Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

RẶNG ĐẠI LÃNH với Ba ĐÈO




 















    RẶNG ĐẠI LÃNH VỚI Ba ĐÈO
(Trích đoạn trong bản thảo sách Phu Yên 400 Năm Nhìn Lại)

1-Rặng Đại Lãnh.
Người Phú Yên nên hãnh diện có được rặng núi này.
Tính chất hùng vĩ và chiến lược của rặng núi được lãnh đạo đời xưa để ý tới. Nguyễn Hoàng lúc lâm chung đã căn dặn người con thứ 6 chú ý đến đất Nam-Ngãi-Binh-Phú nằm giữa 2 rặng núi chiến lược là rặng Hải Vân và rặng Đại Lãnh, một thứ đất dụng võ để lập cơ đồ. Qủa nhiên sau chúa Tiên, các chúa đời sau lấy nơi đây làm căn bản mở rộng đất đai tới tận bờ vịnh Thái Lan. Mở màn là sự nghiệp của chúa Sãi(1613-1634). Chúa từ đây(Phú Yên) cho dân vượt biển đến định cư ở Mô Xoài đất Chân Lạp khoảng trên dưới năm 1620. Mãi đến đời chúa thứ 4, chúa Hiền(1648-1687) người Việt mới vượt qua rặng Đại Lãnh chiếm đất Kauthara lập ra dinh Thái Khang năm 1653, chấm dứt thân phận hạn hẹp trong giữa 2 cái đèo Hải Vân-Đại Lãnh đã từng dùng làm hang ổ, củng cố thực lực. Bốn đời chúa(Tiên, Sãi, Thượng và Hiền) “lót ổ” trong cái đất sau này gọi là Liên Khu 5 và dùng Phú Yên làm trấn biên để củng cố thế lực. Trước kia, trong thiên niên kỷ thứ nhất(khoảng năm 100), người Tượng Lâm cũng dùng đất Nam Hải Vân làm hang ổ để tấn công nhà Hán ở Phương Bắc mà lập ra nước Lâm Ấp rồi tiến xuống Phương Nam tiến hành hợp nhất các tiểu vương lập ra nước Hoàn Vương rồi thành ra nước Chiêm Thành. Không biết việc ấy có được là nhờ tính chất chiến lược của vùng này hay đó là Đất Thiêng. Hễ một thế lực đến đây thì 1 giai đoạn quan trọng lịch sử chấm dứt thay thế 1 giai đoạn lịch sử quan trọng mới.
Về sau, chính nơi này nổ ra khởi nghĩa Tây Sơn chấm dứt 2 nhà chúa Trịnh-Nguyễn. Tây Sơn dứt chúa Nguyễn ở Nam Hà rồi Quang Trung tiến ra diệt Trịnh ở Bắc Hà. Cũng chính nơi đây làm chiến trường Nguyễn Vương Ánh-Tây Sơn tranh nhau 2 cái thành Diên Khánh và Qui Nhơn để quyết định ai thắng ai? Thế rồi Nam Hà-Bắc Hà được thống nhất thành nước Việt Nam thay nước Đại Việt tồn tại từ thời lập quốc qua các triều Lý, Trần, Lê. Đến khi triều cuối cùng nhà Nguyễn của Hoàng Gia Việt Nam mà Trần Trọng Kim làm thủ tướng, thoái vị(vua Bảo Đại), tháng 8 năm 1945, thì vùng này thuộc Liên Khu 5 của nước VNDCCH(có chủ tịch nước). Năm 1954 khi Quốc Gia Việt Nam có Quốc Trưởng(Bảo Đại) và có thủ tướng trở lại vùng này thì đệ nhất VNCH(có tổng thống) ra đời để rồi năm 1975 mở màn cuộc tháo chạy cũng xảy ra ở đây, tĩnh lộ 7 lịch sử. Lời cữa miệng dân gian Phú Yên nói “chiến tranh tới Phú Yên là yên”có lẽ là vì thấy như thế. Ngày xưa cũng thế. Sau năm 1471 đất Nam Cù Mông bất ổn. Chiêm Thành không ngừng đòi lại đất đai. Cho đến năm 1599 Trịnh Tùng xưng vương(Binh An Vương), Nguyễn Hoàng bỏ việc khôi phục ngôi nhà Lê mà ông cha của ông bao đời cố gắng mới trở về Nam năm 1600, lập nghiệp riêng nhà chúa. Sang năm 1611 NH tiến đánh chiếm đất Nam Cù Mông đặt ra phủ Phú Yên. Đất này mới được yên.
Rặng Đại Lãnh nằm trong vùng Đất Thiêng Nam Ngãi Bình Phú. Ngoài lịch sử như trên và cái bề ngoài hùng tráng của nó, Rặng Đại Lãnh còn có cái vẻ đẹp thần tiên của một vùng núi non sông nước trời bể: mây trắng, nước trong xanh sâu thẳm, cây cối um tùm tươi tốt, bờ bể khúc khỷu, quanh co, hiểm trở như một kỳ quan tự nhiên của tạo hóa ban cho con người để chiêm ngưỡng. Rặng Đại Lãnh uy nghi đứng nhìn ra vịnh Văn Phong và vũng Rô mà cổ nhân gọi là Chử Châu, với phong thủy(gió-nước) đẹp tuyệt trần. Du khách trong ngoài xứ qua đây không khỏi thốt lên lời cảm thán. Tu Bông là tên một địa danh mà có tác giả nói là do lời cảm thán cảnh đẹp của người Pháp khi qua đây đặt ra: “Tout est bon”, tức là mọi thứ đều tuyệt đẹp. Ngoài cái hùng vĩ tự nhiên ở nơi đây còn có cái hùng vĩ nhân tạo: Hệ thống hầm xuyên qua đèo Cả của tuyến đường sắt xuyên Đông Dương. Hầm lớn bậc nhì sau hầm đèo Hải Vân và nơi đây được vinh dự để cựu Hoàng Bảo Đại tự tay mình vặn bù lon kết nối mối ray cuối cùng nối 2 đầu Bắc Nam của tuyến đường sắt vào dịp khánh thành tuyến đường sắt năm 1930. Hai đầu đường sắt làm đến đây thì dừng lại bỡi cái hùng vĩ của rặng núi này cản trở con đường đi. Phải chờ kỷ thuật tân thời của Pháp Quốc thời đó mới xuyên được nó trong mấy năm đào bới.
