Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Truyện Kiều câu 2667-3254



-175-
*Áo xiêm buộc trói lấy nhau(1)


Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?

Sao bằng riêng một biên thùy,
2470. Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
2475. Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
2480. Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.
2485. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa(2).
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng: Ơn Thánh đế dồi dào(3),
2490. Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu.
Bình thành(4) công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
1-Có bản viết “ràng buộc lấy nhau.”Lại có bản viết “đùm bọc lấy nhau.”Nhưng chữ “đùm bọc”e không đúng vì 2 chữ ấy có nghĩa “bênh vực.”Có bản viết “E dè gió giập, hải hùng sóng va.”3-Có bản viết “Rằng: trong thành trạch dồi dào.”4-Do chữ “bình thiên thành địa”nghĩa là sửa sang nên việc cho trời đất.
-176-
Ngẫm từ gây việc binh đao,
Đống xương Vô định(1) đã cao bằng đầu.
2495. Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào(2)!
Sao bằng lộc trọng quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua(3)?
Nghe lời nàng nói mặn mà,
2500. Thế công Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh.
.
.   .
Tin lời thành hạ yêu minh(4),
Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng.
2505. Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công(5).
Kéo cờ chiêu phủ(6) tiên phong,
2510. Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục(7) ra đầu cửa viên.
1-Bài thơ tuyệt cú của Trần Đào đời vãn Đường có câu “Khả liên vô định hà biên cốt”là khả thương đống xương ở bên sông Vô Định. Vô Định hà là song chạy từ tĩnh Tuy Viễn qua phủ Diên An ở Thiểm Tây vào song Hoàng Hà. Vì có nhiều  cát, chỗ nông, chỗ sâu nên mới gọi là Vô Định. Ngày xưa quân Tàu đánh Hung Nô ở đây chết nhiều lắm. 2-Xem số 4 tr 162: Thơ của Hoàng Sào, tướng giặc đời Đường có câu “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy”là nửa vai đeo cung kiếm có trời cho, một  chèo đi khắp non song trên đất. 3-Ý câu này nói muốn lập công danh thì chỉ có một lối theo về với triều đình mà thôi. 4-“Thành hạ yêu minh”là 2 bên đến dưới thành giao ước hòa với nhau. 5-“Khắc cờ”là hẹn giờ. “Tập công”là đánh úp. 6-Cờ “chiêu phủ”là cờ dụ hang và vỗ về quân sĩ cho về an cư lạc nghiệp. “Đầu”là đầu hang.
-177-
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ(1).
2515. Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
2520. Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Trơ như đá vững như đồng(2),
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời.
Quan quân truy sát đuổi dài(3).
Hằm hằm sát khí ngất trời ai đang.
2525. Trong hào ngoài lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: Trí dũng có thừa,
2530. Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!
Dòng thu như xối cơn sầu(4),
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
2535. Lạ thay oan khí tương triền(5)!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.
Quan quân kẻ lại người qua,
Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân(6),
2540. Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han.
1-Có bản viết “Bốn bên dựng cờ.”2-Có bản viết “Rắn như đồng”3-bản kinh viết “Quan quân thừa thế đuổi dài.”4-Có bản viết “như giội cơn sầu”hay “như chảy mạch sầu.”5-“Tường triền ”là quấn quit với nhau. 6-Bản kinh viết “Mới đem vào nộp trung quân.
-178-
Rằng: Nàng chút phận hồng nhan(1),
Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương!
Đã hay thành toán miếu đường,
Chấp công(2) cũng có lời nàng mới nên.
2545. Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào?
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
Rằng: Từ là đấng anh hùng,
2550. Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi!
Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
2555. Năm năm trời bể ngang tang(3),
Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không(4).
Khéo khuyên kể lấy làm công,
Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít tội nhiều,
2560. Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho tiện thổ một đôi(5),
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.
Hồ công nghe nói thương tình,
Truyền cho kiểu tang(6) di hình bên sông.
1-“Thành toán miếu đường”là câu chữ có nghĩa là mưu mẹo đã định trước ở chốn miếu đường, tức chỗ triều đình. 2-“Chấp công”là lập công. 3-Do câu “ngang tàng nhất trượng phu”là người đàn ông chí khí ngang dọc trong đời. 4-Có bản viết “Thoắc đem mình bỏ chiến trường như không.”5-Bỡi chữ “thiển thổ nhất đôi”là một đống đất nông. 6-“Cảo táng”hay “Kiểu táng”là bọc cỏ mà chon.Nghĩa là chôn dối trá.
-179-
2565. Trong quân mở tiệc hạ công(1),
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan .
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say lại ép vặn đàn nhặt tâu .
Một cung gió thảm mưa sầu,
2570. Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay !
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tay, Hồ cũng nhăn mày rơi châu .
Hỏi rằng: Này khúc ở đâu ?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay !
2575. Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này,
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ .
Cung cầm lựa những ngày xưa,
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !
Nghe càng đắm đắm càng say(2),
2580. Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình !
Dạy rằng: Hương hỏa ba sinh(3),
Dây loan xin nối cầm lành cho ai .
Thưa rằng: Chút phận lạc loài,
Trong mình nghĩ đã có người thác oan .
2585. Còn chi nữa cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân(4) .
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần(5) là may!
1-Hạ công là tiệc mừng thắng trận. 2-Có bản viết “nghe càng đắm, ngắm càng say.”hay là “càng nghe, càng đắm, càng say.”3-do câu “Tam sinh hương hỏa”là 3 đời có thề ước lấy nhau. Có khi dung 2 chữ “lửa hương”để chỉ lời thề. 4-“Tiểu Lân”là vợ vua nước Tề sau lấy đại vương nhà Đường, nhân có làm bài thơ rằng “Dục tri tam đoạn tuyệt, ưng khán bất thượng huyền ”là muốn biết lòng đau như thế nào thì nên xem cái dây đứt. 5-“Gốc phần”là gốc cây phần. Xem số 6 tr 165: “tử phần”là quê nhà mình. Ở đây nói xin cho về quê hương.
-180-
Hạ công(1) chén đã quá say,
2590. Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra .
Nghĩ mình phương diện quốc gia,
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào .
Phải tuồng trăng gió hay sao,
Sự này biết tính thế nào được đây(2) ?
2595. Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài .
Lệnh quan ai dám cãi lời,
Ép tình mới gán cho người thổ quan .
Ông tơ thực nhé(3) đa đoan !
2600. Xe tơ sao khéo vơ càn vơ xiên ?
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao.
.
.   .
Nàng càng ủ liễu phai đào,
Trăm phần nào có phần nào phần tươi ?
2605. Đành thân cát dập sóng vùi,
Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh !
Chưn trời mặt bể lênh đênh,
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào,
Duyên đâu ai dứt tơ đào,
2610. Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay !
Thân sao thân đến thế này ?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi !
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương !
2615. Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi !
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong .
1-Xem số 1 tr179. 2-Bản kinh viết “Lỡ lời biết tính thế nào là hay.”3-Xem số 1 tr116: “nhé”là tiếng đệm dùng sau câu tỏ ý kêu, gọi
-181-
Triều(1) đâu nổi tiếng đùng đùng,
2620. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây !
Đạm Tiên nàng nhé có hay !
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta(2) .
2625. Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút(3) gọi là để sau .
Cửa bồng(4) vội mở rèm châu,
Trời cao sông rộng một màu bao la(5) .
Rằng: Từ công hậu đãi ta,
2630. Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại  đứng ở trong cõi đời ?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông !
2635. Trông vời con nước(6) mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng Tràng Giang
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc chìm hương cho rồi(7)
Thương thay cũng một thân người,
2640. Hại thay mang lấy sắc tài làm chi !
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!
1-“Triều”là nước thủy triều. 2-Có bản viết “Hẹn ta, thì phải dưới này rước ta.”3-“Tuyệt bút là bài văn làm lúc sắp chết để lại. 4-Cữa bồng là cữa thuyền. Có bản viết “cữa phòng”tưởng là nhầm vì đây ở dưới thuyền. 5-Bao la là mênh mông, rộng rãi.6-Nhà thuyền chày hay gọi kỳ nước lên là con nước. 7-“cho rồi”ở đây cũng như nói mất rồi. Chữ “cho”dung như trong câu “làm cho mau”, “nói cho khéo.”Có bản viết “quá rồi”hay “vừa rồi
-182-
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi !
2645. Đời người đến thế thì thôi,
Trong cơ âm cực dương hồi(1) khôn hay .
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay,
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương!
X
Giác Duyên từ tiết giã màng,
2650. Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du(2).
Gặp bà Tam Hợp đạo cô(3),
Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng:
Người sao hiếu nghĩa đủ đường,
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi(4)?
2655. Sư rằng: Phúc họa đạo trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cõi phúc tình là dây oan.
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
2660. Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong(5),
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
2665. Ma đưa lối quỷ đem đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
1-Do câu “Ám cực dương hồi”là hết chỗ khổ rồi sướng. 2-“Vân du” là nói những người đi tu nay đây mai đó. 3-“Đạo cô”là tiếng gọi người đàn bà đi tu. 4-Có bản viết “Kiếp sau chịu những”hoặc là “gặp những.”5-Có bản viết “vậy nên những tính thong dong
-183-
ULOAD V Hết nạn ấy đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần(1).
Trong vòng giáo dựng gươm trần,
2670. Kề lưng hùm sói gởi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy sóng dồi,
Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh(2).
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết một mình mình hay.
2675. Làm cho sống đọa thác đầy,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
Một đời nàng nhé thương ôi còn gì!
Sư rằng: Song chẳng hề chi,
2680. Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp(3) Thúy Kiều,
Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm,
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
2685. Hại một người cứu muôn(4) người,
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng?
Túc khiên(5) đã rửa lâng lâng sạch rồi!
Khi nên trời cũng chiều người,
2690. Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
1-Thanh y 2 lần là một lần ở nhà Hoạn bà và một lần ở nhà Hoan thư. 2-Mỗi bản viết khác nhau. Có bản viết “mồi thủy tinh”là gièo mồi xuống thủy tinh cung, tức xuống thủy phủ. Bản viết “gieo mình vắng tanh”là gieo mình xuống sông lúc vắng tanh. Bản nào nghĩa cũng không rõ cả. 3-Tội nghiệp là nghiệp xấu kiếp trước. 4-Có bản viết “hại một người, cứu một người”không rõ ý nói thế nào.5-“Túc khiên”là tội kiếp trước.
-184-
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!
2695. Giác Duyên nghe nói mầng lòng,
Lân la tìm thú(1) bên sông Tiền đường,
Đánh tranh chụm nóc thảo đường(2),
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi.
Thuê năm(3) ngư phủ hai người,
2700. Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần(4)!
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân(5),
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
2705. Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
2710. Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.
Mơ màng phách quế hồn mai(6),
Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
1-Xem số 2 tr 135. “Thú”là nơi chỗ ở. 2-Có bản viết “lợp nóc thảo đường.”Thảo đường là nhà tranh. 3-Thuê năm là thuê cả năm. 4-“trong chuyển vần”là trong đạo trời. Có bản viết “khéo thay.”5-Duềnh ngân là vũng nước. Xem số 4 tr 110. Duềnh là vựng bể, vực sâu. 6-Xem số 2 tr 141. “quế phách hồn mai”là để nói giấc ngủ.
-185-
2715. Chị sao phận mỏng phúc dày,
Kiếp xưa đã vậy lòng này(1) dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu cứu người là nhân(2).
Một niềm(3) vì nước vì dân,
2720. Âm công cất một đồng cân đã già!
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về lâu,
Duyên xưa đầy đặn(4) phúc sau dồi dào!
2725. Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên,
2730. Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.
2735. Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều(5) dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
XI
Nạn xưa trút sạch lầu lầu,
.Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
2740. Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
1-Có bản viết “kiếp này dễ ai.”2-Cứu người là khuyên Từ Hải ra hàng để khỏi sự chinh chiến. 3-Có bản viết “một mình.”4-Có bản viết “duyên xưa tròn trặn.”5-xem số 1 tr 181. Triều là nước thủy triều.
-186-
Từ ngày muôn dặm phù tang(1),
Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.
Vội sang vườn Thúy dò la,
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.
2745. Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ(2) vách mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).
Xập xè én liệng lầu không(4),
2750. Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về, này những lối này ngày xưa.
Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
2755. Láng giềng có kẻ sang chơi,
Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.
Hỏi ông ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà nhà đã dời xa,
2760. Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân.
Đều là(5) sa sút khó khăn,
 Thuê may bán viết  kiếm ăn lần hồi.
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao!
2765. Vội han(6) di trú nơi cao,
Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi.
1-Phù tang là đưa tang, cũng như hộ tang.2-Quạnh quẽ là vắng vẻ, không có người. 3-Trong bài thơ của Thôi Hộ đời Đường có câu: “Đào hoa y cựu tiếu đông phong”nghĩa là hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ. 4-Nhà bỏ vắng chim én vào làm tổ. 5-Có bản viết “đều nay.”6-Có bản viết “hỏi thăm di trú
 

-187-
Nhà tranh vách đất tả tơi,
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa.
Một sân đất cỏ dầm mưa,
2770. Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn đường!
Đánh liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy ra.
Dắt tay vội rước vào nhà,
Mái sau viên ngoại ông bà ra ngay.
2775. Khóc than kể hết niềm tây:
Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?
Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
Gặp cơn gia biến lạ dường,
2780. Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng với lang quân,
Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.
2785. Gọi là trả chút nghĩa người,
Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên(1)!
Kiếp này duyên đã phụ duyên,
Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh(2).
Mấy lời ký chú(3) đinh ninh,
2790. Ghi lòng để dạ cất mình ra đi(4).
Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
Chàng Kim về đó con thì đi đâu?
Ông bà càng nói càng đau,
Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa.
1-Tràng hận ca có câu: “thử hận miên miên vô tuyệt ký”nghĩa là sầu này dằng dặc không bao giờ nguôi. 2-Lai sinh là kiếp sau.3-Ký chú là dặn dò. 4-Bản kinh viết “gởi lòng để lại, cất mình ra đi
-188-
2795. Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai!
Đau đòi đoạn ngất đòi thôi(1),
Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.
Thấy chàng đau nỗi biệt ly,
2800. Nhận ngừng(2) ông mới vỗ về giải khuyên:
Bây giờ ván đã đóng thuyền,
Đã đành phận bạc khôn đền tình chung!
Quá thương chút nghĩa đèo bòng,
Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?
2805. Dỗ dành khuyên giải trăm chiều(3),
Lửa phiền càng dập càng khêu mối phiền(4).
Thề xưa giở đến kim hoàn,
Của xưa lại giở đến đàn với hương(5).
Sinh càng trông thấy càng thương.
2810. Gan càng tức tối ruột càng xót xa.
Rằng: Tôi trót quá chân ra,
Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
Những điều vàng đá phải điều nói không!
2815. Chưa chăn gối cũng vợ chồng,
Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
Bao nhiêu của mấy ngày đàng,
Còn tôi tôi gặp nàng mới thôi!
1-Thôi là từng thôi một, lúc một. 2-Xem số 2 tr 154. “nhận” là đè nén xuống. “Ngừng” là thương xót.”Đây là nói nén cái thương xót. 3-Bản kinh đổi câu này và câu sau: “Nặng lòng thương phận tơ đào. Sẽ lòng đoái chút tuổi cao thân tàn.”4-Câu này chữ “phiền”vần với chữ “hoàn”thì ép vần quá, vì không đúng với luật vần thông.5-Các bản nôm đều viết thế cả. Nhưng tưởng chữ “của”đi với chữ “kim hoàn.”Chữ “thề”đi với chữ “đàn”và “hương”thì phải hơn. Vậy nên để “Của xưa giở đến kim hoàn, Thề xưa, lại giở đến đàn với hương.
-189-
Nỗi thương nói chẳng hết lời,
2820. Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.
.
.   .
Vội về sửa chốn vườn hoa,
Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang.
Thần hôn chăm chút lễ thường,
Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa.
2825. Đinh ninh mài lệ chép thư(1),
Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mướn của thuê,
Lâm thanh mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi hỏi một nơi,
2830. Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
Sinh càng thảm thiết khát khao,
Như nung gan sắt như bào lòng son.
Ruột tằm ngày một héo don,
Tuyết sương ngày một hao mòn hình ve.
2835. Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.
.
.   .

Xuân huyên lo sợ biết bao,
Quá ra khi đến thế nào mà hay!
Vội vàng sắm sửa chọn ngày,
2840. Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng.
Người yểu điệu kẻ văn chương,
Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì,
Tuy rằng vui chữ vu quy,
Vui này đã cất sầu kia được nào!
2845. Khi ăn ở lúc ra vào,
Càng sâu duyên mới càng dào tình xưa .
1-Có bản viết “mực mài nước mắt chép thư
-190-
Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
2850. Đốt lò hương giở phím đồng(1) ngày xưa
Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ(2),
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc trước thềm,
Tiếng kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
2855. Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.
.
.   .
Những là phiền muộn đêm ngày,
Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần?
Chế khoa(3) gặp hội tràng văn .
2860. Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân(4) một ngày .
Cửa trời rộng mở đường mây,
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần(5).
Chàng Vương nhớ đến xa gần,
Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền.
2865. Tình xưa ân trả nghĩa đền,
Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần.
Kim từ nhẹ bước thanh vân(6),
Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương .
Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
2870. Bây giờ kim mã ngọc đường với ai?
1-xem số 2 tr 148. Đồng là gỗ đồng. Đàn làm bằng thứ gỗ vông. 2-Có bản viết “bẻ bai rầu rĩ tiếng tơ.”3-Chế khoa là một khoa thi Hội. 4-Bảng xuân là đỗ hội thi.5-Ngõ hạnh là ngõ hoa hạnh trong vườn ngự uyển nhà vua, Dặm phần là quê nhà. 6-Thanh vân là đi làm quan. Có nhiều bảng viết “Chàng càng nhẹ bước thanh vân.”Để chữ “chàng”ở đây thành ra tối, không rõ Kim hay là Vương.
-191-
Rễ bèo chân sóng lạc loài(1),
Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly .
Vâng ra ngoại nhậm Lâm truy,
Quan sơn nghìn dặm thê nhi một đoàn.
2875. Cầm đường(2) ngày tháng thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao(3) .
Phòng xuân trướng rủ hoa đào,
Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,
2880. Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi .
Nọ Lâm thanh với Lâm Chuy,
Khác nhau một chữ hoặc khi có lầm.
Trong cơ thanh khí tương tầm(4),
ở đây hoặc có giai âm chăng là?
2885. Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên:
Sự này đã ngoại mười niên,
Tôi đà biết mặt biết tên rành rành.
Tú bà cùng Mã Giám sinh,
2890. Đi mua(5) người ở Bắc kinh đưa về.
Thúy Kiều tài sắc ai bì,
Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ .
Kiên trinh(6) chẳng phải gan vừa,
Liều mình thế ấy phải lừa thế kia.
1-Cái rễ bèo ở chưn sóng lúc chìm lúc nổi. 2-Cầm đường là quan huyện. Tử Tiện đời Xuân Thu làm quan huyện ở nước Lỗ, thường hay gảy đàn  làm việc quan, cho nên nhà quan huyện gọi là cầm đường. 3-Ông Triệu Biện đời nhà Tống ngày xưa đi làm quan chỉ đem một con hạc và một cái đàn đến quận, làm quan thanh liêm lắm. 4-Thanh khí, xem số 11 tr 64. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu nghĩa là cùng một thanh thì hợp nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau. Tương tầm là tìm đến nhau. 5-Có bản viết “có mua.”6-Kiên trinh là giữ trinh.
-192-
2895. Phong trần chịu đã ê chề,
Dây duyên sau lại gả về Thúc lang .
Phải tay vợ cả phũ phàng,
Bắt về Vô tích toan đường bẻ hoa .
Bực mình nàng phải trốn ra,
2900. Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia .
Thoắt buôn về thoắt bán đi,
Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
Bỗng đâu lại gặp một người,
Hơn người(1) trí dũng nghiêng trời uy linh .
2905. Trong tay muôn vạn tinh binh,
Kéo về đóng chật một thành Lâm Chuy .
Tóc tơ các tích mọi khi,
Oán thì trả oán ân thì trả ân .
Đã nên có nghĩa có nhân,
2910. Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen .
Chưa tường được họ được tên(2),
Sự này hỏi Thúc sinh viên mới tường.
Nghe lời Đô nói rõ ràng,
Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc sinh .
2915. Nỗi nàng hỏi hết phân minh,
Chồng con dâu tá(3) tính danh là gì?
Thúc rằng: Gặp lúc lưu ly(4),
Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ .
Đại vương tên Hải họ Từ,
2920. Đánh quen trăm trận sức dư muôn ngườị
Gặp nàng thời ở châu Thai,
Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên .
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng.
1-Có bản viết “hơn đời.”2-Có bản viết “song còn chưa biết họ tên.”3-Có bản viết “Anh hùng lúc ây tính danh là gì.”4-Bản kinh viết “Thúc rằng: đương buổi loạn ly.
-193-
2925. Đại quân đồn đóng cõi đông,
Về sau chẳng biết vân mồng(1) làm sao .
Nghe tường ngành ngọn tiêu hao(2),
Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ.
Xót thay chiếc lá bơ vơ,
2930. Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong(3) ?
Hoa theo nước chảy xuôi dòng,
Xót thân chìm nỗi đau lòng hợp tan!
Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
Mảnh hương(4) còn đó phím đàn còn đây,
2935. Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,
Lửa hương(5) biết có kiếp này nữa thôi ?
Bình bồng(6) còn chút xa xôi,
Đỉnh chung(7) sao nỡ ăn ngồi cho an !
Rắp mong treo ấn từ quan,
2940. Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha .
Dấn mình trong án can qua(8),
Vào sinh ra tử họa là thấy nhau .
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn!
2945. Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa(9) đã biết mấy phen đổi dờỉ
1-Vân mồng là tin tức. Bản kinh viết “sự công thế nào.”2-Tiêu hao cũng là tin tức. 3-Bản kinh viết “Kiếp phong trần biết bao giờ dũ xong.”4-Có bản viết “mảnh gương”thì sai. Là lúc thề với nhau chỉ có hương chứ không phải là gương. 5-xem số 3 tr 179. Do câu “tam sinh hương hỏa”là 3 đời thề ước lấy nhau. Có khi dung 2 chữ lửa hương để chỉ lời thề ước.6-Bình là đèo. Bồng là cỏ nổi trên mặt nước. 7-Đỉnh chung do câu “liệt đỉnh nhi thực, thực thời kích chung”nghĩa là bày vạc mà ăn. Đánh chuông gọi người về ăn. Nghĩa là ăn nhiều và nhiều người ăn. Tức là cảnh phú quí. 8-Áng can qua là chỗ chiến trường. 9-Bảng kinh viết “ngôi sao biết đã
-194-
Năm mây bỗng thấy chiếu trời,
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
Kim thì cải nhậm Nam bình,
2950. Chàng Vương cũng cải nhậm thành Châu dương.
Sắm xanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan .
Xảy nghe thế giặc đã tan,
Sóng êm Phúc kiến lửa tàn Tích giang .
2955. Được tin Kim mới rủ Vương,
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa .
Hàng Châu đến đó bây giờ,
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Rằng: Ngày hôm nọ giao binh,
2960. Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền.
Nàng Kiều công cả chẳng đền,
Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.
Nàng đà gieo ngọc trầm châu,
Sông Tiền đường đó ấy mồ hồng nhan!
2965. Thương ôi! không hợp mà tan,
Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!
XII
Chiêu hồn thiết vị lễ thường,
Giải oan lập một đàn tràng bên sông.ư
Ngọn triều non bạc trùng trùng,
2970. Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.
1-Năm mây là năm sắc mây. Chiếu nhà vua thường có vẽ mây ngũ sắc. 2-Thuộc tĩnh Phúc Kiến bây giờ. 3-Bản thì viết “Hoài Dương.”Bảng thì viết “Thư Dương. ”Nhưng cứ trong dịa dư Tau thì có huyện Phú Dương ở bờ sông Tiền Đường gần Hàn Châu thì để chữ Phú Dương có lẽ đúng hơn. 4-Phó quan là đi đến sung chức. 5-xem số 3 tr 171. Lệnh quân là lời quan truyền xuống. 6-Vời trông là trông xa xa trên mặt nước
-195-
Tình thâm bể thảm lạ điều,
Nào hồn tinh vệ(1) biết theo chốn nào?
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao,
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
2975. Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa,
Người còn sao bỗng làm ma khóc người?
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
2980. Xúm quanh kể họ(2) rộn lời hỏi tra:
Này chồng này mẹ này cha,
Này là em ruột này là em dâu.
Thật tin nghe đã bấy lâu,
Pháp sư dạy thế sự đâu lạ thường!
2985. Sư rằng: Nhân quả với nàng,
Lâm Chuy buổi trước Tiền đường buổi sau.
Khi nàng gieo ngọc trầm châu,
Đón nhau tôi đã gặp nhau rước về,
Cùng nhau nương cửa bồ đề(3),
2990. Thảo am(4) đó cũng gần kề chẳng xa.
Phật tiền ngày bạc lân la,
Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.
Nghe tin nở mặt nở mày,
Mầng nào lại quá mầng này nữa chăng?
2995. Từ phen chiếc lá lìa rừng,
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ ràng hoa rụng hương bay,
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.
1-Tinh vệ là loài chim. Chuyện con gái vua Viêm Đế chết đuối ở bể Đông sau hóa thành chim tinh vệ ngày ngày đến núi Tây Sơn ngậm đá đem ra bể lấp. 2-Có bảng viết “xúm quanh kể lể.”3-Cữa Bồ Đề là cữa Phật. 4-Thảo am là chùa lợp cỏ.
-196-
Minh(1) dương đôi ngả chắc rồi,
3000. Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên(2)!
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ theo liền một khi.
Bẻ lau vạch cỏ tìm đường,
Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
3005. Quanh co theo dãy giang tân,
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.
Giác Duyên lên tiếng gọi nàng,
Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra.
Trông xem đủ mặt một nhà:
3010. Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi.
Hai em phương trưởng hòa hai,
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!
Tưởng bây giờ là bao giờ,
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!
3015. Giọt châu thánh thót quyẽn(3) bào,
Mầng mầng tủi tủi xiết bao là tình!
Huyên già dưới gối gieo mình(4),
Khóc than mình kể sự tình đầu đuôi:
Từ con lưu lạc quê người,
3020. Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm!
Tính rằng sông nước cát lầm,
Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây!
Ông bà trông mặt cầm tay,
Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra.
3025. Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa,
Mười phần xuân có gầy ba bốn phần.
1-Minh là mờ, tối cũng như nghĩa chữ âm. 2-Cửu nguyên cũng như cửu tuyền là ở dưới âm phủ. 3-Quyẽn là ố ra, hoen ra. 4-Bảng kinh viết “gieo mình dưới gối huyên đình.”Dưới gối bỡi chữ “tất hạ”con đối với cha mẹ thì gọi là tất hạ.
-197-
Nỗi mầng biết lấy chi cân?
Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu!
Hai em hỏi trước han sau,
3030. Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi(1).
Quây nhau(2) lạy trước Phật đài,
Tái sinh trần tạ lòng người từ bi(3).
Kiệu hoa giục giã tức thì,
Vương ông dạy rước cùng về một nơi.
3035. Nàng rằng: Chút phận hoa rơi,
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính rằng mặt nước chân mây,
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
Được rày tái thế tương phùng.
3040. Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay!
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
3045. Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu tu trót quá thì thì thôi!
1-Có nhiều bảng viết “Đứng trông nàng đã trở sầu làm tươi.”Ý nói Kiều đứng trông thì không có nghĩa. Vả trong bảng tiểu thuyết có câu “Kim Trọng bất tiện thướng tiền, chỉ đắc mi hoan nhỡn tiếu”nghiaanx là Kim Trọng không tiện lên chào hỏi Kiều, chỉ đứng tỏ ra bộ vui mầng. Vậy để chữ chàng thì phải hơn. 2-Có bảng viết “rủ nhau.”3-Trần tạ là bày tỏ cái long cảm tạ. trong sách tiểu thuyết chép rằng khi kiều keerr sự khổ sở của mình và nói chuyện Giacs Duyên cứu vớt mình ở song Tiền Đường thì cả nhà Vương Viên Ngoại phục xuống tạ Giacs Duyên.
-198-
Trùng sinh ân nặng bể trời,
3050. Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?
Ông rằng: Bỉ thử nhất thì,
Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền.
Phải điều cầu Phật cầu Tiên,
Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?
3055. Độ sinh(1) nhờ đức cao dày,
Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung.
Nghe lời nàng phải chiều lòng,
Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra.
Một nhà về đến quan nha,
3060. Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên Vân mới giãi bày một hai .
Rằng: Trong tác hợp cơ trời(2).
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao .
3065. Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào cho em .
Cũng là phận cải duyên kim(3),
Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao ?
Những là rày ước mai ao,
3070. Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình !
Bây giờ gương vỡ lại lành(4),
Khuôn thiêng lừa lọc(5) đã dành có nơi .
Còn duyên may lại còn người,
Còn vầng trăng bạc(6) còn lời nguyền xưa.
1-Độ sinh là tiếng bên Phật nói cứu vớt cho chúng sinh. 2-Kinh thi có câu “thiên tác chi họp”là trời làm cho 2 bên gặp nhau hay lấy nhau. 3-Xem số 2 tr 97. Do câu “hổ phách thập giới, từ thạch dẫn châm”nghĩa là hổ phách bắt rác nhẹ, ta quen gọi là hạt cải, đá nam châm hút cái kim. Nghĩa là phối họp với nhau. 4-Tình sử có câu “phá kính trùng viên”là gương đã vỡ lại lành. Nói đã ly biệt rồi lại sum họp. 5-Có bảng viết “khuôn thiêng lừa đảo.”6-Có bảng viết “còn vầng trăng cũ.
-199-
3075. Quả mai ba bảy đương vừa(1),
Đào non(2) sớm liệu xe tơ kịp thì.
Dứt lời nàng vội gạt đi:
Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ(3)?
Một lời tuy có ước xưa,
3080. Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều .
Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
Thì cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi(4)!
Chàng rằng: Nói cũng lạ đời,
Dẫu lòng kia vậy còn lời ấy sao ?
3085. Một lời đã trót thâm giao,
Dưới dày có đất trên cao có trời !
Dẫu rằng vật đổi sao dời(5),
Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh !
Duyên kia có phụ chi tình(6),
3090. Mà toan chia gánh chung tình làm hai ?
Nàng rằng: Gia thất duyên hài(7),
Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng.
Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm phong nhị(8) trăng vòng tròn gương
1-Kinh Thi có câu “thơ phiếu mai(mai rụng)…phiếu hữu mai, kỳ thực thất hề…thực tam hề.”nghĩa là quả mai mười phần còn bảy phần…còn ba phần, nhưng hãy còn quả, ví như người đần bà đã hơi quá tuổi song lấy chồng cũng còn vừa. Có bảng viết “ba bảy khi vừa.”2-Đào non là bỡi chữ “đào chi yêu yêu”trong kinh Thi. Xem số 2 tr 83. Cây đào non ví người con gái còn ít tuổi. 3-bảng kinh viết “sự muôn năm kể làm chi bây giờ.”4-Cổ Thi có câu “tâm như qui hải triều, mộ phong lưu bất trụ.”nghĩa là lòng như nước thủy triều đã về bể, gió buổi chiều giữ lại không được. 5-Thơ của Vương Bật có câu “vật hoán tinh di kỷ độ thu”là vật đổi sao dời trải bao nhiêu mùa thu. 6-có bảng viết “chi mình.”7-Do câu “gia thất duyên hài”là vợ chồng đã nên duyên vui vẻ. 8-Phong nhị là giữ lấy nhị hoa.
-200-
3095. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa .
Thiếp từ ngộ biến đến giờ.
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa .
Bấy chầy gió táp mưa sa .
3100. Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.
Còn chi là cái hồng nhan,
Đã xong thân thế còn toan nỗi nào ?
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao,
Dám đem trần cấu(1) dự vào bố kinh(2)!
3105. Đã hay chàng nặng vì tình,
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru !
Từ rày khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là !
Chàng dù nghĩ đến tình xa,
3110. Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ(3).
Nói chi kết tóc xe tơ,
Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời !
Chàng rằng: Khéo nói nên lời,
Mà trong lẽ phải có người có ta !
3115. Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,
Có khi biến có khi thường,
Có quyền nào phải một đường chấp kinh(4) .
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
3120. Bụi nào cho đục được mình ấy vay(5)?
1-Trần cấu là bụi dơ bẩn. 2-xem số 3 tr83. Cây đào non ví người con gái ít tuổi. 3-Cầm sắc là tình vợ chồng. Cầm kỳ là tình bạn hữu. 4-Quyền là theo cái tình thế trong một lúc mà làm, chứ không phải là giữ đạo thường. Chấp kinh là giữ đạo thường, cứ nhất định về một mặt.5-Bảng kinh viết “bụi nào còn đục đến mình ấy vai.
-2001-
Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời(1).
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa .
3125. Có điều chi nữa mà ngờ,
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu(2)!
Nghe chàng nói đã hết điều,
Hai thân thì cũng quyết theo một bài .
Hết lời khôn lẽ chối lời(3),
3130. Cúi đầu(4) nàng những ngắn dài thở than .
Nhà vừa mở tiệc đoàn viên(5),
Hoa soi ngọn đuốc hồng(6) chen bức là.
Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ đôi đà đủ đôi(7).
3135. Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa
Những từ sen ngó đào tơ(8),
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
1-Tan sương đầu ngõ thì trông thấy hoa. Vén mây giữa trời thì trông thấy trăng. Có bảng viết “tan sương mới ngỏ áng mây giữa trời.”2-Thơ của Thôi Giao đời Đường có câu “hầu môn nhất nhập thâm như hải. Tống thử Tiêu Lang thị lộ nhân”nghĩa là cữa hầu vào rồi sau như bể. Từ đó Tiêu Lang là người khách đi đường. Lấy điển vợ Tiêu Lang tên là Lục Chân bị người ta bắt đem dâng ông Quách Tử Nghi. Từ đó chàng Tiêu trông thấy vợ cứ dửng dưng như khách đi đường. Ý nói rằng nỡ nào để hững hờ không nhận người cũ hay sao. 3-Có bảng viết “dứt lời.” 4-Có nhiều bảng viết “gót đầu.”5-Có bảng viết “đoàn viên tiệc mở nhà lan.”6-Có bảng viết “hồng giăng bức là.”7-Có bảng viết “đôi đà xứng đôi.”8-Có bảng viết “những từ trên ngọn đào tơ.”lấy nghĩa là kể từ khi bắt được cái thoa trên ngọn đào.
-202-
Tình duyên ấy hợp tan này(1),
3140. Bi hoan mấy nỗi đêm chầy(2) trăng cao .
Canh khuya bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân .
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình.
3145. Nàng rằng: Phận thiếp đã đành,
Có làm chi nữa cái mình bỏ đi !
Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may .
Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
3150. Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi !
Những như âu yếm vành ngoài,
Còn toan mở mặt với người cho qua .
Lại như những thói người ta,
Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa .
3155. Cũng nhơ(3) dở nhuốc bày trò,
Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi !
Người yêu ta xấu với người(4),
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau !
Cửa nhà dù tính về sau,
3160. Thì còn em đó(5) lọ cầu chị đây.
1-Từ câu này đến hết câu “hoa xưa ong cũ, mấy phân chung tình”Bảng kinh chép như sau: “Thế gian đâu có hội này/Bỏ lòng chua xót thỏa ngày khát khao/Canh tàn gạt ngọn đèn cao/Nhìn nhau dường giấc chiêm bao mơ màng/Sánh vai chung gối đêm trường/Lạ gì yêu phấn dấu hương thế tình.”2-Có bảng viết “đêm này trăng cao.”3-Có bảng viết “khéo là.”4-Bảng kinh viết “Yêu nhau để xấu cho người.”5-Có bảng viết “thì đà em đó.”nhưng các bảng nôm cũ đều viết “thì còn.
-203-
Chữ trinh còn một chút này(1),
Chẳng cầm cho vững lại(2) giày cho tan !
Còn nhiều ân ái chan chan,
Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi ?
3165. Chàng rằng: Gắn bó một lời,
Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau .
Xót người lưu lạc bấy lâu,
Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều !
Thương nhau sinh tử đã liều,
3170. Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân .
Gương trong chẳng chút bụi trần,
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm !
3175. Bấy lâu đáy bể mò kim,
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa ?
Ai ngờ lại họp một nhà,
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm !
Nghe lời sửa áo cài trâm,
3180. Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng:
Thân tàn gạn đục(3) khơi trong,
Là nhờ quân tử khác lòng người ta .
Mấy lời tâm phúc ruột rà,
Tương tri dường ấy mới là tương tri !
3185. Chở che đùm bọc thiếu gì,
Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay !
Thoắt thôi tay lại cầm tay,
Càng yêu vì nết càng say vì tình.
1-Chữ trinh. Đây nói lòng trinh tiết của Kiều vốn giữ với Kim Trọng từ xưa đến nay. Dẫu có phải ong qua bướm lại  cũng là bất đắc dĩ, chứ cái lòng thỉ chung vẫn không thay đổi. Đây là nói cái trinh của Kiều đối với Kim Trọng. Cái trinh ấy Kiều muốn giữ cho được trọn vẹn. Không nỡ đem cái thân tồi tàn mà đãi người tình chung. 2-Có bảng viết “nỡ giày cho tan.  3-Có bảng viết “khỏa đục khơi trong.
-204-
Thêm nến giá nối hương bình,
3190. Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan .
Tình xưa lai láng khôn hàn(1),
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa .
Nàng rằng: Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi !
3195. Ăn năn thì sự đã rồi !
Nể lòng người cũ vâng lời một phen.
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa .
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
3200. Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh(2) .
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên(3)?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên(4),
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông(5) !
3205. Lọt tay nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao(6).
1-Khôn hàn là khó hết, khó ngăn lại được. 2-Hồ Điệp là con bươm bướm. Trang Chu ngày xưa nằm mơ thấy mình hóa bướm. Mấy câu này là dịch 4 câu thơ cầm sắc của Lý Thương Ẩn đời Đường “Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp/Thục   Đế xuân tâm hóa đỗ quyên/Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ/Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.”3-Tục truyền rằng Thục Đế ngày xưa mất nước, chết hóa ra con quốc, đêm ngày sầu oán kêu mãi không thôi. 4-Duềnh là vụng, quyên là do chữ thuyền quyên, nghĩa bong nói mặt trăng. Duềnh quyên là vũng nước có mặt trăng soi vào. 5-Lam điền là chỗ gieo hạt thành ra ngọc. mới đông là ngọc mới thành. 6-Bảng kinh chép đoạn này là: “Đầu mày tươi liễu cuống lòng thỏa hoa/Rằng này cũng lạ thay là/Xưa sao rầu rĩ, nay ra vui vầy/Tẻ vui cũng tai lòng này/Thôi chiều khổ tận đến ngày cam lai.
-205-
Chàng rằng: Phổ ấy tay nào,
Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy ?
Tẻ vui bởi tại lòng này(1),
3210. Hay là khổ tận đến ngày cam lai ?
Nàng rằng: Ví chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu !
Một phen tri kỷ cùng nhau(2),
Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa .
3215. Chuyện trò chưa cạn tóc tơ,
Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông(3) .
Tình riêng chàng lại nói sòng,
Một nhà ai cũng lạ lùng khen khao .
Cho hay thục nữ chí cao,
3220. Phải người tối mận sớm đào như ai ?
Hai tình vẹn vẽ hòa hai,
Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ .
Khi chén rượu khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên .
3225. Ba sinh đã phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.
Nhớ lời lập một am mây,
Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên .
Đến nơi đóng cửa cài then,
3230. Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà,
Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu(4)?
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.
1-Có bảng viết “thương vui bỡi tại.”2-Có bảng viết “một phen tri kỷ mầng nhau.”3-Có bảng viết “trời vừa dựng đông.”4-Chuyện tiểu thuyết Tàu chép rằng: Khi Kiều cho người đến đón Giác Duyên thấy có câu thơ đề lại: “nhược vấn ngô thân hà xứ khứ,  thường bạn phi hạc bán không vân.”nghĩa là muốn hỏi ta ở đâu thì ta vẫn đi chơi với chim hạc ở trên mây.
-206-
3235. Một nhà phúc lộc gồm hai,
Ngàn năm dằng dặc quan giai(1) lần lần.
Thừa gia(2) chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc một sân quế hòe .
Phong lưu phú quý ai bì,
3240. Vườn xuân(3) một cửa để bia muôn đời
.
.   .
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
3245. Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần(4).
Đã mang lấy nghiệp vào than(5),
3250. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa(6).
Thiện căn(7) ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài(8).
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
1-Quan giai là làm quan cứ lên bậc một. 2-Thừa gia là thừa đương việc gia đình. Có bảng viết “thừa tôn.”3-Vườn xuân là nói sự vui vầy trong gia đình như cái vườn hoa mùa xuân. 4-Nghĩa là người có tài thường hay bị tai nạn. 5-Chữ nghiệp bỡi chữ “Karma”trong kinh nhà Phật mà dịch ra. Nghĩa là đã sinh ra làm người thì ai ai cũng có cái nghiệp của mình. Nghiệp tức là công việc của mình làm kiếp này và lại là kết quả ở kiếp sau của mình. Du hay dù dở, cứ luân hồi mãi không bao giờ hết được. Mà cái nghiệp ấy là tự mình gây ra, chứ không ai gây ra cho mình. Hễ có thân là có nghiệp. Thân với nghiệp cứ đeo đẳng mãi, trừ lúc nào tu được như Phật, bỏ hẳn được  cái thân đi thì giải thoát được cái nghiệp. 6-nghĩa là mình tự trách mình mà thôi. 7-Thiện căn là cái gốc thiện. 8-Cốt giữ lấy cái bụng chứ không nên cậy tài. Làm người nên cố gây lấy cái nền đức để cho nhẹ cái nghiệp kiếp sau, chứ có tài thì càng sinh sự tất cái nghiệp càng nặng thêm mãi ra.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét