không, thực hay dối trá, vẫn chưa biết rõ. Tuy tình
cảnh đáng thương nhưng về lý không nên can thiệp đến cùng…dùng văn thư hiếu dụ
cũng được rồi, hà tất phải nhân danh Thiên Tử sai đại thần đi khám…việc đại sự
không thể không hỏi quần thần. Nay mọi người đều một lòng tâu là không nên,
nhưng chỉ nói chung sự lý, chưa trình bày hết về lợi hại được mất…bọn thần…nếu
không trình bày hết, vạn nhất việc xấu nảy sinh, thì đến chết cũng không chuộc
hết tội…không nề rườm rà lời khó nghe trình bày những vấn đề liên quan đến
Hoàng Thượng, xã tắc sinh dân, chứ không phải muốn hùa với đám đông…Như thời thế
có thể làm được, sự việc không gây tai hại, bọn thần đáng phải giúp Hoàng Thượng,
đâu dám dâng lên những lời trái tai này. ”Hoàng Thượng nghe lời.
Thực lục
ngày 18-4-1497
nói sứ Lê Tuấn đến cống, thực lục ngày
29-11-1498
nói Lê Hạo qua đời.
Thực lục
ngày 21/6HT12(28-7-1499). Thực lục viết Cổ Lai tâu vùng cảng Tân
Châu bị Annam chiếm từ lâu. Mối lo chưa hết. Nay ông đã già. Khi chưa chết muốn
cho con trưởng là Sa Cố Bốc Lạc được nối ngôi. Mệnh bộ Lễ, bộ Binh họp
bàn. Tờ trình lên có đoạn “Annam gây tai
hại CT không phải mới xảy ra…nhân CT tố cáo bèn gửi tỷ thư chỉ dạy, lại sai thủ
thần…giảng điều hòa mục…nhưng Annam trước sau đều tâu…tuân theo mệnh của triều
đình, trả lại hết đất…ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa đều do thổ tù cát cứ, nước
tôi hoàn toàn không can thiệp…Annam vừa mới đưa lời biện bạch thì CT lại tố
cáo, khó biết đâu là thật tình. Xin lệnh thủ thần gửi văn thư nghiêm khắc dụ
Annam chớ tham nhân dân đất đai… nếu không tuân sẽ bàn định mang quân đi hỏi tội.
Về việc con trưởng…khi cha còn sống không có lý được phong kế lập, hãy lập thế
tử…sau này như lệ định sẽ phong thế tập. Điều này được chấp thuận”
Thực lục
ngày 3-8-1499
viết nói sứ Sa Bất
Đăng Cổ Lỗ đến cống. Thực lục ngày 10-9-1499 viết nói Cổ Lai sai cháu Sa Bất Đăng Cổ Lỗ,
sứ Yến Thiện Nô
Ba Địa đến cống. Thưc lục ngày 16-9-1499 viết nói
ban mũ và dây đai cho cháu vương và sứ. Thực lục ngày 16-10-1499
viết nói cấp gạo, sai thủ thần Lưỡng Quảng sử chữa thuyền cho đoàn sứ 60 người.
KẾT LUẬN
VỀ TRIỀU VƯƠNG CỔ LAI: Triều này được
mô tả rõ ràng nhờ sách Minh Thực Lục(MTL) bắt đầu thực lục(TL) từ ngày 29-10-1487. Trước đó MTL viết nói thủ thần Từ Đồng
Ái ở Quảng Đông tâu nói con của Cổ Lai đánh giết ngụy vương Đề Bà Đài(ĐBĐ).
Giao Chỉ mang binh đến biên giới đòi mạng ĐBĐ. Cổ Lai sợ hãi đem gia quyến và bộ
lạc đến châu Nhai, Quảng Đông(TL 7-12-1486). Kế tiếp đại thần Đồ Dung đến QĐ phong vương
cho Cổ Lai rồi hộ tống về nước và sắc dụ
Annam trả đất cho CT(TL 29-10-1487). Trên đây ta thấy KĐVS dẫn Minh Sử, mục truyện
Chiêm Thành, nói rõ ĐD sang Quảng Đông(QĐ) đưa hịch sang Annam rồi mộ 2000 quân
khỏe, đi 20 chiếc thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về nước. Các sách không nói vào
nước ở chỗ nào.
Tiếp
theo, nhờ MTL mà ta hình dung được nước
Nam Bàn của Cổ Lai. Tới QĐ, Đồ Dung(ĐD) tâu lên vua Minh. ĐD nói theo lời của Cổ
Lai, thì nước nguyên có 8 châu, 25 huyện bị Annam thôn tính cả. CT tố cáo.
Annam trả các xứ Bang Đô Lang, Mã Na Lý, 4 châu 5 huyện. Sau đó Annam cho Đề Bà
Đài 1 châu, 3 huyện. CT chỉ còn 3 châu 2 huyện. Triều Minh giửi sắc văn cho vua
Lê. Trong sắc văn giử cho vua Lê có đoạn viết nói các quan coi giữ Quảng Đông
tâu rằng con của Quốc vương CT là Cổ Lai tố cáo nước nguyên có 8 châu như Ban
Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập. Annam lấy hết, sau trả 4 châu 5 huyện trong đó có Bang Đô
Lang, Mã Na Lý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý,
Bôn Đế Ba Đế
cho Đề Bà Đài. Cuối cùng sắc văn viết nói “lấy
8 châu, 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả lại cho Cổ Lai, tạo nên sự hòa mục”(TL
29-10-1487).
Thế là
cương thổ của vua Nam Bàn được định rõ ra và lịch sử đất phía nam sau trận hạ
thành Đồ Bàn cũng rõ ra. Hạ thành xong thì vua Lê chỉ chiếm lại Đại Chiêm và Cổ
Lũy cùa nhà Hồ “để lại”mà thôi. Hơn 3 năm sau(1475) vua Lê mới đánh bắt Trà Toại,
chiếm thêm đất ĐồBàn đặt thành châu Nam Giao. CT kiện cáo. Vào năm 1478, Vua Lê
trả đất cho hậu duệ vua Nam Bàn là đất Bang Đô Lang, Mã Na Lý(lời của Cổ Lai). Tiếp theo cắt đất Mai Đá Lý,
Bôn Đế Ba Đế(trong
sắc dụ vua Lê) cho ngụy vương Đề Bà Đài làm vua nước Hoa Anh(năm 1478).
Đoạn viết
vắn tắt trong sử cũ ĐVSKTT và KĐVS trở nên rõ ra. ĐVSKTT viết: “Năm 1471 tháng 3…mồng 2 đem quân về, Bồ Trì
Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu cống được phong vương. Phong vương cho Hoa Anh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng
buộc…tháng 11 đánh bắt Trà Toại.” KĐVS viết. “Lê Thánh Tôn phong vương cho Bồ Trì Trì và
phong 2 tước vương nữa cho nước Hoa Anh và cho dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn
quốc vương. Phần ghi chú về nước Nam Bàn, KĐVS viết việc năm 1471, viết: “Nam Bàn: Từ triều Lê trở về trước, Nam Bàn
thuộc Chiêm Thành, đến khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đai đến núi Thạch Bi
, phong dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương, và chia cho giữ đất
đai từ núi Thạch
Bi này trở về phía tây, từ phủ Hoài Nhân đi theo đường thượng đạo thì phải đi 14 ngày mới đến được nước này, tức
là đất của hai nước Thủy Xá và Hoài Xá bây giờ.”
Không phải
chỉ quan làm sử ở Sử Quán triều vua Nguyễn biết đường lên nước NamBàn mất 14 ngày tính
từ phủ Hoài Nhân, mà trước đó vào thời chúa Nguyễn, Văn Thế Nghị(VTN) cũng biết hành
trình lên đó mất 14 ngày. VTN kể cho Lê Qúi Đôn năm 1776 nghe chuyện đi tìm trầm,
chuyện lên Thủy Xá Hỏa. VTN kể: “Từ đây (nguồn
sông Kỳ Lộ ở Phú Yên) thuê người Man dẫn
đường đến chỗ ở của 2 vua Thủy Xá Hỏa Xá của nước Nam Bàn mất 14 ngày.”(Phủ
Biên Tạp Lục)
Một chút
nói về tên địa danh trong sử liệu cũ. Địa danh viết bẳng chữ HánNôm. Tiếng nước
ngoài hay tiếng của các bộ tộc khác người Kinh thì sách ta hay sách Tàu viết bằng
chữ HánNôm theo
âm của tiếng đó ví dụ như ghi chú số 1997 ĐVSKTT bảng điện tử nói Lạt
Gia là Mãn Lạc Gia, tức là Malacca. Từ “Bang Đô Lang” có âm hưởng giống tên các buôn ở ĐắcLắc-GiaLai
như Buôn Mê Thuộc hay Buôn Đôn. “Mã Na Lý”, “Mai Đá Lý” có âm gần tên địa danh của
người miền xuôi. Đối chiếu với tên trên thực địa, chắc các sử quan nhà Nguyễn hiểu
được các địa danh ghi bằng chữ HánNôm trong Minh Sử, nên nhận ra được Nam Bàn
là đâu. Do đó sử quan mới viết câu ghi chú về nước NamBàn: “chia cho
giữ đất đai từ núi Thạch Bi này trở về phía tây”. Các quan ở Lưỡng
Quảng cũng hiểu được các địa danh mà sứ thần của CT nói đến nên biết rõ cương vực
của CT. Đến Quảng Đông, sứ Lý Mãnh Dương(LMD) biết việc xảy ở CT và biết chỗ ở
của Cổ Lai. Cho nên được sai đi phong vương cho Cổ Lai từ năm 1484 cho
đến năm 1486
mà LMD cứ trù trừ không chịu đến CT. Trái lại, trước đây, sứ Trương Cấn thì đi
ngay đến CT để trao ấn cho ngụy vương Đề Bà Đài do Annam dựng lên năm 1478 để lấy
hối lộ hơn 100 lượng vàng. Có lẽ Đề Bà
Đài thì ở miền duyên hải dễ dàng đến đó hơn, còn Cổ Lai thì ở sâu trong nội địa,
đến đó khó khăn hơn chăng? Cũng trong năm
1486, Cổ Lai đánh giết ĐBĐ. Giao Chỉ đem quân đến biên giới đòi mạng ĐBĐ. Cổ
Lai sợ, thoát chạy khỏi núi rừng, vượt biển mà sang Quảng Đông.
Về tên địa
danh “Bôn Đế Ba
Đế” và tên nhân vật Đề Bà Đài: Có phải ngụy vương Đề Bà Đài cát cứ ở xứ Bà Đài. Sắc của vua Lê Thế Tông năm 1597, sai biên thần
Lương Văn Chánh làm quan ở huyện Tuy Viễn đến khai phá xứ phía Nam Đại Việt có
đoạn: “sức các hộ dân mới đến tựu các xứ
Cù Mông, Bà Đài,
Bà Diễn, Bà Nông từ trên nguồn di dưới đến cữa biển, kết lập gia cư khai khẩn đất.”
Vua CT thường lấy tên đất làm tên hiệu ví dụ em Trà Toàn tên là Thị Nại,
vua Bí Cái tên là Ma Ha BiCa hay là Ma Ha Vijaya(ĐồBàn), vân vân. Địa danh “Bôn Đế Ba Đế” có
âm hưởng na ná “Bà
Đài.”
Từ suy
nghĩ như trên và văn cảnh trong Minh Thực Lục ở những đoạn trích trên đây cùng
sách Phủ Biên Tạp Lục lẫn sách KĐVS nói về nước Nam Bàn cho ta kết luận Nam Bàn ở
ĐắcLăc-GiaLai. Sau này sứ Lý Quán không chịu đến CT phong vương cho con của Cổ
Lai là Sa Cố Bốc Lạc. Lý Quán nói “đất Chiêm Thành từ đời Cổ
Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô
Lang quốc. ” “Xích Khâm bang, Đô Lang quốc” là xứ đất đỏ GiaLai-ĐắcLắc? Chỗ ngụy vương ĐBĐ xuất
thân là châu thổ sông cái(sông Kỳ Lộ)? Sông Cái đổ nước vào vịnh Xuân Đài. Phần
đất còn lại là “Mã
Na Lý”, “Mai Đá Lý” là hạ lưu sông Ba(sông Đà Rằng) và trung lưu của
nó là sông Ayunpa ở Cheo Reo(Phú Bổn)?
Về địa
hình suy nghĩ trên cũng phù họp. “đất đai từ núi Thạch
Bi này trở về phía tây”là
ĐắcLắc. Núi Thạch Bi là núi Mẹ Bồng Con hay chư Mư(2052m). Núi này mới xứng
đáng làm cột móc chia 3 “thiên hạ”, chia 3 nước NamBàn, Hoa Anh và nước của Bồ
Trì Trì để ràng buộc. Hiện nay nơi đây là 3 biên giới ĐắcLắc-Khánh Hòa-Phú Yên.
Nơi đây có đèo Khánh Dương xuyên qua Rặng Đại Lãnh vào vương quốc của Bồ Trì
Trì. Ngọn Mẹ Bồng Con trông xuống đèo Khánh Dương. Nơi đây là chỗ thung lũng
sông Ba ăn sâu vào Rặng Đại Lãnh(bảng đồ Jm Henthorn). Nơi đây là điểm phân thủy
của 3 con sông: Đổ về Đông là sông Cay ở Ninh Hòa, chạy theo tuyến QL21 cũ(bảng
đồ Jm Henthorn) rồi đổ ra đầm Nha Phu bên kia Hòn Khói. Đổ về Tây có sông Krong
Ana, chảy dọc theo chân phía ĐôngBắc Rặng Đại Lãnh, tới Ban Mê Thuộc, họp lưu với sông Krong Kno thành sông Ea Krong hay
Dark Krong đổ nước vào sông Srepok rồi vào sông MeKong. Chảy về Bắc có sông Ea Krong
Hnang đổ nước vào sông Ba xuôi về biển Đông.
Hậu sinh
lầm lẫn núi Đá
Bia với núi Thạch Bi ghi trong sử sách. Một sự lầm lẫn kéo dài
một thời gian dài kỷ lục, đằng đẵng tới ngày hôm nay. Núi Đá Bia và núi Mẹ Bồng Con đều trông giống
“thạch bi.”Nhưng một núi ở sát mép biển(núi Đá Bia) không chia 3 đất của ai được
cả trong khi núi Mẹ Bồng Con ở trên đường phân thủy và ở trong nội địa chia 3
được thiên hạ: Nước Hoa Anh(phủ Phú Yên)-nước của Bồ Trì Trì(phủ BìnhKhang)-nước
NamBàn(Đắc Lắc)(mời xem bài viết Rặng Đại Lãnh với 3 Đèo). Ngay cả trong sách Bảng
Đồ Hồng Đức(làm thời chúa Trịnh-Nguyễn) cũng sai lầm. Núi Thạch Bi khi thì được
vẽ ở ranh giới Phú Yên phủ giáp Thái Khang phủ(ở bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ
trang 158 trong sách Hồng Đức Bảng Đồ). Còn ở bảng đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ
Thư(TNTCLĐT) khi thì “Thạch Bi” được vẽ ở cữa sông Bàn Thạch gọi là Ăn Năn hải môn(TNTCLĐT
trang 98), khi thì được vẽ ở Cam Ranh hải môn(TNTCLĐT tr 101). Tất cả lấy cái ý “Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đai đến
núi Thạch Bi”ghi
trong sách KĐVS. Lấy cái ý núi Thạch Bi là ranh giới Chiêm-Việt ở trong sách cũ
mà không hiểu thấu đáo địa hình gì ráo. Có tác giả nói GNBNĐ được vẽ ở Nam Hà
hay lúc chúa Trịnh định đánh xuống Nam Hà thời Tây Sơn. Do đó tôi cho sách GNBNĐ
vẽ chính xác hơn TNTCLĐT. Hậu sinh còn thêu dệt là vua Lê Thành Tông lên đá bia
khắc chữ phân định biên giới Chiêm-Việt do tự ông Trời!
Về di
tích Thành Hồ và các tháp Chăm. Ở Phú Yên có cái thành cổ là Thành Hồ. Tiếc
thay thành không được khảo cổ tường tận. Không biết thành xây vào thời nào. Chỉ
có một sử liệu đề cập tới địa danh Thành Hồ là Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên.
Sách có đoạn “Lương Văn Chánh người huyện
Tuy Hòa…Đầu năm Mậu Ngọ(1558), theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Khoảng năm 1578, tiến
tới sông Đà Diễn, đánh lấy Hồ Thành.”Lúc xây dựng Kinh Mương Bắc của Thủy
Nông Đồng Cam, người ta thấy Thành Hồ còn khá tốt. Khi đào bới xây dựng kinh
mương qua đây người ta phát hiện nhiều di vật Chiêm Thành. Với địa hình và qui
mô của Thành Hồ, người ta nghi đây có thể là một kinh đô cũ, kinh đô của ngụy
vương Đề Bà Đài? Bên kia sông, đối diện, cũng có tháp Chăm. Từ đây dọc sông Ba
đến Phú Bổn người ta cũng phát hiện có tháp Chăm. Tại Phú Bổn thời Pháp có di
tích tháp Chăm rất rõ ràng. Nơi đây có thể là kinh đô của nước Nam Bàn chăng?
Sau đó bộ
3 Chiêm-Việt-Minh tiếp tục thông sứ. Sứ Cáp Na Ba sang(TL 15-3-1488). Bốc Cố Lương sang tố cao Annam còn
chiếm đất xin đem binh đến giúp(TL 5-11-1489). Sứ Chiêm sang tố cáo Annam chặn sứ Chiêm
thu lấy phẩm vật mà triều Minh ban cho(TL 8-6-1490). Sứ Chiêm sang tố cáo. Triều
Minh dụ sứ Annam là Hoàng Bá Dương bảo vua Lê chớ nhiều lời. Mỗi bên lo giữ
biên cương. Không vậy thì một ngày nào đó triều đình sẽ đem quân sang(TL 12-6-1490).
Sứ CT Ban Bà Đế
sang tạ ơn Đồ Dung(11-8-1490). Sứ Sa Cố Tính sang(2-11-1495). Annam tiếp tục chiếm đất. Sứ
Sa Cố Tính sang xin đại thần sang CT giảng hòa. Lời tâu rất bi ai. Triều đình
nói không có thông lệ đó. Triều Minh tính lợi hại không cử quan đi. Dùng văn
thư sắc dụ 2 nước là đủ rồi(TL 14-11-1495). Năm 1498 Lê Thánh Tôn qua đời. Cổ Lai tâu rằng ông đã già
lão, tố cáo Annam tiếp tục chiếm đất và
xin lập con trưởng Sa Cố Bốc Lạc làm vương lo việc hậu sự nước nhà. Đình
thần bàn nói cha còn sống nên không phong kế tập, hãy lập thế tử, sau theo như
lệ sẽ phong vương cho. Đình thần tâu lên
nói Annam nói đã trả hết đất đai. Ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa, đất đai đều
do thổ tù cát cứ. Annam hoàn toàn không can thiệp(TL 28-7-1499).
Sang đời
Minh Vũ Tông, MTL cho biêt Cổ Lai mất(TL
17-7-1505). Còn vào năm 1498 thì Lê Thánh Tôn qua đời. Khoảng
30 năm(1471-1498), hai nhà lãnh đạo lão thành và cừ khôi Chiêm-Việt gườm nhau
tranh giữ và cố chiếm lại đất ĐồBàn(Vijaya). Một được(Lê Thánh Tôn), một thua(Cổ
Lai). Tới mãi năm 1490 xác định bản đồ toàn quốc mới thấy thừa tuyên
thứ 13 là thừa tuyên Quảng Nam với 3 phủ, 9 huyện. Phủ mới là phủ Hoài Nhân với
3 huyện là Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Đất phía Nam đèo Cù Mông thì hãy còn do
thổ tù cát cứ(lời Lê Thánh Tông tâu lên vua Minh). Đất này chìm trong bất ổn tới
140
năm(1471-1611). Vì lẽ bất ổn đó mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng năm 1611 mới
đặt tên phủ mới này là phủ Phú Yên, sau khi phải đánh mới chiếm được đất. Năm
1597 Lương Văn Chánh không thể khai phá đất này dễ dàng được để mà người đời
nay tôn ông là Thần Hoàng của đất này. Mở nước và giữ nước công phu như thế,
con cháu hậu sinh đừng nên lấy chuyện giữ biên cương cho được vẹn tòan là chuyện
“lấy làm chơi-Bức Dư Đồ Rách của Tản Đà.”
MINH
VŨ TÔNG THỰC LỤC. (phần in chữ nhỏ dành cho người thích tra cứu.)
Thực lục
ngày 17/6HT18(17-7-1505). Con của quốc vương CT là Sa Cố Bốc Lạc
sai sứ Sa Bất
Đăng Cổ lỗ sang cống, xin đại thần đến cảng Tân Châu phong tước
nhưng không tâu rõ cha mất. lời tâu của Lương Bật có đoạn “Lời di huấn của Hoàng Tổ cho rằng Chiêm
Thành triều cống mang thương nhân đi
theo, nhiều trí trá, cần ngăn cấm… thực hư khó biết… kỳ thực quốc vương nước
này lập hay không, không lệ thuộc vào việc phong tước hay không phong tước… nếu
không xử trí được vấn đê lãnh thổ, lại đến phong, nếu sứ giả bị câu lưu để chờ
phân xử, không biết triều dình xử trí như thế nào…”Bộ lễ họp bàn nói CT
không cáo ai, không nói rõ năm tháng Cổ Lai mất. Vậy sai ty Bố Chánh Quảng Đông
gửi văn thư để nước này trình báo. Hoàng
Thượng chấp nhận(TL ngày ). Thực lục ngày 13/7HT18(12-8-1505).
Ban phẩm vật cho sứ CT.
Thực lục
ngày 26/7Chính Đức(CĐ) thứ 5(30-8-1510). Thế tử Cố Sa Bốc Lạc sai chú là Sa Hệ Bà Ma đến xin phong. Bộ Lễ tâu
có đoạn “Sa Hệ Bà Ma đến kinh đô đã 1
tháng, quan bạn tống và mang sản vật địa
phương vẫn còn đi sau , nên trị tội trì hoãn.” Ban thưởng sứ CT. Về quan bạn
tống, lệnh ty Pháp xét hỏi.
Thực lục
ngày 3/8 CĐ5(5-9-1510).
Sai chánh sứ Lê Vu Thông và phó sứ Lưu Mật đi phong vương cho CT. Thực lục viết
nói trước đây sai Lý Quán đi sứ phong vương cho CT. Quán đến Từ Châu, gặp cướp
cắt ngắn tóc; tâu xin dưỡng ở nhà, chờ tóc dài rồi đi. Được chấp thuận. Sau đó
Mật chết trên đường đi; Quán đến Quảng Đông tâu mấy lần nên việc trì hoãn đến 7 năm
không đi; triều đình bàn cho nước này lãnh sắc phong mang về. Thực lục ngày 20-9-1510
viết nói ban cho sứ Sa Hệ Bà Ma phẩm vật.
Thực lục
ngày 13 tháng Chạp CĐ7(19-1-1513). Thực lục viết về Lý Quán và Lưu Mật đi sứ
phong vương cho CT trước đây. Họ nhận sắc. Đến Quảng Đông, Mật bị bịnh chết.
Sai Lưu Văn Thụy đi thay. Thụy chưa đến, Quán tâu nói có những năm CT không đến
cống. Mới đây các quan bàn không nên đi xa để phong. Vậy xin tuyên sắc phong tại
quán dịch Hoài Viễn tại Quảng Thành, cùng ban thưởng cho vua CT. Lệnh cho sứ là
bọn chú vương Sa Hệ Bà Ma lãnh mang về. Bộ Lễ bàn nói Sa Cố Bộc Lạc xin phong
đã hơn 2 năm. Nay vô cớ dừng lại là sai với chế độ phục hưng nước bị diệt, nối
dòng bị đứt. Sa Hệ Bà Ma không tuân theo hay phong cho người khác để đi đến
tranh chấp thì xử sự làm sao. Xin như cũ sai Quán đến sắc tại nước này để khỏi
thất tín với ngoại Di và giữ thanh danh TQ. Hoàng Thượng chấp nhận.
Thực lục
ngày 16/7CĐ10(25-8-1515). Thực lục viết nói sứ CT bọn Lục Na Ba
lãnh sắc phong trở về nước. Thực lục viết tiếp việc sứ Lý Quán đi phong. Đến Quảng
Đông xin lệ sắc phong cho Cổ Lai là cho sứ thần CT nhận sắc mang về nước. Đình
thần bàn không nên phong để sứ mang về. Lệnh Quán phải đi gấp. Quán lại tâu: “Đi sứ nơi xa cần có hướng đạo biết đường,
thông dịch viên biết ngôn ngữ và chữ viết; nay tất cả đều không có, xin bàn và
phân xử.” Đình thần bàn lại: “Lệnh
các quan tuần phủ dịa phương, bằng mọi cách tìm cho được người hướng đạo và
thông dịch. Nếu không có được; chấp nhận theo lệ cũ thi hành.” Quán lại tâu
nói phụng mệnh đã hơn 5 năm. Mấy lần dâng sớ lên nhưng chưa quyết định
cách đi. Sợ sóng gió. Lời tâu có đoạn “nhưng
đáng lưu ý là đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị
trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc; không còn ở chỗ cũ,
xét không thể đi được” Quán tâu tiếp nói Cổ Lai là đầu mục giết vua đoạt
ngôi. Vua có 3 con, hiện còn một. Không mang quân đi hỏi tội thì cũng chấm dứt
đường triều cống. Cho họ lãnh sắc phong mà đi. Cần gì phải kiếm hướng đạo thông
dịch, họp bàn vô ích. Tuần án Quảng Đông ngự sử Đinh Giai tấu tương tự. Họp
bàn. Lời bàn có đoạn “Trung Quốc đối các
Di Địch, đến thì vỗ về, không đến thì cắt đứt. Nay thế tử ở rừng núi bưng biền không đến được;
vậy nên ra lệnh Tuần Án Quảng Đông triệu chánh sứ Lục Na Ba đến dụ rằng sứ thần không
thể đi xa được, rồi lấy sách phong cùng lễ vật từ quán trao cho sứ thần mang về.
Như vậy không mất lòng nước Di xa xôi, mà toàn vẹn thể chế của Tiều đình.”
Chiếu chấp nhận rồi lệnh Quán trở về
Thực lục
ngày 5/8CĐ15(16-9-1520). Sứ và chú vua là Sa Một Đế Đại triều cống. Thực lục
ngày 25-1-1521 viết
nói Quốc vườn CT Sa Cổ Bốc Lạc sai chú là Sa Một Đế Đại, chánh phó sứ Sa Bát Thoat Na Biện
sang cống và tạ ơn sắc phong..
MINH THẾ
TÔNG THỰC LUC .
Thực lục
ngày 3/Một Gia Tĩnh thứ 15(16-11-1536). Thực lục nói Annam 20 năm nay không làm
tròn chức cống. Hãy sai sứ hỏi tội(Triều nhà Mạc). Thực lục ngày 26-11-1536. Bộ Binh họp bàn chinh phạt. Thực lục ngày
7-12-1536.
Ban chiếu có thể thi hành chinh phạt Annam. Thực lục ngày 12-1-1537. Đình
chinh phạt, đợi vệ Cám Y khám tâu. Thực lục ngày 13-3-1537. Sứ vua Lê Trang Tông sang. Triều
đinh câu lưu sứ để xét hỏi việc nhà Mạc đoạt ngôi. Thực lục ngày 24-4-1538. Cho
Mao Bá Ôn nhận chức Tổng Đốc Tham Tán trông coi lục quân được tiện nghi hành sự.
Thực lục
ngày 21/6GT22(22-7-1543) vua Công Sa Nhật Đế Tề sai chú là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ sang cống. Thực lục
ngày 11-8-1543.
Sứ Bất Đăng Cổ Lỗ xin lệ cấp cho mũ và dây đai, than nước mấy lần bị Annam đánh
phá, đường sá trở ngại không về được, xin cho người hộ tống xuất cảnh. Được chấp
nhận.
KẾT LUẬN
VỀ TRIỀU VƯƠNG SA
CỐ BỐC LẠC(SCBL) VÀ CÔNG SA NHẬT ĐẾ TỀ. Cổ
Lai chết. Con là SCBL sai chú là Sa Bất Đăng Cổ lỗ sang nhà Minh xin đại thần đến cảng Tân Châu
phong vương nhưng không khai báo cha mất lúc nào và đất đai ra sao nên triều
đình lệnh ty Bố Chánh Quảng Đông gửi văn thư để CT trình báo(TL ngày 17-7-1505).
Lại sai chú là Sa Hệ Bà Ma xin phong. Sứ đến kinh đô đã 1 tháng
nhưng quan bạn tống và mang phẩm vật vẫn còn đi sau. Ban thưởng sứ và lệnh ty
Pháp xét hỏi quan bạn tống về tội trì hoãn(TL ngày 30-8-1510). Đường sứ đi ngược trở lại, từ
nhà Minh sang CT cũng không thông. Sự đi phong vương gặp khó khăn vì sứ nhà Minh ngại
đi đến CT, tìm cách thoái thác không đi. Triều đình sai chánh sứ Lê Vu Thông và
phó sứ Lưu Mật đi phong vương cho CT(TL ngày 5-9-1510). Đầu tiên sai Lý Quán đi rồi
nội bộ sửa lệnh bắt Thông đi. Rồi Thông khiếu nại nên lệnh Quán Đi(5-9-1510). Đến Từ Châu, Quán bị cướp cắt tóc, tâu xin dưỡng
ở nhà, chờ tóc dài rồi đi. Sau Mật chết trên đường đi. Quán đến Quảng Đông tâu
mấy lần nên việc trì hoãn đến 7 năm không đi. Bàn cho CT lãnh sắc phong mang về(TL
ngày 5-9-1510). Ban cho sứ Sa Hệ Bà Ma phẩm vật(TL ngày 20-9-1510).
Thực lục lại nói chuyện Quán đi sứ. Mật bị bịnh chết nên sai Lưu Văn Thụy đi
thay. Thụy chưa đến thì Quán tâu nại lý do có những năm CT không đến cống và mới
đây các quan bàn không nên đi xa để phong vì vậy nên tuyên sắc ở quán dịch Hoài
Viễn tại Quảng Thành cùng ban thưởng cho vua CT. Lệnh cho Sa Hệ Bà Ma(SHBM) lãnh mang về. Bộ Lễ bàn nói xin phong hơn 2 năm nay vô cớ dừng
lại thì sai với chế độ phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt. Nếu SHBM không
tuân theo hay phong cho người khác thì xử lý làm sao. Xin sai Quán đi đến phong
tại nước CT. Hoàng Thượng chấp nhận(TL ngày 19-1-1513). Đến Quảng Đông, Quán lại xin
lệ phong cho Cổ Lai là cho sứ nhận sắc phong đem về nước. Bàn không nên và lệnh
Quán phải đi gấp. Quán lại tâu xin hướng đạo(HĐ) và thông dịch(TD). Bàn lệnh
quan địa phương tìm cho được HĐ và TD. Không có thì chấp nhận lệ cũ. Quán lại
tâu nói sợ sóng gió. Và nói “nhưng đáng lưu
ý là đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí
không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc; không còn ở chỗ cũ,
xét không thể đi được” Quán lại tâu nại lý do Cổ Lai là đầu mục giết vua đoạt
ngôi. Vua có 3 con hiện còn một. Không mang quân đi hỏi tội thì cũng chấm dứt
đường triều cống. Cho họ lãnh sắc phong mà đi. Cần gì tìm HĐ, TD, họp bàn vô
ích. Tuần án ngự sử Quảng Đông tâu tương tự. Họp bàn. Lệnh tuần án Quảng Đông
triệu Lục Na Ba
đến nhận sắc phong, lễ vật mang về nước. Lệnh Quán trở về(TL ngày 25-8-1515). Thực
lục ngày 16-9-1520
viết nói sứ và chú Sa Một Đế Đại của vua sang triều cống. Thực lục
ngày 25-1-1521 viết
nói quốc vương Sa Cố Bốc Lạc sai chánh phó sứ Sa Bát Thoát Na Biện sang cống và
tạ ơn sắc phong.
Rất lâu sau CT mới đáp lễ chứng tỏ đường đi sứ không
thông, rất khó khăn. Trong đoạn này thấy rõ nước Nam Bàn ở sâu trong nội địa, xứ
Xích Khâm bang, Đô Lang quốc. Có phải là xứ đất
đỏ Ban Mê Thuộc là vương quốc của triều
vương Sa Cố Bốc Lạc?
Đời vương tiếp theo là Công Sa Nhật Đế Tề Đến đời Minh Thế Tông, thực lục
ngày 3/Một Gia Tĩnh thứ 15(16-11-1536) nói việc Annam 20 năm không cống nên sai
quân đi hỏi tội. Viết việc tháng 11-1540, ĐVSKTT viết “Mạc Đăng Dung cùng với cháu là…bề tôi là…qua trấn Nam Giao, mỗi người đều
cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không, đến phủ phục trước mạc phủ của quân
Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân
dân và quan chức cả nước để chờ phân xử.”(Lê Trung Hưng kiện nhà Mạc tiếm
ngôi).
Thực lục ngày 22-7-1543 vua Công Sa Nhật Đế Tề sai chú là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ sang cống. Thực lục ngày 11-8-1543
viết nói sứ Bất Đăng Cổ Lỗ xin lệ cấp mũ và dây đai, than bị Annam mấy lần đánh
phá, đường sá trở ngại không về được, xin cho người hộ tống. Vua Công Sa Nhật Đế
Tề ở
vào thời Trịnh Kiểm(1545-1570) nắm quyền nhà Lê Trung Hưng.
Thời Lê-Trịnh biên giới phía Nam(BGPN) do biên thần ở
phủ Hoài Nhân coi giữ. Chiêm Thành không lợi dụng nước có nội chiến tiến chiếm
đòi đất là do công của biên thần. Đến đời triều Trịnh Tùng(TT) có 2 lần TT củng
cố BGPN. Lần thứ nhất khoảng năm 1578. Năm 1573, TT dẹp được Lê Cập Đệ và Trịnh Cối,
chế ngự được quân Mạc, diệt vua Anh Tông, tôn vua Lê Thế Tông lên ngôi. TT chuyển
sang việc củng cố BGPN. Năm 1578 sai Lương Văn Chánh đánh vào Hồ Thành. Lần thứ
2 vào năm 1597.
Năm 1592 TT lấy lại được Đông Đô(Thăng Long) cho nhà Lê từ tay nhà Mạc. Năm
1593 TT truy đuổi tàn quân nhà Mạc lên tận biên giới phía Bắc. Tháng 5 Nguyễn
Hoàng theo về. TT trở lại củng cố BGPN. Năm 1596 tưởng thưởng công biên thần Lương
Văn Chánh(LVC) làm quan ở huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhân. Năm 1597 sai
LVC đi khai hoang đất phía Nam đèo Cù Mông. Về sau, triều vua Nguyễn vinh danh
LVC là Tiền
Trấn Biên quan(tiền là có trước đây), một trong số các trấn biên quan có công
trong công cuộc Nam Tiến của chúa. Người đời nay lầm ông là Thần Hoàng dựng đặt
đất Phú Yên.
Viết việc tháng 3-1509, ĐVSKTT viết: “Thánh Tông thân hành đi đánh Chiêm bắt được
Trà Toại và vợ con nó đem về nước ta an trí ở ngoài cữa Bảo Khánh gần 30 năm. Đến
đời Cảnh Thống(1498-1504), con là Trà Phúc
mang trộm hài cốt của cha là Trà Toại trốn về nước… Trà Phúc đã trở về nước sai
con là Ma La sang cầu viện nhà Minh, lại đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương.”
Triều Trà Phúc thuộc dòng vua Nam Chiêm Thành(NCT). Trong ký ức, người NCT đời
sau nhớ rất ít về việc và nhân vật lịch sử ở Bắc Chiêm Thành(một số tác giả
trên mạng). Họ lẫn lộn nhiều vị vua với nhau và nhiều sự kiện với nhau. Người
NCT tôn thờ vị anh hùng dân tộc Trà Duyệt, Trà Toàn, Trà Toại và có tháp thờ
các vị vua này ở Ninh Thuận. Các cát cứ địa phương và các vua NCT tiếp tục đánh
vào phủ Hoài Nhân. Cho tới năm 1611, xứ Nam Hà của chúa Nguyễn mới vượt qua bên kia đèo Cù Mông. Công giữ vững biên giới phía Nam Đại Việt của biên thần LVC
không nhỏ. Công dựng đặt phủ Phú Yên là công của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hậu duệ của ông.
MỘT CHÚT VỀ ĐỊA HÌNH ĐẮC LẮC, CỮA NGÕ PHÚ YÊN.
Đắc Lắc-Gia
Lai là “phần trũng” của cao nguyên Nam Trung Bộ. Độ cao khoảng 500m(vùng tô màu
hồng trong bản đồ Jm Henthorn). Phía Bắc là cao nguyên KonTum cao chớn chở(tô màu
đỏ) với các ngọn núi cao 2378m ở ranh QuảngTín-KonTum, ngọn cao 2299m ở
ranh KonTum-QuảngNgãi. Từ đó phát ra nguồn của sông VuGia, ThuBồn đổ nước về Bắc,
nguồn của sông Trà Khúc đổ về Bắc rồi sang Đông, nguồn sông Côn đổ về Nam. Về phía
Nam KonTum có ngọn Ngọc Krinh(2066m) phát ra nguồn Sông Ba chảy về Nam và ở phía
Tây. Từ KonTum chảy về Tây có sông Sesam
đổ nước vào sông Mekong.
Phía Nam
ĐắcLắc-GiaLai cũng là một cao nguyên cao chớn chở(tô màu đỏ), cao nguyên LangBiang
với ngọn chư YangSin(2442m), chư TuSa(1977m) ở Phía Bắc. Phía Đông giáp
ranh với Khánh Hòa có ngọn Hòn Giao(2062m) và giáp ranh với Ninh Thuận có ngọn Bidoup(2287m). Từ đây phát ra nguồn sông Krong Kno chảy về
Tây vào sông Srepok rồi vào sông MeKong, phát ra nguồn sông ĐồngNai chảy về Nam
và phát ra nguồn sông Cái ở Nha Trang chảy về Đông.
Sông Ba
chảy qua và ở trên cao nguyên thấp lè tè và rộng lớn này, ở cao độ 500m: cao nguyên đất đỏ GiaLai-Đắc
Lắc. Sông Ba ngoặc sang Đông chảy về Phú Yên. Thung lũng sông Ba có phải là cửa
ngỏ vào Tây Nguyên hay không? Đi máy bay trông xuống ta sẽ tháy cái cữa ngỏ
này. Máy bay(MB) từ Tân Sơn Nhất bay thẳng lên Bắc. Trông xuống, khách du thấy núi
rừng trùng trùng điệp điệp. Bỗng nhiên khách thấy bên dưới máy bay “một trãng” đất đỏ rộng
lớn như một vùng “toàn cỏ tranh” và đồi Thấp. ĐắcLắc-GiaLai là đây. Ngoặc sang
Đông chẳng bao lâu, thì MB đáp xuống phi trường ĐôngTác. Vào thời Minh Mạng, nước
Thủy Xá Hỏa Xá theo cửa ngỏ này vào cống. Tiền trạm là đồn Phúc Sơn(Củng Sơn).
Biên thần Phú Yên tiếp sứ và báo về triều Đình Huế.
Mùa kỷ niệm
Chiến Tranh Trung-Việt 17-2- 1979 ở biên giới phía Băc. Thuộc đoạn sử và địa lý
như trên đây thì ta sẽ yêu quê hương đất nước bội phần. Ta Không thể có hành động
phản cảm như các DƯ LUẬN VIÊN xua đuổi những người đến thắp hương tri ân những vị
vì quốc vong thân để bảo vệ biên cương cho được vẹn toàn, dưới tượng đài vua dựng
nước Đại Việt là Lý Thái Tổ. 17-2-2017, Ongtampy.
|







0 nhận xét:
Đăng nhận xét