Đại Lãnh là rặng núi cao nhất của Phú Yên nằm chiễm chệ vắt ngang qua con đường tiến xuống phương nam, chắn lối đi đầy thách thức của tộc Lạc Việt. Rặng núi là “con” của đấng hùng vĩ hơn là Cao Nguyên Darlac-Lâm Viên hùng tráng của Phương Nam. Con sao không mang “dòng máu”ngang tàng của mẹ. Nằm trên sống lưng của nó(rặng Đại Lãnh) có đỉnh Mẹ Bồng Con cao 2051m, chỉ thua Langbiang cao 2167m và Chư Yang Sin cao 2442m, cao nhất ở Miền Nam tại tọa độ12độ24phút vĩ độ Bắc và 108độ26phút kinh đông chỗ giáp ranh Cao Nguyên Darclac và cao Nguyên Lâm Viên, trong tĩnh Tuyên Đức cũ. Có lẽ núi Bà Nam phân định 2 nước Thủy Xa-Hỏa Xá là núi này(Chư YangSinChư TupSa).
Nhiều tác giả nói thủy thủ người Âu nói Đá Bia là “Ngón Tay” của chúa để chỉ đường đi cho họ. Nhưng ngọn Đá Bia cao 706m, thấp lè tè so đỉnh với Mẹ Bồng con cao chót vót tới 2051m mà ngàn trùng ngoài biển Đông cũng thấy nó. “Ngón tay của chúa” chắc là khối đá Mẹ Bồng Con hơn là cái đá bia. Trên đường xuôi ngược Bắc Nam thủy thủ khi qua điểm cực Đông của Việt Nam là Mũi Điện (tên cũ là mũi Nạy, mũi Varella. Sự thực Mũi Đôi ở vịnh Văn Phong mới là điểm cực Đông)ở bờ Đông vũng Rô, tận ngoài khơi mênh mông, sự thực lần đầu tiên thấy đất liền nước Việt Nam là khối đá Mẹ Bồng Con(ngón tay của chúa là đây) của rặng Đại Lãnh nhìn ra vịnh Văn Phong hơn là thấy cái Đá Bia.
Mẹ Bồng Con xứng đáng là hòn Vọng Phu Phương Nam, hùng vĩ như Trần Huyền Ân so sánh với nàng vọng phu Tô Thị ở Cao Bằng. Hùng vĩ không những do cao độ tạo ra mà còn do cấu trúc. Chưa có tác giả nào đến tận nơi xem nó để về mô tả lại nhưng chắc chắn nó không làm bằng đá vôi mau tàn phai theo sương gió như nàng Tô Thị ở Cao Bằng ngày nay đã rơi rụng không còn nữa. Có lẽ nó làm bằng đá hoa cương. Nếu nó làm bằng đá Hoa cương, một loại hỏa nham to hạt như đá bia thì có thể nói nó trông chồng đến muôn đời.
Ngày nay khách du ít khi xui ngược bằng đường hàng hải mà lại lạnh lùng bỏ rơi bạn đồng hành với mình là hàng hóa nặng mặc kệ trôi dạt lênh đênh trên biển cả trong những container chừng nào tấp vào cảng thì tấp, để vội vàng leo lên “lưng”con đại bàng sắt Boeing, Airbus gì gì đó mà lướt gió tung mây chu du sơn thủy mau hơn, hấp dẫn hơn. Ngày nay người ở Tuy Hòa ít ai để ý đến cái thích thú chiều chiều, sáng sáng ngước mắt lên trời chiêm ngưỡng cái vẻ đẹp của các con chim sắt đó lướt trong mây xanh để cái đuôi “sương khói” như một giải Ngân Hà trên bầu trời xanh tuyệt đẹp ở trên bầu trời của rặng Đại Lãnh. Cảnh tượng gợi nhớ tới các cánh diều thời thơ ấu, cũng có cái đuôi tung bay khi nó lướt gió. Rặng núi Đại Lãnh cũng như ta, nhìn lên mà mỉm cười sung sướng vì ngày nay cũng có khách du thập phương lướt qua trên đầu mình để trông xuống mà chiêm ngưỡng cái vẻ đẹp hùng vĩ của mình(Rặng Đại Lãnh)để rồi tán thán thầm như khách xưa đã tán thán mình khi dùng xe hay tàu thủy đi qua địa phận Phú Yên câu “Tout est bon!”.
Ngày nay Tuy Hòa, Ninh Hòa có cái may là nằm trên tuyến hàng không quốc tế để khách du thập phương có dịp chiêm ngưỡng xứ sở của mình. Chẳng ai ở địa phương này hay biết chuyện ấy! Chỉ rặng Đại Lãnh biết mà thôi. Rặng Đại Lãnh không cô đơn. Nó có khách vãn lai chiếu cố đến vẻ đẹp của nó. Chỉ người dân ở đây, sống bên nó, đã vô tình với nó mà thôi.
Cảnh nào đẹp bằng cảnh lướt qua trùng dương bát ngát không biết đâu là bến là bờ đột ngột trông thấy đất liền, ngó xuống thấy núi non đồng ruộng hùng vĩ. Đất liền đây rồi! đất nước Tuy Hòa với Rặng Đại Lãnh đây rồi! khách Seoul, Hongkong, Maco, Thượng Hải đang thì thầm với rặng Đại Lãnh!
Rặng Đại Lãnh, nghĩa là núi to, còn mang tính huyền bí của xứ Trầm Hương. “Rủ nhau lên núi tìm trầm/Trầm đâu không thấy thấy hầm than đen”nói lên nỗi nhọc nhằn, khó khăn, bí hiểm nhưng cũng thú vị hấp dẫn vì cái tiền tài mà nó đem lại mỗi khi được trầm của người đi tìm trầm hương. Đoàn người đi tìm trầm giống với đoàn thám hiểm. Chuyện dân gian Phú Yên kể ngày xưa người ta ngậm ngải để đi tìm trầm. Tìm lâu ngày không thấy trầm hóa ra thành cọp! Địa bàn tìm trầm là rặng Đại Lãnh và dãy núi Tây Khánh Hòa giáp ranh tuyên Đức. Trên bản đồ có vòng cao độ thấy rõ địa bàn này(có các đỉnh màu đỏ có cao độ 1400-2100m là cao độ của cao nguyên LangBiang). Luận Bình hầu Văn Thế Nghị kể chuyện cho Lê Qúi Đôn nghe chuyện tìm trầm khám phá ra Thủy Xá Hỏa Xá. Còn Đại Nam Thực Lục Tiền Biên nói chuyện vua Hỏa Xá đến huyện Sơn Bốc trấn Tây Thành(Phnompenh). Kết hợp 2 câu chuyện cho ta nghi núi Chư YangSin và Chư TupSa là núi Bà Nam nói trên đây. Xuyên qua rặng núi non này có 3 đèo đi vào lịch sử.
2-Ba Đèo:  là Đèo Đại Lãnh, Đèo Gian Nan, Đèo Nhà Cắp(Cắp do nguyên bản chữ Hán Việt là phỉ mà ra, có chỗ nói là đèo Nhà Gắp). Còn một đèo nữa là đèo Sầm Dương.
Sau biến cố Tây Sơn, Nam Trung Kỳ ở dưới thời Chu Văn Tiếp và quân ngũ dinh được 10 năm(1773-1782) và 10 năm sau đó ở trong tay Tây Sơn(1782-1793). Tiếp sau đó là chiến tranh Nguyễn Vương Ánh-Tây Sơn gọi là giặc gió mùa. Hai bên tranh nhau 2 cái thành chiến lược là thành Diên Khánh và thành Qui Nhơn qua vùng đệm Phú Yên có con sông Đà Rằng và Rặng Đại Lãnh chiến lược. Khới đầu là trận 1793 và chấm dứt vào tháng 3/1802 (cũng khoảng 9 năm kháng chiến) giữa bên này 2 danh tướng là Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu đương đầu với bên kia cũng là 2 danh tướng Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành(ngày khải hoàng thống nhất đất nước 2 tướng này trở thành tổng trấn Gia Định Thành và Bắc Thành trấn giữ 2 địa đầu của đất nước mới). Địa danh 3 đèo đi vào thiên lịch sử bi hùng tráng đó.
 2.1- Đèo Đại Lãnh:
Có lẽ ở phía Tây đường Đèo Cả ngày nay, ở giữa núi Đại Lãnh và núi Xá. Từ chỗ ga Đại Lãnh, đường đèo vòng qua sườn phía Tây núi Đại Lãnh(ngày nay gọi là núi Đèo Cả). Giữa núi Đại lãnh và núi Đá Bia là Đèo Cả. Rồi đường đèo  mở ra ở bờ phía Tây Biển Hồ thay vì men theo sườn Đông núi Đại Lãnh(núi Đèo Cả) sát mép nước biển tiến lên đỉnh đèo Cả ở giữa núi Đại Lãnh và núi Đá Bia rồi xuống đèo men theo sườn phía Tây núi Đá Bia, cặp theo bờ Đông Biển Hồ như ngày nay. Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) có nhắc tới địa danh Đèo Cả nhưng mô tả lại là đèo Đại Lãnh. Trên đèo có trạm Phú Hòa phân ranh 2 tĩnh Phú Yên-Khánh Hòa. Trạm kế tiếp ở phía Bắc là trạm Phú Thịnh ở xã Trường Thịnh. Không biết vị trí trạm này ở nơi đâu. Trên bản đồ đăng trong tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ(BAVH) số 4 năm 1929 có ghi tên village Phước Thịnh ở bờ Nam sông Đà Rằng đối diện với Thành Hồ. Bản đồ còn in con đường cái quan(la route mandarine) đi Cheo Reo chạy ngang qua Thành Hồ rồi men theo kênh số 3 của hệ kênh Bắc thủy nông Đồng Cam. Phải chăng Phú Thịnh là Phước Thịnh của xã Trường Thịnh trên đường Thiên Lý Cổ qua Thành Hồ? 
Đèo Đại Lĩnh là nơi vào tháng 3 năm 1795, Trương Phúc Luật chia đóng đồn trại từ núi Cổ Ngựa đến Đèo Cả(Đại Lĩnh), tức bờ biển thuộc thôn Đại Lãnh ngày nay, và quản binh thuyền các vệ ở Chử Châu(vũng Rô?) để giữ. Tháng 6 Hộ giá Tây Sơn Nguyễn Văn Huấn đem thuỷ bộ vào Đà Diễn. Vua Nguyễn sai Tống Viết Phước đến giữ Đèo Cả. Năm 1797 tháng 9 vua ban áo đông cho cai cơ giữ Đại LĩnhMai Tiến Vạn. Sách dịch bộ Đại Nam của nhà Nguyễn có dùng tên Đèo Cả. Không biết nguyên bản chữ nôm có từ Đèo Cả hay không. Có thể “Đèo Cả” do người dịch ra chữ Quốc Ngữ dịch “Đại Lĩnh” ra “Đèo Cả”. Thời đó người ta không vượt qua được khối đá của núi Đại Lãnh chạy sát biển để đến đỉnh đèo ngày nay ở giữa núi Đá Bia(706m) và núi Đại Lãnh, nhất là vượt qua khối Đá Đen lúc sắp lên đỉnh đèo. Đường Thiên Lý phải vòng sang sườn phía Tây núi  Đại Lĩnh. Tên gọi đúng phải là đèo Đại Lãnh. Ngày xưa người Việt không có khả năng khai thông lối đi men theo sườn phía Đông núi Đại lãnh này được, phải đợi đến thời Pháp thuộc mới có đường đèo Cả như Nam Tước Đại Thần Đoàn Đình Duyệt ở triều Khải Định(1916-1925) mô tả Tây nó làm đường Đèo Cả. Sách vở viết vào thời điểm này lẫn lộn đèo Cả với đèo Đại Lãnh. Ngày nay thì địa danh đèo Đại Lãnh biến mất. Gỉa thiết đưa ra là tên đèo Cả mới có từ thời Pháp Thuộc.
2.2-Đèo Gian Nan.
Cũng còn gọi là đèo Cục Kịch. Tại đây xảy ra trận đánh năm 1794. Thái Úy Nguyễn Văn Hưng và Tổng Quản Trần Quang Diệu đem đại binh (40.000 quân) phản công chiếm lại Phú Yên mà năm 1793 Nguyễn Vương Ánh xua quân Chiếm, lấn tới Qui Nhơn. Nguyễn Nhạc cấp báo. Phú Xuân tiếp cứu. Nguyễn Huệ mất năm trước(1792). Quân Gia Định chận viện binh ở đèo này để giữ thành Diên Khánh. Tiếp theo Trần Quang Diệu tiến công vây Võ Tánh đang cố thủ trong thành Diên Khánh, cố nhổ cho được cái gai này được dựng lên năm 1793.
Năm 1795 quân Nguyễn từ Gia Định ra giải vây cho Võ Tánh. Võ Văn Lượng đóng đồn ở đèo Gian Nan. Nguyễn Văn Nguyện giữ Thạch Thành. Đặt đồn trại từ núi Cổ Ngựa đến đèo Cả. Trương Phúc Luật coi binh thuyền ở Chử Châu. Tất cả có nhiệm vụ chặn đường về TS đang vây Diên Khánh. Rồi quân Gia Định tấn công Bình Khang để giải vây cho Võ Tánh ở thành Diên Khánh. Tháng 4 ba đô đốc TS đem quân đồn trú ở sông Đà Diễn bị Võ Văn Sở phá được. Tháng 6 hộ giá TS(triều Quang Toản ở Phú Xuân) Nguyễn Văn Huấn, đem quân vào sông Đà Diễn mưu bắt Trần Quang Diệu đang vây Võ Tánh. Quân Gia Định nghiêm giữ 3 đèo. Quân TS phạm đèo Gian Nan bị đẩy lui. Tháng 7 Phú Xuân có biến Trần Quang Diệu phải bỏ vây Võ Tánh để mà lui binh và bị chận đánh tơi tả ở tuyến đèo Cả và ở đèo Gian Nan, phải theo đường Nhà Cắp chạy về Qui Nhơn rồi về Phú Xuân. Hộ giá Tây Sơn là Nguyễn văn Huấn mưu đánh bắt Trần Quang Diệu không thành về Thuận Hoá trước. Diệu dẫn quân theo. Phú Yên còn thuộc Tây Sơn.
Trận năm  1797 Tháng 9 vua ban áo đông cho cai cơ giữ đèo Gian Nan là Nguyễn Văn Nguyện. ĐNNTC còn nói đèo này có núi Uy Chỉ là chỗ phát nguyên của sông Bàn Thạch. Chi tiết này xác minh khá rõ vị trí của đèo này ở khoảng Đồng Cọ của Phú Yên và Tu Bông của Khánh Hòa.
Tháng 11 năm 1798 Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường đem quân Gia Định phản công, tiến đóng quân ở sông Đà Diễn. Tiểu triều Nguyễn Văn Bảo(con của Nguyễn Nhạc) đánh úp thành Qui Nhơn mà Quang Toản(con của Nguyễn Huệ) đã chiếm thành này). Thái uý  Nguyễn Văn Hưng giữ thành cho triều Phú Xuân thua chạy. Bảo sai Đoàn Văn Cát, Nguyễn Văn Thiệu giữ chợ Hội An(Phú Yên còn thuộc Tây Sơn) và sai người dâng biểu xin hàng quân Gia Định. Nguyễn Vương Ánh sai bọn Nguyễn Văn Thành từ Bình Khang ra Phú Yên tiếp ứng. Quân Gia Định chưa đến thì Nguyễn Quang Toản đã đem quân vây đánh bắt Bảo giết đi, sai Lê Văn Thanh làm lưu thủ Phú Yên. Phú Yên đổi chủ thuộc triều Quang Toản.
Trận năm 1799 tháng 3, Gia Định cử đại binh đi đánh Qui Nhơn. Sai Nguyễn Văn Thành ra Diên Khánh sắc cho Đông Cung nghiêm coi 3 đèo cẩn thận việc quan phòng, cấm đi lại, không được để lộ tăm hơi. Tháng 4 Phạm Văn Điểm đang giữ Phú Yên đầu hàng, quân Gia Định thu phục được Phú Yên rồi tiến ra Qui Nhơn. Tháng 6 lấy Thành Qui Nhơn. Đổi tên thành Thành Bình Định. Tháng 9  Mai Tiến Vạn đem quân giữ 3 đèo. Quân Nguyễn tổ chức cai trị Phú Yên. Có nhiều tướng quan trọng của TS ra hàng. Phú Yên đổi chủ, thuộc quân Gia Định.
Tháng giêng năm 1800 Thiếu Phó Trần Quang Diệu và Tư Đồ Võ Văn Dũng vào Nam cố đánh chiếm lại thành Bình Định. Từ đây các đại tướng Tây Sơn mất đất dụng võ ở Nam Cù Mông. Võ Tánh giữ chặt thành Bình Định để trói chân các đại tướng TS quấn quít ở đây. Trước khi quân TS đến, Võ Tánh  triệu quan quân ở phú yên về họp. Đêm vượt đèo Cù Mông, hàng tướng Tây Sơn Phạm Văn Điểm làm phản chiếm lại Phú Yên cho Tây Sơn. Diệu, Dũng lấy Phạm Văn Điểm làm thuộc tướng, cho làm Án Trấn, biên hết dân Phú Yên làm binh, chia đặt đồn sở chống viện binh Gia Định. Vua sai Trần Văn Duyên hiệp bọn Mai Tiến Vạn, Nguyễn Văn Quế giữ cẩn thận 3 đèo bảo vệ Bình Khang(Khánh Hòa), đối lũy với TS ở Phú Yên. Gia Định phản công. Diệu nghe đại binh đến Diên Khánh  cho Đào Công Giản, Đô đốc Tuấn vào Phú Yên họp với bọn Phạm Văn Điềm giữ bảo Hội An, La Thai. Đất Phú Yên chỉ là vùng điệm(án trấn). Các đại tướng TS thì chỉ lo bao vây thành Bình Định mà thôi. Tháng 5, đại binh quân Gia Định đến. TS bỏ Phú Yên. Vua đóng bản doanh ở Hòn Nan trong vịnh Cù Mông(bây giờ Phú Yên làm hành tại cho chiến trường giải vây Võ Tánh. Phú Yên làm hậu phương cho chiến trường Bình Định.
Tên đèo Vận Lương ở bờ Tây vịnh Cù Mông có lẽ khai sinh từ đây. Chính nơi này lương thực từ Gia Định tải ra hay qua kho trung chuyển ở Cù Huân(Nha Trang) tải ra  được cất lên nuôi quân tiền tuyến trái với 1 số tác giả không có cảm tình với nhà Nguyễn nói thông qua đèo Vận Lương nhà Nguyễn vơ vét thóc gạo của Phú Yên chở đi, tức theo chiều ngược lại. Chiến trường để 2 bên tranh 2 cái thành Diên Khánh và Qui Nhơn gây đau khổ cho vùng đệm Phú yên hơn là chiến trường mang đến sự an bình thời có phong trào cách mạng Tây Sơn. Năm 1776 Nguyễn Nhạc bèn bắt tráng đinh 3 huyện của phủ Qui Nhơn vào đánh Gia Định(theo Việt Sử Xứ Đàng Trong và ĐNTLTB). Nay Phạm Văn Điểm biên hết dân Phú Yên làm binh, chia đặt đồn sở chống viện binh Gia Định như nói ở trên(ĐNTLCB).
Một việc hiểu lầm tương tự là sự tích miếu Bà Trang. Trong Non Nước Phú Yên(NNPY) in lần thứ 12 NXB-TN, Nguyễn Đình Tư có ghi rõ ràng câu “Do truyền khẩu từ trước kể lại ”. Nhưng đoạn kể rất dài làm độc giả, loại đọc tài liệu sử theo kiểu cưỡi ngựa  xem hoa, cứ ngỡ là chuyện có thật không hề suy gẫm. Cứ thế mà truyền cho con cháu. Truyền thuyết thành chính sử hồi nào không hay. Chuyện giống như trường hợp Lương Văn Chánh(LVC) và Cao Cát. Chuyện thi xây tháp được kể ở nhiều vùng trên đất nước chứ không chỉ ở Phú Yên và nhiều chuyện dân gian khác nữa đồng hóa thần hoàng LVC với tôi thần LVC của triều Lê. Thần hoàng thờ ở trong miếu với các sắc phong tưởng thưởng kiểu nhớ ơn anh hùng liệt sĩ thời bình, thời vua Nguyễn thống nhất sơn hà, khác với tôi thần LVC của triều Lê bằng xương bằng thịt. Công trạng ghi bằng sách sử hay bằng văn bia. Nhân thân tôi thần LVC chỉ có mỗi một bản văn ký ngày 10-2 năm Quang Hưng thứ 20(Lê Thế Tông, Đinh Dậu, 1597) cử viên quan an biên quan trấn LVC ở huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhân đi làm việc ở các xứ Cù Mông Bà Đài Bà Diễn Bà Nông là rõ ràng nhân thân viên quan này mà thôi(lúc đó chưa có Trấn Biên dinh và từ Bà chưa được thay thế bằng từ Đà như khi Phú Yên thuộc lãnh thổ vua Pôrômê(1627-1651) gốc người Chu Ru. Người Chu Ru gọi tên sông có chữ Đà ở trước như tên gọi sông suối ở cao nguyên Lâm Viên ví dụ Đa Nhim, Đa Huoai…). Nội dung về LVC trong bộ Đại Nam (Liệt Truyện Tiền Biên và Nhất Thống Chí) chép na ná như bản văn trên, không rõ ràng gì hơn. Không có tài liệu chánh sử nào khác hay bia ký nào nói về ông. May ra trong Phủ Tập Ký Sự Quảng Nam của Mai Thị có đề cập chăng nhưng tập này cũng tam sao thất bổn. Bản chánh không còn. Miếu LVC không biết được xây cất từ năm nào. Từ đó truyền thuyết về LVC lại càng được thêm thắt nữa. Nhân Kỷ Niệm Phú Yên 400 Năm tôi được tiếp cận được văn bản ký năm 1596 còn lưu giữ ở miếu LVC. Bây giờ thân thế LVC mới rõ ra. Tôi mới biết chức, tước của ông mới có từ năm 1596 và được làm quan ở Tuy Viễn năm 1597 mà thôi.
Trở lại sự tích Miếu Bà Trang. Đọc toàn bộ chuyện kể về Bà Trang trong NNPY thấy chuyện kể về Nguyễn Ánh chứ không phải chuyện Nguyễn Vương Ánh. Chuyện kể này thấy xuất hiện ở nhiều vùng ở cái xứ Nam Hà. Chuyện của 1 hoàng thân 17 tuổi của nhà chúa Nguyễn mà trời còn cho sót lại bị Tây Sơn rượt đuổi thất điên bát đảo ở đất Gia Định. Ông hoàng này không ở đất Phú Yên mà đã theo chúa Duệ Tông lánh Tây Sơn từ đất Quảng Nam vào thẳng Gia Định. Khi Nguyễn Ánh trở lại đất Phú Yên thì đã trở thành Nguyễn Vương Ánh đã lập được triều chính ở Gia Đinh. Đây là thời Phục Hưng. Vua không còn trốn chui trốn nhủi nữa. Hành quân thu phục đất đai thường thực hiện 3 đường tiến quân: Thượng đạo, trung đạo và thủy quân. Vua điều khiển thủy quân hoặc đi trước chặn chốt hoặc đi sau nhưng không bao giờ lên bộ 1 cách đơn côi để Tây Sơn rượt đuổi như thời hoàng thân Nguyễn Ánh 17 tuổi ở Gia Định. Khi lấy đất Phú Yên lần thứ nhất rồi lui về xây tiền đồn Diên khánh thì vua Nguyễn Ánh có lực lượng hùng hậu rồi, hành quân có bài có bản. Ông ta có binh chủng quân Thần Sách tổ chức thành dinh: Tiền quân dinh, hậu quân dinh, tả quân dinh, hữu quân dinh và trung quân dinh. Đến khi lấy được Phú Yên lần 2 nhiều trướng sĩ Tây Sơn ra hàng. Nguyễn Vương Ánh lập thêm binh chủng mới là quân Ngự Lâm tổ chức thành 5 đồn: Tiền đồn, hậu đồn, tả đồn, hữu đồn và trung đồn quân Ngự Lâm hợp với quân Thần Sách, cho Võ Tánh điều khiển thủ cho được thành Bình Định. Ta không thể tin chuyện kể như Nguyễn Đình Tư được để mà truyền cho con cháu và nhất là hướng dẫn viên du lịch Phú Yên 400 trăm năm cho khách du viếng Phú Yên mà không có sự dè dặt. Truyền thuyết là truyền thuyết. Chuyện kể là chuyện kể. Phải nhấn mạnh cho rõ ràng và tránh vì cảm tính mà đồng hóa truyền thuyết thành chánh sử.
Trở lại chuyện 3 đèo. Nguyễn Vương Ánh sai Mai Tiến Vạn giữ 3 đèo xét hỏi lính trốn và gián điệp qua lại. Tháng 12 thành Bình Định vì bị vây lâu(trọn năm 1800), cữa Thị Nại thì bị TS giữ vững. Vua Nguyễn buồn bực. Vua nghĩ dùng hoả công. Trận này lực lượng 2 bên ngang ngửa. Tây Sơn không hạ được thành và quân Gia Định cũng không giải vây được thành Bình Định. Phú Yên thuộc quân Gia Định. Vua đóng ở vịnh Cù Mông điều khiển trận đánh.
Tháng giêng năm 1801 quân Gia Định đánh úp bằng hoả công chiếm được cữa Thị Nại. Phía Nam thành Bình Định thông được với Phú Yên. Tháng 2 vua bỏ Cù Mông đem các thuyền hiệu ở Cù Mông tới đậu ở cữa Thị Nại. Từ Phú Yên trở vào trong trống không. Phạm Văn Điềm lẻn đánh cướp Phú Yên(PY). Sai Nguyễn Đức Xuyên, Tống Viết Phước đem thuỷ bộ tiến đánh PY. TS vỡ trốn rồi tham đốc Phạm Văn Điềm trở lại đánh PY lần nữa. Nguyễn Long chống không nổi lui về Đà Diễn. Khí giới, lương thực bị TS lấy hết. Việc báo lên. Vua dụ rút về giữ 3 đèo chờ lịnh. Sai Lê Chất đem quân đánh lấy (PY). Điềm thua chạy. Vua bàn định ngày xuất quân đánh Phú Xuân, lưu Nguyễn Văn Thành cầm cự với Diệu, Dũng đang bao vây thành Bình Định. Tháng 5 ngày Mậu Dần lấy được kinh đô Phú Xuân. Ở thành Bình Định thì lương hết Ngô Tòng Chu uống thuốc độc chết. Võ Tánh lấy thuốc súng bỏ vào lầu Bát giác tự thiêu. Tháng 6. Diệu, Dũng chiếm được cái thành trống không, sai Tham đốc Phạm Văn Điềm đánh cướp giữ(PY) để cắt quân Gia Định. Vua Nguyễn sai Tống Phước Lương đi thuyền vượt vào 3 đèo hội với tiên phong Nguyễn Văn Tánh đang chống giữ. Tuyển lính khoẻ ở Gia Định đánh úp lấy (PY). Phạm Văn Điểm cố đánh lấy (PY) để chia cắt quân Gia Định, cô lập thành Diên Khánh nhưng không thành.
Trận năm 1802
Từ lâu Lê Văn Duyệt từ Quảng Ngãi đánh xuống. Nguyễn Văn Thành ở phía dưới (Nam thành Bình Định)đánh lên cầm chân 2 tướng Tây Sơn Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu đang giữ cái thành Bình Định trống không với cái phủ Qui Nhơn(Hoài Nhân cũ) xơ xác, sau khi Võ Tánh và Ngô Tòng Chu tuẩn tiết. Tới bây giờ, tháng 3/1802 Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành không còn giữ thế thủ cầm chân nữa, mới mở thế tấn công thành Bình Định. Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu bỏ thành mà theo thượng đạo đi ra Nghệ An.
2.3-Đèo Nhà Cắp.
Trên đây là đoạn mô tả cái quan trọng 3 đèo của rặng Đại Lãnh. Chi tiết mỗi đèo ít tài liệu mô tả đến. Vào tháng 3 năm 1795, đốc chiến Mai Tiến Vạn, cai cơ Nguyễn Văn Nguyện đóng giữ ở Thạch Thành để chận đường lưu thông qua đèo Nhà Cắp. Không có tài liệu nào mô tả rõ đèo này đích xác ở đâu. Theo văn cảnh của các tài liệu thì thấy có lẽ đèo này thông qua Thạch Thành. ĐNNTC thì nói đèo Nhà Gắp ở phía Nam huyện Tuy Hòa. Nửa đèo phía Nam thuộc địa phận Khánh Hòa. Phía Bắc là đèo Sầm Dương, có thủ sở. Đèo Nhà Cắp được mô tả rõ trong trận năm Ất Mão (1795) như đã nói ở trên: Trần Quang Diệu vây Võ Tánh ở thành Diên Khánh không thành công rồi theo đường tắt là đường qua đèo Nhà Cắp để về Qui Nhơn. ĐNTL-CB thì nói Vua thân đem thuỷ quân đến Chử Châu, sai Nguyễn Đức Xuyên, Nguyễn Hiên, Lê Thành Lý đi gấp tới đèo Gian Nan đặt 3 bảo ở chân núi ngăn giặc. Giặc chạy đến Tu Hà, đem hết quân vây đánh bảo của quân Gia Định. Quân Gia Định lấy đại bác bắn quân và voi của Tây Sơn chết nhiều. Nguyễn Văn Thành đuổi quân TS vừa tới. Quân Tây Sơn vỡ chạy. Nguyễn Văn Đắc chặn đánh bị trúng đạn tử trận. Võ Văn Lượng và Nguyễn Đức Xuyên đem quân theo sau đánh bắt tướng binh voi rất nhiều. Tướng Tây Sơn là bọn Trần Quang Diệu bèn theo đường núi Nhà Cắp chạy về Qui Nhơn. Nhưng không nói rõ theo đường nào đến đèo nhà Cắp. Theo như mô tả trận đánh thì Tây Sơn bị chận đánh không thể vượt qua đèo Gian Nan hay đèo Đại Lãnh được. Đại Binh Tây Sơn còn mạnh lắm nên quân Nguyễn không dám truy kích. Họ chôn giấu tài khí ở Bình Khang rồi bỏ về Phú Xuân đang có biến. Có thể Trần Quang Diệu thối lui về Vạn Gỉa, đến Ninh Hòa rồi ngược lên thượng đạo mà qua đèo Nhà Cắp. Có phải Hùng Lộc năm xưa hành quân theo tuyến đường này, ở phía Tây Phú Yên, để vào đất Ninh Hòa, đánh bọc hậu quân Bà Tấm, cho 1 trận hỏa công đánh bất ngờ vào ban đêm. Quân Chiêm trở tay không kịp?
ĐNTL-TB nói năm 1797 Tháng 9 vua ban áo đông cai cơ giữ đèo Sầm Dương là Nguyến Văn Quế. Đèo Sầm Dương có phải đèo Hổ Dương trước kia Hùng Lộc vượt qua để đánh Bà Thấm? ĐNTL ghi trong trận năm 1799 vào tháng 2 tướng thượng đạo Nguyễn Long đem quân đến 3 đèo là Đại Lãnh, Sầm Dương và Gian Nan. Bàn đồ Hồng Đức có ghi tên Đèo Hổ Dương nhưng nhận định không rõ nơi nào trong rặng Đại Lãnh.
3-Tầm quan trọng của rặng Đại Lãnh với 3 đèo.
Đoạn mô tả các trận đánh kể trên cho ta thấy vị trí chiến lược của rặng Đại Lãnh với 3 đèo. Năm 1794 TS dùng tới 40000 quân và đại tướng Nguyễn Văn Hưng để chiếm lại Phú Yên. Năm 1795 Trần Quang Diệu vây Võ Tánh ở thành Diên Khánh, cố nhổ cho được cái gai này. Nguyễn Ánh thì ra lệnh giữ cho được thành Diên Khánh bất cứ giá nào. Quân Gia Định dùng 3 đèo để chận viện và áp đảo ý chí quyết hạ thành Diên Khánh của Trần Quang Diệu. TS cho 3 đô đốc Phượng, Nguyên và Quế chiếm giữ sông Đà Rằng, đóng đối lũy 3 đèo. TS xâm phạm đèo Gian Nan. Võ Văn Lượng phải đẩy lui. TS hạ thành Diên Khánh chưa được chỉ vì Phú Xuân có biến mà thôi. Tiếp sau đó phòng tuyến này được giữ vững trong các năm 1796, 1797. Năm 1798 Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường mới tiến thêm bước nữa là tiến đóng ở sông Đà Diễn. Quân Gia Định bị chặn đứng ở đây cho tới năm 1799 mới tiến lấy Phú Yên làm bàn đạp để hạ cho được hành Qui Nhơn. TS phản công vây thành Bình Định. Hai bên bất phân thắng bại. Phạm Văn Điểm 4 lần cố chiếm Phú Yên cho Tây Sơn để giúp Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng hạ thành Bình Định. Phú Yên trải bao phen đau khổ vì nội chiến.
Từ năm 1793 đến 1802 là 9 năm kháng chiến. PY chứng kiến những trận đánh bi hùng của cả 2 bên nhằm tranh chiếm đất PY có sông Đà Rằng và rặng Đại Lãnh hiểm trở có 3 đèo để bảo vệ 2 thành chiến lược của 2 bên mà ít người ở PY để ý đến. Công giữ tuyến chiến lược này để Nguyễn Vương Ánh thành công thống nhất nước Nam có cả tướng Mai Tiến Vạn mà mộ phần cùng đình thờ của ông ngày nay còn hiện diện ở phường 5 thị xã Tuy Hòa mà nhân dân có mấy ai biết!
4-Rặng Đại Lãnh và Chiến Dịch ÁtLăng.
Như trên ta thấy vùng đất Nam Ngãi Bình Phú là Đất Thiêng đã từng dung thân cho quân dân Lâm Ấp, quân dân của chúa Nguyễn, quân dân của Tây Sơn, quân dân của Nguyễn Vương Ánh. Sang thập niên 1940-1950 đất thiêng này cũng dung thân cho VM sống tới 9 năm kháng chiến chống Pháp. Rồi đến một ngày, ngày 20-1-1954 chiến cuộc 2 bên Pháp-Việt bùng nổ ở đây. Tức thì cuộc chiến chấm dứt đưa tới VM thống nhất Miền Bắc. Và Liên Hiệp Pháp thống nhất Miền Nam. Nguyễn Hữu Thọ từ Củng Sơn theo đường 7 ra đi. MTGPMN thành lập. Chiến cuộc 21 năm đến hồi kết thúc. Mở màn là trận thất thủ Ban Mê Thuộc và cuộc triệt thoái khỏi cao Nguyên của VNCH lại diễn ra trên con đường 7 với sông Đà Rằng nằm bên rặng Đại Lãnh với 3 đèo năm xưa. Hồi đó, năm 1802 nơi đây cũng là nơi chấm dứt cuộc chiến 9 năm(1793-1802) giữa Nguyễn Ánh và TS tranh cái thành Bình Định. Phạm Văn Điểm 4 lần cố chiếm Phú Yên cho TS. Người dân Phú Yên nói “chiến tranh  đã đến Phú Yên là yên” chắc suy từ những sự kiện như vậy. Thời Chiêm Thành cũng thế. Sau Đồ Bàn thất thủ có cuộc chiến 140 năm(1471-1611). Chiêm Thành tranh đất Nam Cù Mông. Đến khi Văn Phong lấy đất này thì chúa Tiên đặt tên phủ là Phú Yên thì yên hẳn từ đây.
Trở lại chiến dịch Atland mở màn năm 1953  vào buổi sáng tốt trời ngày 20-1-1954 trong tiết tháng chạp. Năm ấy người Tuy Hòa không biết đón xuân là gì. Chiến dịch cũng xảy ra trong mùa Xuân, mùa Xuân 22 năm trước(1953-1975). Tài liệu trên Phú Yên Online nói 2 tiểu đoàn TQLC của Liên Hiệp Pháp đổ bộ lên bờ biển phường 7 thị xã Tuy  Hòa. Hai tiểu đoàn nhảy dù nhảy xuống sân bay Đông Tác và sân Chóp Chài. Đối lại là Đại Đội 377 và lực lượng du kích. Ngày 21 Binh Đoàn số 10 với hàng 100 xe cơ giới và xe bọc thép trên trục lộ Quốc Lộ 1 đánh ra Đèo Cả. Đối lại là Đại Đội 392 và lực lượng du kích. Mười ngày sau 2 cánh quân Liên Hiệp pháp(liên quân không quân, thủy quân và bộ binh) liên lạc được với nhau. Ngày 25 hai Binh Đoàn 41 và 42 từ Cheo Reo đánh xuống Củng Sơn. Liên quân không vượt qua rặng Đại Lãnh mà điều quân từ ĐakLak xuống. Đối diện là đại đội 389 và 378 cùng lực lượng du kích. Ngày 16-2-1954 Liên Hiệp pháp tấn công ra Tuy An và Đồng Xuân. Cánh quân phía tây(thượng đạo trong các chiến trường ngày xưa) tiến lên làm 2 cánh. Một cánh tiến ra Xuân Phước, Xuân Quang đối địch là Đại Đội 371 và du kích. Một cánh tiến xuống Sơn Long để đến An Xuân, An Nghiệp. Đối diện phía bên kia là Đại Đội 380 và du kích. Binh Đoàn số 10 tiến theo Quốc Lộ 1 đối địch với Đại Đội 389, 374 và du kích. Mất 4 ngày 2 cánh quân của Liên Hiệp Pháp liên lạc được với nhau. Cuộc hành quân ngày nay(1954)cho ta nhớ lại các cuộc điều quân trong quá khứ của Nguyễn Vương Ánh mô tả trong Đại Nam Thực Lục(ĐNTL) tiến quân theo đường thượng đạo và hạ đạo và thủy quân theo đường biển y hệt như vậy. “Cao nguyên”Vân Hòa chiến lược nằm giữa 2 châu thổ Sông Cái và sông Đà Rằng đã dùng làm đường tiến quân vào Nam ra Bắc của các lực lượng trong quá khứ như Hùng Lộc đánh vào sau lưng quân Bà Thấm, Trần Quang Diệu bỏ vây Võ Tánh ở thành Diên Khánh về Qui Nhơn, Hoàng Tử Cảnh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Long, Mai Tiến Vạn, Nguyễn Văn Nguyện và quân Gia Định bao lần vượt Vân Hòa ra đánh Qui Nhơn. Và Vân Hòa dùng làm nơi cát cứ dấy binh như trường hợp Chu Văn Tiếp và Thị Hỏa.
Tướng Nava, tư lịnh Đông Dương tạm ngưng chiến dịch vào ngày 18-2-1954, rồi mở chiến dịch Axen vào đầu tháng 3-1954 đánh Bình Định cũng từ 3 mặt An Khê, Phú Yên, và từ biển đánh vào. Đến đầu tháng 5-1954 lại mở chiến dịch Attila đánh Quảng Ngãi. Hành quân y hệt thời Tây Sơn đánh chúa Duệ Tông để bắt Đông Cung ở Quảng Nam.
Chiến trường Tây Bắc VN sôi động. Tướng Êly thay tướng Nava chủ trương thu hẹp vùng chiếm đóng. Ngày 16-6-1954 Liên Hiệp Pháp rút khỏi Sông Cầu, này 19-6-1954 rút khỏi Chí Thạnh. Thị xã Tuy Hòa được bảo vệ bỡi tiền đồn đóng ở Mỹ Thạnh, Gò Mầm, Phong Niên, Gò Mũi và Núi Sầm. Ban ngày họ đi càng quét. Ban đêm bị VM tấn công cho đến ngày 20-7-1954 Hiệp Ước Đình Chiến Geneve được ký kết, chấm dứt 9 năm kháng chiến. Trong chiến dịch này ta cũng thấy vị trí quan trọng dãy Đại Lãnh và sông Đà Rằng. 
Phú Yên là tĩnh nhỏ ít ai trong nước biết tới nhưng trong lịch sử có những sự kiện làm mốc đáng chú ý. Chiến tranh Việt Minh-Liên Hiệp Pháp(1945-1954). Năm 1953 Pháp đến PY thì yên. Chiến tranh VNDCCH-VNCH(1954-1975). Quân Bắc Việt trở về PY thì yên. Xa hơn trong lịch sử, chiến tranh Nguyễn Vương Ánh(1793-1801). Chúa Nguyễn trở về PY thì yên. Chiến tranh Đại Việt-Chiêm Thành(1471-1611), chúa Nguyễn đến PY thì yên. Năm 1653 Hùng Lộc vượt đèo Hổ Dương đẩy lui Chiêm Thành qua khỏi rặng Đại Lãnh và Thành Hồ sau 182 năm(1471-1653) Việt-Chiêm tranh chấp.
Mùa Đông năm 2010
Lãnh Nam Huynh Ba Cung.
Mời xem hòn Vọng Phu với rặng Đại Lãnh nhìn từ phía Nam.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét