-175-
*Áo xiêm buộc
trói lấy nhau(1)
Vào luồn ra
cúi công hầu mà chi?
Sao bằng
riêng một biên thùy,
2470. Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời
khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào
biết trên đầu có ai?
Nàng thời
thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói
ngọt nghe lời dễ xiêu.
2475. Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu
lạc lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu
tiếng vương thần,
Thênh thênh
đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn
cả hai bề,
2480. Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi
mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày
mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước
dưới vì nhà,
Một là đắc
hiếu hai là đắc trung.
2485. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió
hãi hùng cỏ hoa(2).
Nhân khi bàn
bạc gần xa,
Thừa cơ nàng
mới bàn ra nói vào.
Rằng: Ơn Thánh đế dồi dào(3),
2490. Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu.
Bình thành(4) công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
1-Có bản viết “ràng buộc lấy nhau.”Lại có bản viết “đùm bọc lấy nhau.”Nhưng chữ “đùm
bọc”e không đúng vì 2 chữ ấy có nghĩa “bênh
vực.”Có bản viết “E dè gió giập, hải hùng
sóng va.”3-Có bản viết “Rằng: trong
thành trạch dồi dào.”4-Do chữ “bình
thiên thành địa”nghĩa là sửa sang nên việc cho trời đất.
-176-
Ngẫm từ gây việc binh đao,
Đống xương Vô định(1) đã cao bằng đầu.
2495. Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào(2)!
Sao bằng lộc trọng quyền cao,
Công
danh ai dứt lối nào cho qua(3)?
Nghe
lời nàng nói mặn mà,
2500. Thế công Từ mới
trở ra thế hàng.
Chỉnh
nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ
thúc giáp quyết đường giải binh.
.
. .
Tin lời
thành hạ yêu minh(4),
Ngọn cờ
ngơ ngác trống canh trễ tràng.
2505. Việc binh bỏ
chẳng giữ giàng,
Vương
sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công
quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên
binh hậu khắc cờ tập công(5).
Kéo cờ chiêu
phủ(6) tiên phong,
2510. Lễ nghi dàn trước
bác đồng phục sau.
Từ công
hờ hững biết đâu,
Đại
quan lễ phục(7) ra đầu cửa viên.
1-Bài thơ tuyệt cú của Trần Đào đời vãn
Đường có câu “Khả liên vô định hà biên
cốt”là khả thương đống xương ở bên sông Vô Định. Vô Định hà là song chạy từ
tĩnh Tuy Viễn qua phủ Diên An ở Thiểm Tây vào song Hoàng Hà. Vì có nhiều cát, chỗ nông, chỗ sâu nên mới gọi là Vô
Định. Ngày xưa quân Tàu đánh Hung Nô ở đây chết nhiều lắm. 2-Xem số 4 tr 162:
Thơ của Hoàng Sào, tướng giặc đời Đường có câu “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy”là
nửa vai đeo cung kiếm có trời cho, một
chèo đi khắp non song trên đất. 3-Ý câu này nói muốn lập công danh thì
chỉ có một lối theo về với triều đình mà thôi. 4-“Thành hạ yêu minh”là 2 bên đến dưới thành giao ước hòa với nhau.
5-“Khắc cờ”là hẹn giờ. “Tập công”là đánh úp. 6-Cờ “chiêu phủ”là cờ dụ hang và vỗ về quân sĩ
cho về an cư lạc nghiệp. “Đầu”là đầu
hang.
-177-
Hồ công
ám hiệu trận tiền,
Ba bề
phát súng bốn bên kéo cờ(1).
2515. Đang khi bất ý
chẳng ngờ,
Hùm
thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh
liều giữa trận tiền,
Dạn dầy
cho biết gan liền tướng quân!
Khí
thiêng khi đã về thần,
2520. Nhơn
nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Trơ như
đá vững như đồng(2),
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời.
Quan quân truy sát đuổi dài(3).
Hằm hằm sát khí ngất trời ai đang.
2525. Trong hào ngoài lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: Trí dũng có thừa,
2530. Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!
Dòng thu như xối cơn sầu(4),
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
2535. Lạ thay oan khí tương triền(5)!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.
Quan quân kẻ lại người qua,
Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân(6),
2540. Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han.
1-Có bản viết “Bốn bên dựng cờ.”2-Có bản viết “Rắn
như đồng”3-bản kinh viết “Quan quân
thừa thế đuổi dài.”4-Có bản viết “như
giội cơn sầu”hay “như chảy mạch sầu.”5-“Tường triền ”là quấn quit với nhau.
6-Bản kinh viết “Mới đem vào nộp trung
quân.”
-178-
Rằng: Nàng chút phận hồng nhan(1),
Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương!
Đã hay thành toán miếu đường,
Chấp công(2) cũng có lời nàng mới nên.
2545. Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào?
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
Rằng: Từ là đấng anh hùng,
2550. Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi!
Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
2555. Năm năm trời bể ngang tang(3),
Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không(4).
Khéo khuyên kể lấy làm công,
Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít tội nhiều,
2560. Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho tiện thổ một đôi(5),
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.
Hồ công nghe nói thương tình,
Truyền cho kiểu tang(6) di hình bên sông.
1-“Thành
toán miếu đường”là câu chữ có nghĩa là mưu mẹo đã định trước ở chốn miếu
đường, tức chỗ triều đình. 2-“Chấp công”là
lập công. 3-Do câu “ngang tàng nhất
trượng phu”là người đàn ông chí khí ngang dọc trong đời. 4-Có bản viết “Thoắc đem mình bỏ chiến trường như không.”5-Bỡi
chữ “thiển thổ nhất đôi”là một đống
đất nông. 6-“Cảo táng”hay “Kiểu táng”là bọc cỏ mà chon.Nghĩa là
chôn dối trá.
-179-
2565. Trong quân mở tiệc hạ công(1),
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan .
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say lại ép vặn đàn nhặt tâu .
Một cung gió thảm mưa sầu,
2570. Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay !
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tay, Hồ cũng nhăn mày rơi châu .
Hỏi rằng: Này khúc ở đâu ?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay !
2575. Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này,
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ .
Cung cầm lựa những ngày xưa,
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !
Nghe càng đắm đắm càng say(2),
2580. Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình !
Dạy rằng: Hương hỏa ba sinh(3),
Dây loan xin nối cầm lành cho ai .
Thưa rằng: Chút phận lạc loài,
Trong mình nghĩ đã có người thác oan .
2585. Còn chi nữa cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân(4) .
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần(5) là may!
1-Hạ công là tiệc mừng thắng trận. 2-Có
bản viết “nghe càng đắm, ngắm càng say.”hay
là “càng nghe, càng đắm, càng say.”3-do
câu “Tam sinh hương hỏa”là 3 đời có
thề ước lấy nhau. Có khi dung 2 chữ “lửa
hương”để chỉ lời thề. 4-“Tiểu Lân”là
vợ vua nước Tề sau lấy đại vương nhà Đường, nhân có làm bài thơ rằng “Dục tri tam đoạn tuyệt, ưng khán bất thượng
huyền ”là muốn biết lòng đau như thế nào thì nên xem cái dây đứt. 5-“Gốc phần”là gốc cây phần. Xem số 6 tr
165: “tử phần”là quê nhà mình. Ở đây
nói xin cho về quê hương.
-180-
Hạ công(1) chén đã quá say,
2590. Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra .
Nghĩ mình phương diện quốc gia,
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào .
Phải tuồng trăng gió hay sao,
Sự này biết tính thế nào được đây(2) ?
2595. Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài .
Lệnh quan ai dám cãi lời,
Ép tình mới gán cho người thổ quan .
Ông tơ thực nhé(3) đa đoan !
2600. Xe tơ sao khéo vơ càn vơ xiên ?
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao.
.
.
.
Nàng càng ủ liễu phai đào,
Trăm phần nào có phần nào phần tươi ?
2605. Đành thân cát dập sóng vùi,
Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh !
Chưn trời mặt bể lênh đênh,
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào,
Duyên đâu ai dứt tơ đào,
2610. Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay !
Thân sao thân đến thế này ?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi !
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương !
2615. Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi !
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong .
1-Xem số 1 tr179. 2-Bản kinh viết “Lỡ lời biết tính thế nào là hay.”3-Xem
số 1 tr116: “nhé”là tiếng đệm dùng
sau câu tỏ ý kêu, gọi
-181-
Triều(1) đâu nổi tiếng đùng đùng,
2620. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây !
Đạm Tiên nàng nhé có hay !
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta(2) .
2625. Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút(3) gọi là để sau .
Cửa bồng(4) vội mở rèm châu,
Trời cao sông rộng một màu bao la(5) .
Rằng: Từ công hậu đãi ta,
2630. Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại đứng ở trong cõi đời ?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông !
2635. Trông vời con nước(6) mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng Tràng Giang
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc chìm hương cho rồi(7)
Thương thay cũng một thân người,
2640. Hại thay mang lấy sắc tài làm chi !
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!
1-“Triều”là
nước thủy triều. 2-Có bản viết “Hẹn ta,
thì phải dưới này rước ta.”3-“Tuyệt
bút” là bài văn làm lúc sắp chết
để lại. 4-Cữa bồng là cữa thuyền. Có bản viết “cữa phòng”tưởng là nhầm vì đây ở dưới thuyền. 5-Bao la là mênh
mông, rộng rãi.6-Nhà thuyền chày hay gọi kỳ nước lên là con nước. 7-“cho rồi”ở đây cũng như nói mất rồi. Chữ
“cho”dung như trong câu “làm cho mau”, “nói cho khéo.”Có bản viết “quá
rồi”hay “vừa rồi”
-182-
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi !
2645. Đời người đến thế thì thôi,
Trong cơ âm cực dương hồi(1) khôn hay .
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay,
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương!
X
Giác Duyên từ tiết giã màng,
2650. Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du(2).
Gặp bà Tam Hợp đạo cô(3),
Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng:
Người sao hiếu nghĩa đủ đường,
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi(4)?
2655. Sư rằng: Phúc họa đạo trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cõi phúc tình là dây oan.
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
2660. Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong(5),
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
2665. Ma đưa lối quỷ đem đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
1-Do câu “Ám cực dương hồi”là hết chỗ khổ rồi sướng. 2-“Vân du” là nói những người đi tu nay đây mai đó. 3-“Đạo cô”là tiếng gọi người đàn bà đi tu.
4-Có bản viết “Kiếp sau chịu những”hoặc
là “gặp những.”5-Có bản viết “vậy nên những tính thong dong”
-183-
ULOAD V Hết nạn ấy đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần(1).
Trong vòng giáo dựng gươm trần,
2670. Kề lưng hùm sói gởi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy sóng dồi,
Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh(2).
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết một mình mình hay.
2675. Làm cho sống đọa thác đầy,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
Một đời nàng nhé thương ôi còn gì!
Sư rằng: Song chẳng hề chi,
2680. Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp(3) Thúy Kiều,
Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm,
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
2685. Hại một người cứu muôn(4) người,
Biết đường khinh trọng biết lời phải
chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng?
Túc khiên(5) đã rửa lâng lâng sạch rồi!
Khi nên trời cũng chiều người,
2690. Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
1-Thanh y 2 lần là một lần ở nhà Hoạn bà
và một lần ở nhà Hoan thư. 2-Mỗi bản viết khác nhau. Có bản viết “mồi thủy tinh”là gièo mồi xuống thủy
tinh cung, tức xuống thủy phủ. Bản viết “gieo
mình vắng tanh”là gieo mình xuống sông lúc vắng tanh. Bản nào nghĩa cũng
không rõ cả. 3-Tội nghiệp là nghiệp xấu kiếp trước. 4-Có bản viết “hại một người, cứu một người”không rõ ý
nói thế nào.5-“Túc khiên”là tội kiếp
trước.
-184-
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!
2695. Giác Duyên nghe nói mầng lòng,
Lân la tìm thú(1) bên sông Tiền đường,
Đánh tranh chụm nóc thảo đường(2),
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi.
Thuê năm(3) ngư phủ hai người,
2700. Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần(4)!
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân(5),
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
2705. Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
2710. Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.
Mơ màng phách quế hồn mai(6),
Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
1-Xem số 2 tr 135. “Thú”là nơi chỗ ở. 2-Có bản viết “lợp nóc thảo đường.”Thảo đường là nhà tranh. 3-Thuê năm là thuê cả
năm. 4-“trong chuyển vần”là trong đạo
trời. Có bản viết “khéo thay.”5-Duềnh
ngân là vũng nước. Xem số 4 tr 110. Duềnh là vựng bể, vực sâu. 6-Xem số 2 tr
141. “quế phách hồn mai”là để nói
giấc ngủ.
-185-
2715. Chị sao phận mỏng phúc dày,
Kiếp xưa đã vậy lòng này(1) dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu cứu người là nhân(2).
Một niềm(3) vì nước vì dân,
2720. Âm công cất một đồng cân đã già!
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về lâu,
Duyên xưa đầy đặn(4) phúc sau dồi dào!
2725. Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên,
2730. Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.
2735. Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều(5) dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
XI
Nạn xưa trút sạch lầu lầu,
.Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
2740. Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
1-Có bản viết “kiếp này dễ ai.”2-Cứu người là khuyên Từ Hải ra hàng để khỏi sự
chinh chiến. 3-Có bản viết “một mình.”4-Có
bản viết “duyên xưa tròn trặn.”5-xem
số 1 tr 181. Triều là nước thủy triều.
-186-
Từ ngày muôn dặm phù tang(1),
Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.
Vội sang vườn Thúy dò la,
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.
2745. Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ(2) vách mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).
Xập xè én liệng lầu không(4),
2750. Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về, này những lối này ngày xưa.
Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
2755. Láng giềng có kẻ sang chơi,
Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.
Hỏi ông ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà nhà đã dời xa,
2760. Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân.
Đều là(5) sa sút khó khăn,
Thuê
may bán viết kiếm ăn lần hồi.
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao!
2765. Vội han(6) di trú nơi cao,
Đánh đường
chàng mới tìm vào tận nơi.
1-Phù tang là đưa tang, cũng như hộ
tang.2-Quạnh quẽ là vắng vẻ, không có người. 3-Trong bài thơ của Thôi Hộ đời Đường
có câu: “Đào hoa y cựu tiếu đông phong”nghĩa
là hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ. 4-Nhà bỏ vắng chim én vào làm tổ. 5-Có
bản viết “đều nay.”6-Có bản viết “hỏi thăm di trú”
-187-
Nhà tranh
vách đất tả tơi,
Lau treo rèm
nát trúc cài phên thưa.
Một sân đất
cỏ dầm mưa,
2770. Càng ngao ngán nỗi
càng ngơ ngẩn đường!
Đánh liều lên
tiếng ngoài tường,
Chàng Vương
nghe tiếng vội vàng chạy ra.
Dắt tay vội
rước vào nhà,
Mái sau viên
ngoại ông bà ra ngay.
2775. Khóc than kể hết niềm tây:
Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?
Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
Gặp cơn gia biến lạ dường,
2780. Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng với lang quân,
Mượn con em
nó Thúy Vân thay lời.
2785. Gọi là trả chút nghĩa người,
Sầu này dằng
dặc muôn đời chưa quên(1)!
Kiếp này
duyên đã phụ duyên,
Dạ đài còn
biết sẽ đền lai sinh(2).
Mấy lời ký
chú(3) đinh ninh,
2790. Ghi lòng để dạ cất mình ra đi(4).
Phận sao bạc
bấy Kiều nhi!
Chàng Kim về
đó con thì đi đâu?
Ông bà càng
nói càng đau,
Chàng càng
nghe nói càng dàu như dưa.
1-Tràng hận ca có câu: “thử hận miên miên vô tuyệt ký”nghĩa là
sầu này dằng dặc không bao giờ nguôi. 2-Lai sinh là kiếp sau.3-Ký chú là dặn
dò. 4-Bản kinh viết “gởi lòng để lại, cất
mình ra đi”
-188-
2795. Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt
ngọc thẫn thờ hồn mai!
Đau đòi đoạn
ngất đòi thôi(1),
Tỉnh ra lại
khóc khóc rồi lại mê.
Thấy chàng
đau nỗi biệt ly,
2800. Nhận ngừng(2) ông mới
vỗ về giải khuyên:
Bây giờ ván
đã đóng thuyền,
Đã đành phận
bạc khôn đền tình chung!
Quá thương
chút nghĩa đèo bòng,
Nghìn vàng
thân ấy dễ hòng bỏ sao?
2805. Dỗ dành khuyên giải trăm chiều(3),
Lửa phiền
càng dập càng khêu mối phiền(4).
Thề xưa giở
đến kim hoàn,
Của xưa lại
giở đến đàn với hương(5).
Sinh càng
trông thấy càng thương.
2810. Gan càng tức tối ruột càng xót xa.
Rằng: Tôi
trót quá chân ra,
Để cho đến
nỗi trôi hoa dạt bèo.
Cùng nhau thề
thốt đã nhiều,
Những điều
vàng đá phải điều nói không!
2815. Chưa chăn gối cũng vợ chồng,
Lòng nào mà
nỡ dứt lòng cho đang?
Bao nhiêu của
mấy ngày đàng,
Còn tôi tôi
gặp nàng mới thôi!
1-Thôi là từng thôi một, lúc một. 2-Xem số
2 tr 154. “nhận” là đè nén xuống. “Ngừng” là thương xót.”Đây là nói nén cái thương xót. 3-Bản kinh đổi câu này và câu sau:
“Nặng lòng thương phận tơ đào. Sẽ lòng
đoái chút tuổi cao thân tàn.”4-Câu này chữ “phiền”vần với chữ “hoàn”thì
ép vần quá, vì không đúng với luật vần thông.5-Các bản nôm đều viết thế cả. Nhưng
tưởng chữ “của”đi với chữ “kim hoàn.”Chữ “thề”đi với chữ “đàn”và “hương”thì phải hơn. Vậy nên để “Của xưa giở đến kim hoàn, Thề xưa, lại giở
đến đàn với hương.”
-189-
Nỗi thương
nói chẳng hết lời,
2820. Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.
.
. .
Vội về sửa
chốn vườn hoa,
Rước mời viên
ngoại ông bà cùng sang.
Thần hôn chăm
chút lễ thường,
Dưỡng thân thay
tấm lòng nàng ngày xưa.
2825. Đinh ninh mài lệ chép thư(1),
Cắt người tìm
tõi đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công
mướn của thuê,
Lâm thanh mấy
độ đi về dặm khơi.
Người một nơi
hỏi một nơi,
2830. Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
Sinh càng
thảm thiết khát khao,
Như nung gan
sắt như bào lòng son.
Ruột tằm ngày
một héo don,
Tuyết sương
ngày một hao mòn hình ve.
2835. Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước
mắt hồn lìa chiêm bao.
.
. .
Xuân huyên lo
sợ biết bao,
Quá ra khi
đến thế nào mà hay!
Vội vàng sắm
sửa chọn ngày,
2840. Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng.
Người yểu
điệu kẻ văn chương,
Trai tài gái
sắc xuân đương vừa thì,
Tuy rằng vui
chữ vu quy,
Vui này đã
cất sầu kia được nào!
2845. Khi ăn ở lúc ra vào,
Càng sâu
duyên mới càng dào tình xưa .
1-Có bản viết “mực mài nước mắt chép thư”
-190-
Nỗi nàng nhớ
đến bao giờ,
Tuôn châu đòi
trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng
vẻ thư phòng,
2850. Đốt lò hương giở phím đồng(1) ngày
xưa
Bẻ bai rủ rỉ
tiếng tơ(2),
Trầm bay nhạt
khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên
nóc trước thềm,
Tiếng kiều
đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
2855. Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng
nên lại thấy nàng về đây.
.
. .
Những là
phiền muộn đêm ngày,
Xuân thu biết
đã đổi thay mấy lần?
Chế khoa(3)
gặp hội tràng văn .
2860. Vương, Kim cùng chiếm
bảng xuân(4) một ngày .
Cửa trời rộng
mở đường mây,
Hoa chào ngõ
hạnh hương bay dặm phần(5).
Chàng Vương
nhớ đến xa gần,
Sang nhà
Chung lão tạ ân chu tuyền.
2865. Tình xưa ân trả nghĩa đền,
Gia thân bèn
mới kết duyên Châu Trần.
Kim từ nhẹ
bước thanh vân(6),
Nỗi nàng càng
nghĩ xa gần càng thương .
Ấy ai dặn
ngọc thề vàng,
2870. Bây giờ kim mã ngọc đường với ai?
1-xem số 2 tr 148. Đồng là gỗ đồng. Đàn
làm bằng thứ gỗ vông. 2-Có bản viết “bẻ
bai rầu rĩ tiếng tơ.”3-Chế khoa là một khoa thi Hội. 4-Bảng xuân là đỗ hội
thi.5-Ngõ hạnh là ngõ hoa hạnh trong vườn ngự uyển nhà vua, Dặm phần là quê
nhà. 6-Thanh vân là đi làm quan. Có nhiều bảng viết “Chàng càng nhẹ bước thanh vân.”Để chữ “chàng”ở đây thành ra tối, không rõ Kim hay là Vương.
-191-
Rễ bèo chân
sóng lạc loài(1),
Nghĩ mình
vinh hiển thương người lưu ly .
Vâng ra ngoại
nhậm Lâm truy,
Quan sơn
nghìn dặm thê nhi một đoàn.
2875. Cầm đường(2) ngày tháng thanh nhàn,
Sớm khuya
tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao(3) .
Phòng xuân
trướng rủ hoa đào,
Nàng Vân nằm
bỗng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới
rỉ cùng chàng,
2880. Nghe lời chàng cũng
hai đường tin nghi .
Nọ Lâm thanh
với Lâm Chuy,
Khác nhau một
chữ hoặc khi có lầm.
Trong cơ thanh khí tương tầm(4),
ở đây hoặc có giai âm chăng là?
2885. Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên:
Sự này đã ngoại mười niên,
Tôi đà biết mặt biết tên rành rành.
Tú bà cùng Mã Giám sinh,
2890. Đi mua(5) người ở Bắc kinh đưa về.
Thúy Kiều tài sắc ai bì,
Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ .
Kiên trinh(6) chẳng phải gan vừa,
Liều mình thế ấy phải lừa thế kia.
1-Cái rễ bèo ở chưn sóng lúc chìm lúc nổi.
2-Cầm đường là quan huyện. Tử Tiện đời Xuân Thu làm quan huyện ở nước Lỗ,
thường hay gảy đàn làm việc quan, cho
nên nhà quan huyện gọi là cầm đường. 3-Ông Triệu Biện đời nhà Tống ngày xưa đi làm
quan chỉ đem một con hạc và một cái đàn đến quận, làm quan thanh liêm lắm.
4-Thanh khí, xem số 11 tr 64. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu nghĩa là
cùng một thanh thì hợp nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau. Tương tầm là tìm
đến nhau. 5-Có bản viết “có mua.”6-Kiên
trinh là giữ trinh.
-192-
2895. Phong trần chịu đã ê chề,
Dây duyên sau lại gả về Thúc lang .
Phải tay vợ cả phũ phàng,
Bắt về Vô tích toan đường bẻ hoa .
Bực mình nàng phải trốn ra,
2900. Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia .
Thoắt buôn về thoắt bán đi,
Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
Bỗng đâu lại gặp một người,
Hơn người(1) trí dũng nghiêng trời uy linh
.
2905. Trong tay muôn vạn tinh binh,
Kéo về đóng chật một thành Lâm Chuy .
Tóc tơ các tích mọi khi,
Oán thì trả oán ân thì trả ân .
Đã nên có nghĩa có nhân,
2910. Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen .
Chưa tường được họ được tên(2),
Sự này hỏi Thúc sinh viên mới tường.
Nghe lời Đô nói rõ ràng,
Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc sinh .
2915. Nỗi nàng hỏi hết phân minh,
Chồng con dâu tá(3) tính danh là gì?
Thúc rằng: Gặp lúc lưu ly(4),
Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ .
Đại vương tên Hải họ Từ,
2920. Đánh quen trăm trận sức dư muôn ngườị
Gặp nàng thời ở châu Thai,
Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên .
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng.
1-Có bản viết “hơn đời.”2-Có bản viết “song
còn chưa biết họ tên.”3-Có bản viết “Anh
hùng lúc ây tính danh là gì.”4-Bản kinh viết “Thúc rằng: đương buổi loạn ly.”
-193-
2925. Đại quân đồn đóng cõi đông,
Về sau chẳng biết vân mồng(1) làm sao .
Nghe tường ngành ngọn tiêu hao(2),
Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ.
Xót thay chiếc lá bơ vơ,
2930. Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong(3) ?
Hoa theo nước chảy xuôi dòng,
Xót thân chìm nỗi đau lòng hợp tan!
Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
Mảnh hương(4) còn đó phím đàn còn đây,
2935. Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,
Lửa hương(5) biết có kiếp này nữa thôi ?
Bình bồng(6) còn chút xa xôi,
Đỉnh chung(7) sao nỡ ăn ngồi cho an !
Rắp mong treo ấn từ quan,
2940. Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha .
Dấn mình trong án can qua(8),
Vào sinh ra tử họa là thấy nhau .
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn!
2945. Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa(9) đã biết mấy phen đổi dờỉ
1-Vân mồng là tin tức. Bản kinh viết “sự công thế nào.”2-Tiêu hao cũng là tin
tức. 3-Bản kinh viết “Kiếp phong trần
biết bao giờ dũ xong.”4-Có bản viết “mảnh
gương”thì sai. Là lúc thề với nhau chỉ có hương chứ không phải là gương.
5-xem số 3 tr 179. Do câu “tam sinh hương
hỏa”là 3 đời thề ước lấy nhau. Có khi dung 2 chữ lửa hương để chỉ lời thề
ước.6-Bình là đèo. Bồng là cỏ nổi trên mặt nước. 7-Đỉnh chung do câu “liệt đỉnh nhi thực, thực thời kích chung”nghĩa
là bày vạc mà ăn. Đánh chuông gọi người về ăn. Nghĩa là ăn nhiều và nhiều người
ăn. Tức là cảnh phú quí. 8-Áng can qua là chỗ chiến trường. 9-Bảng kinh viết “ngôi sao biết đã”
-194-
Năm mây bỗng thấy chiếu trời,
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
Kim thì cải nhậm Nam bình,
2950. Chàng Vương cũng cải nhậm thành Châu dương.
Sắm xanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan .
Xảy nghe thế giặc đã tan,
Sóng êm Phúc kiến lửa tàn Tích giang .
2955. Được tin Kim mới rủ Vương,
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa .
Hàng Châu đến đó bây giờ,
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Rằng: Ngày hôm nọ giao binh,
2960. Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền.
Nàng Kiều công cả chẳng đền,
Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.
Nàng đà gieo ngọc trầm châu,
Sông Tiền đường đó ấy mồ hồng nhan!
2965. Thương ôi! không hợp mà tan,
Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!
XII
Chiêu hồn thiết vị lễ thường,
Giải oan lập một đàn tràng bên sông.ư
Ngọn triều non bạc trùng trùng,
2970. Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.
1-Năm mây là năm sắc mây. Chiếu nhà vua
thường có vẽ mây ngũ sắc. 2-Thuộc tĩnh Phúc Kiến bây giờ. 3-Bản thì viết “Hoài Dương.”Bảng thì viết “Thư Dương. ”Nhưng cứ trong dịa dư Tau
thì có huyện Phú Dương ở bờ sông Tiền Đường gần Hàn Châu thì để chữ Phú Dương
có lẽ đúng hơn. 4-Phó quan là đi đến sung chức. 5-xem số 3 tr 171. Lệnh quân là
lời quan truyền xuống. 6-Vời trông là trông xa xa trên mặt nước
-195-
Tình thâm bể thảm lạ điều,
Nào hồn tinh vệ(1) biết theo chốn nào?
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao,
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
2975. Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa,
Người còn sao bỗng làm ma khóc người?
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
2980. Xúm quanh kể họ(2) rộn lời hỏi tra:
Này chồng này mẹ này cha,
Này là
em ruột này là em dâu.
Thật
tin nghe đã bấy lâu,
Pháp sư
dạy thế sự đâu lạ thường!
2985. Sư rằng: Nhân quả
với nàng,
Lâm
Chuy buổi trước Tiền đường buổi sau.
Khi
nàng gieo ngọc trầm châu,
Đón
nhau tôi đã gặp nhau rước về,
Cùng
nhau nương cửa bồ đề(3),
2990. Thảo am(4) đó
cũng gần kề chẳng xa.
Phật
tiền ngày bạc lân la,
Đăm đăm
nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.
Nghe tin nở mặt nở mày,
Mầng nào lại quá mầng này nữa chăng?
2995. Từ phen chiếc lá lìa rừng,
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ ràng hoa rụng hương bay,
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.
1-Tinh vệ là loài chim. Chuyện con gái vua
Viêm Đế chết đuối ở bể Đông sau hóa thành chim tinh vệ ngày ngày đến núi Tây
Sơn ngậm đá đem ra bể lấp. 2-Có bảng viết “xúm
quanh kể lể.”3-Cữa Bồ Đề là cữa Phật. 4-Thảo am là chùa lợp cỏ.
-196-
Minh(1) dương đôi ngả chắc rồi,
3000. Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên(2)!
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ theo liền một khi.
Bẻ lau vạch cỏ tìm đường,
Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
3005. Quanh co theo dãy giang tân,
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.
Giác Duyên lên tiếng gọi nàng,
Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra.
Trông xem đủ mặt một nhà:
3010. Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi.
Hai em phương trưởng hòa hai,
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!
Tưởng bây giờ là bao giờ,
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!
3015. Giọt châu thánh thót quyẽn(3) bào,
Mầng mầng tủi tủi xiết bao là tình!
Huyên già dưới gối gieo mình(4),
Khóc than mình kể sự tình đầu đuôi:
Từ con lưu lạc quê người,
3020. Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm!
Tính rằng sông nước cát lầm,
Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây!
Ông bà trông mặt cầm tay,
Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra.
3025. Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa,
Mười phần xuân có gầy ba bốn phần.
1-Minh là mờ, tối cũng như nghĩa chữ âm.
2-Cửu nguyên cũng như cửu tuyền là ở dưới âm phủ. 3-Quyẽn là ố ra, hoen ra.
4-Bảng kinh viết “gieo mình dưới gối huyên
đình.”Dưới gối bỡi chữ “tất hạ”con
đối với cha mẹ thì gọi là tất hạ.
-197-
Nỗi mầng biết lấy chi cân?
Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu!
Hai em
hỏi trước han sau,
3030. Đứng
trông chàng cũng trở sầu làm tươi(1).
Quây
nhau(2) lạy trước Phật đài,
Tái
sinh trần tạ lòng người từ bi(3).
Kiệu
hoa giục giã tức thì,
Vương
ông dạy rước cùng về một nơi.
3035. Nàng rằng: Chút
phận hoa rơi,
Nửa đời
nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính
rằng mặt nước chân mây,
Lòng
nào còn tưởng có rày nữa không?
Được
rày tái thế tương phùng.
3040. Khát khao đã thỏa
tấm lòng lâu nay!
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
3045. Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào
có hay gì,
Đã tu
tu trót quá thì thì thôi!
1-Có nhiều bảng viết “Đứng trông nàng đã trở sầu
làm tươi.”Ý nói Kiều đứng trông thì không có nghĩa. Vả trong bảng tiểu
thuyết có câu “Kim Trọng bất tiện thướng
tiền, chỉ đắc mi hoan nhỡn tiếu”nghiaanx là Kim Trọng không tiện lên chào
hỏi Kiều, chỉ đứng tỏ ra bộ vui mầng. Vậy để chữ chàng thì phải hơn. 2-Có bảng
viết “rủ nhau.”3-Trần tạ là bày tỏ
cái long cảm tạ. trong sách tiểu thuyết chép rằng khi kiều keerr sự khổ sở của
mình và nói chuyện Giacs Duyên cứu vớt mình ở song Tiền Đường thì cả nhà Vương
Viên Ngoại phục xuống tạ Giacs Duyên.
-198-
Trùng
sinh ân nặng bể trời,
3050. Lòng nào nỡ dứt
nghĩa người ra đi?
Ông
rằng: Bỉ thử nhất thì,
Tu hành
thì cũng phải khi tòng quyền.
Phải
điều cầu Phật cầu Tiên,
Tình
kia hiếu nọ ai đền cho đây?
3055. Độ sinh(1) nhờ
đức cao dày,
Lập am
rồi sẽ rước thầy ở chung.
Nghe
lời nàng phải chiều lòng,
Giã sư
giã cảnh đều cùng bước ra.
Một nhà
về đến quan nha,
3060. Đoàn viên vội mở
tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên Vân mới giãi bày một hai .
Rằng: Trong tác hợp cơ trời(2).
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao .
3065. Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem
duyên chị buộc vào cho em .
Cũng là
phận cải duyên kim(3),
Cũng là
máu chảy ruột mềm chớ sao ?
Những
là rày ước mai ao,
3070. Mười lăm năm ấy
biết bao nhiêu tình !
Bây giờ
gương vỡ lại lành(4),
Khuôn
thiêng lừa lọc(5) đã dành có nơi .
Còn
duyên may lại còn người,
Còn vầng
trăng bạc(6) còn lời nguyền xưa.
1-Độ sinh là tiếng bên Phật nói cứu vớt
cho chúng sinh. 2-Kinh thi có câu “thiên
tác chi họp”là trời làm cho 2 bên gặp nhau hay lấy nhau. 3-Xem số 2 tr 97.
Do câu “hổ phách thập giới, từ thạch dẫn
châm”nghĩa là hổ phách bắt rác nhẹ, ta quen gọi là hạt cải, đá nam châm hút
cái kim. Nghĩa là phối họp với nhau. 4-Tình sử có câu “phá kính trùng viên”là gương đã vỡ lại lành. Nói đã ly biệt rồi lại
sum họp. 5-Có bảng viết “khuôn thiêng lừa
đảo.”6-Có bảng viết “còn vầng trăng
cũ.”
-199-
3075. Quả mai ba bảy
đương vừa(1),
Đào non(2)
sớm liệu xe tơ kịp thì.
Dứt lời
nàng vội gạt đi:
Sự muôn
năm cũ kể chi bây giờ(3)?
Một lời
tuy có ước xưa,
3080. Xét mình dãi gió
dầu mưa đã nhiều .
Nói
càng hổ thẹn trăm chiều,
Thì cho
ngọn nước thủy triều chảy xuôi(4)!
Chàng
rằng: Nói cũng lạ đời,
Dẫu
lòng kia vậy còn lời ấy sao ?
3085. Một lời đã trót
thâm giao,
Dưới dày
có đất trên cao có trời !
Dẫu
rằng vật đổi sao dời(5),
Tử sinh
cũng giữ lấy lời tử sinh !
Duyên
kia có phụ chi tình(6),
3090. Mà toan chia gánh
chung tình làm hai ?
Nàng
rằng: Gia thất duyên hài(7),
Chút
lòng ân ái ai ai cũng lòng.
Nghĩ
rằng trong đạo vợ chồng,
Hoa
thơm phong nhị(8) trăng vòng tròn gương
1-Kinh Thi có câu “thơ phiếu mai(mai rụng)…phiếu hữu mai, kỳ thực thất hề…thực tam hề.”nghĩa
là quả mai mười phần còn bảy phần…còn ba phần, nhưng hãy còn quả, ví như người
đần bà đã hơi quá tuổi song lấy chồng cũng còn vừa. Có bảng viết “ba bảy khi vừa.”2-Đào non là bỡi chữ “đào chi yêu yêu”trong kinh Thi. Xem số 2
tr 83. Cây đào non ví người con gái còn ít tuổi. 3-bảng kinh viết “sự muôn năm kể làm chi bây giờ.”4-Cổ Thi
có câu “tâm như qui hải triều, mộ phong
lưu bất trụ.”nghĩa là lòng như nước thủy triều đã về bể, gió buổi chiều giữ
lại không được. 5-Thơ của Vương Bật có câu “vật
hoán tinh di kỷ độ thu”là vật đổi sao dời trải bao nhiêu mùa thu. 6-có bảng
viết “chi mình.”7-Do câu “gia thất duyên hài”là vợ chồng đã nên
duyên vui vẻ. 8-Phong nhị là giữ lấy nhị hoa.
-200-
3095. Chữ trinh đáng
giá nghìn vàng,
Đuốc
hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa .
Thiếp
từ ngộ biến đến giờ.
Ong qua
bướm lại đã thừa xấu xa .
Bấy
chầy gió táp mưa sa .
3100. Mấy
trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.
Còn chi
là cái hồng nhan,
Đã xong
thân thế còn toan nỗi nào ?
Nghĩ
mình chẳng hổ mình sao,
Dám đem
trần cấu(1) dự vào bố kinh(2)!
3105. Đã hay chàng nặng
vì tình,
Trông
hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru !
Từ rày
khép cửa phòng thu,
Chẳng
tu thì cũng như tu mới là !
Chàng
dù nghĩ đến tình xa,
3110. Đem tình cầm sắt
đổi ra cầm cờ(3).
Nói chi
kết tóc xe tơ,
Đã buồn
cả ruột mà dơ cả đời !
Chàng
rằng: Khéo nói nên lời,
Mà
trong lẽ phải có người có ta !
3115. Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,
Có khi biến có khi thường,
Có quyền nào phải một đường chấp kinh(4) .
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
3120. Bụi nào cho đục được mình ấy vay(5)?
1-Trần cấu là bụi dơ bẩn. 2-xem số 3 tr83.
Cây đào non ví người con gái ít tuổi. 3-Cầm sắc là tình vợ chồng. Cầm kỳ là
tình bạn hữu. 4-Quyền là theo cái tình thế trong một lúc mà làm, chứ không phải
là giữ đạo thường. Chấp kinh là giữ đạo thường, cứ nhất định về một mặt.5-Bảng
kinh viết “bụi nào còn đục đến mình ấy
vai.”
-2001-
Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời(1).
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa .
3125. Có điều chi nữa mà ngờ,
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu(2)!
Nghe chàng nói đã hết điều,
Hai thân thì cũng quyết theo một bài .
Hết lời khôn lẽ chối lời(3),
3130. Cúi đầu(4) nàng những ngắn dài thở than .
Nhà vừa mở tiệc đoàn viên(5),
Hoa soi ngọn đuốc hồng(6) chen bức là.
Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ đôi đà đủ đôi(7).
3135. Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa
Những từ sen ngó đào tơ(8),
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
1-Tan sương đầu ngõ thì trông thấy hoa.
Vén mây giữa trời thì trông thấy trăng. Có bảng viết “tan sương mới ngỏ áng mây giữa trời.”2-Thơ của Thôi Giao đời Đường
có câu “hầu môn nhất nhập thâm như hải.
Tống thử Tiêu Lang thị lộ nhân”nghĩa là cữa hầu vào rồi sau như bể. Từ đó
Tiêu Lang là người khách đi đường. Lấy điển vợ Tiêu Lang tên là Lục Chân bị
người ta bắt đem dâng ông Quách Tử Nghi. Từ đó chàng Tiêu trông thấy vợ cứ dửng
dưng như khách đi đường. Ý nói rằng nỡ nào để hững hờ không nhận người cũ hay
sao. 3-Có bảng viết “dứt lời.” 4-Có
nhiều bảng viết “gót đầu.”5-Có bảng
viết “đoàn viên tiệc mở nhà lan.”6-Có
bảng viết “hồng giăng bức là.”7-Có
bảng viết “đôi đà xứng đôi.”8-Có bảng
viết “những từ trên ngọn đào tơ.”lấy
nghĩa là kể từ khi bắt được cái thoa trên ngọn đào.
-202-
Tình duyên ấy hợp tan này(1),
3140. Bi hoan mấy nỗi đêm chầy(2) trăng cao .
Canh khuya bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân .
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình.
3145. Nàng rằng: Phận thiếp đã đành,
Có làm chi nữa cái mình bỏ đi !
Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may .
Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
3150. Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi !
Những như âu yếm vành ngoài,
Còn toan mở mặt với người cho qua .
Lại như những thói người ta,
Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa .
3155. Cũng nhơ(3) dở nhuốc bày trò,
Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi !
Người yêu ta xấu với người(4),
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau !
Cửa nhà dù tính về sau,
3160. Thì còn em đó(5) lọ cầu chị đây.
1-Từ câu này đến hết câu “hoa xưa ong cũ, mấy phân chung tình”Bảng
kinh chép như sau: “Thế gian đâu có hội
này/Bỏ lòng chua xót thỏa ngày khát khao/Canh tàn gạt ngọn đèn cao/Nhìn nhau
dường giấc chiêm bao mơ màng/Sánh vai chung gối đêm trường/Lạ gì yêu phấn dấu
hương thế tình.”2-Có bảng viết “đêm
này trăng cao.”3-Có bảng viết “khéo
là.”4-Bảng kinh viết “Yêu nhau để xấu
cho người.”5-Có bảng viết “thì đà em
đó.”nhưng các bảng nôm cũ đều viết “thì
còn.”
-203-
Chữ trinh còn một chút này(1),
Chẳng cầm cho vững lại(2) giày cho tan !
Còn nhiều ân ái chan chan,
Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi ?
3165. Chàng rằng: Gắn bó một lời,
Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau .
Xót người lưu lạc bấy lâu,
Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều !
Thương nhau sinh tử đã liều,
3170. Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân .
Gương trong chẳng chút bụi trần,
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm !
3175. Bấy lâu đáy bể mò kim,
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa ?
Ai ngờ lại họp một nhà,
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm !
Nghe lời sửa áo cài trâm,
3180. Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng:
Thân tàn gạn đục(3) khơi trong,
Là nhờ quân tử khác lòng người ta .
Mấy lời tâm phúc ruột rà,
Tương tri dường ấy mới là tương tri !
3185. Chở che đùm bọc thiếu gì,
Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay !
Thoắt thôi tay lại cầm tay,
Càng yêu vì nết càng say vì tình.
1-Chữ trinh. Đây nói lòng trinh tiết của
Kiều vốn giữ với Kim Trọng từ xưa đến nay. Dẫu có phải ong qua bướm lại cũng là bất đắc dĩ, chứ cái lòng thỉ chung
vẫn không thay đổi. Đây là nói cái trinh của Kiều đối với Kim Trọng. Cái trinh
ấy Kiều muốn giữ cho được trọn vẹn. Không nỡ đem cái thân tồi tàn mà đãi người
tình chung. 2-Có bảng viết “nỡ giày cho
tan.” 3-Có bảng viết “khỏa đục khơi trong.”
-204-
Thêm nến giá nối hương bình,
3190. Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan .
Tình xưa lai láng khôn hàn(1),
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa .
Nàng rằng: Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi !
3195. Ăn năn thì sự đã rồi !
Nể lòng người cũ vâng lời một phen.
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa .
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
3200. Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh(2) .
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên(3)?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên(4),
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông(5) !
3205. Lọt tay nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao(6).
1-Khôn hàn là khó hết, khó ngăn lại được.
2-Hồ Điệp là con bươm bướm. Trang Chu ngày xưa nằm mơ thấy mình hóa bướm. Mấy
câu này là dịch 4 câu thơ cầm sắc của Lý Thương Ẩn đời Đường “Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp/Thục Đế xuân tâm hóa đỗ quyên/Thương hải nguyệt
minh châu hữu lệ/Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.”3-Tục truyền rằng Thục
Đế ngày xưa mất nước, chết hóa ra con quốc, đêm ngày sầu oán kêu mãi không
thôi. 4-Duềnh là vụng, quyên là do chữ thuyền quyên, nghĩa bong nói mặt trăng.
Duềnh quyên là vũng nước có mặt trăng soi vào. 5-Lam điền là chỗ gieo hạt thành
ra ngọc. mới đông là ngọc mới thành. 6-Bảng kinh chép đoạn này là: “Đầu mày tươi liễu cuống lòng thỏa hoa/Rằng
này cũng lạ thay là/Xưa sao rầu rĩ, nay ra vui vầy/Tẻ vui cũng tai lòng
này/Thôi chiều khổ tận đến ngày cam lai.”
-205-
Chàng rằng: Phổ ấy tay nào,
Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy ?
Tẻ vui bởi tại lòng này(1),
3210. Hay là khổ tận đến ngày cam lai ?
Nàng rằng: Ví chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu !
Một phen tri kỷ cùng nhau(2),
Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa .
3215. Chuyện trò chưa cạn tóc tơ,
Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông(3) .
Tình riêng chàng lại nói sòng,
Một nhà ai cũng lạ lùng khen khao .
Cho hay thục
nữ chí cao,
3220. Phải người tối mận sớm đào như ai ?
Hai tình vẹn
vẽ hòa hai,
Chẳng trong
chăn gối cũng ngoài cầm thơ .
Khi chén rượu
khi cuộc cờ,
Khi xem hoa
nở khi chờ trăng lên .
3225. Ba sinh đã phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa
cũng là duyên bạn bầy.
Nhớ lời lập một am mây,
Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên
.
Đến nơi đóng cửa cài then,
3230. Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà,
Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu(4)?
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.
1-Có bảng viết “thương vui bỡi tại.”2-Có bảng viết “một phen tri kỷ mầng nhau.”3-Có bảng viết “trời vừa dựng đông.”4-Chuyện tiểu thuyết Tàu chép rằng: Khi Kiều
cho người đến đón Giác Duyên thấy có câu thơ đề lại: “nhược vấn ngô thân hà xứ khứ,
thường bạn phi hạc bán không vân.”nghĩa là muốn hỏi ta ở đâu thì ta
vẫn đi chơi với chim hạc ở trên mây.
-206-
3235. Một nhà phúc lộc gồm hai,
Ngàn năm dằng dặc quan giai(1) lần lần.
Thừa gia(2) chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc một sân quế hòe .
Phong lưu phú quý ai bì,
3240. Vườn xuân(3) một cửa để bia muôn đời
.
.
.
Ngẫm hay muôn
sự tại trời,
Trời kia đã
bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
3245. Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần(4).
Đã mang lấy nghiệp vào than(5),
3250. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa(6).
Thiện căn(7) ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài(8).
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
1-Quan giai là làm quan cứ lên bậc một.
2-Thừa gia là thừa đương việc gia đình. Có bảng viết “thừa tôn.”3-Vườn xuân là nói sự vui vầy trong gia đình như cái vườn
hoa mùa xuân. 4-Nghĩa là người có tài thường hay bị tai nạn. 5-Chữ nghiệp bỡi
chữ “Karma”trong kinh nhà Phật mà
dịch ra. Nghĩa là đã sinh ra làm người thì ai ai cũng có cái nghiệp của mình.
Nghiệp tức là công việc của mình làm kiếp này và lại là kết quả ở kiếp sau của
mình. Du hay dù dở, cứ luân hồi mãi không bao giờ hết được. Mà cái nghiệp ấy là
tự mình gây ra, chứ không ai gây ra cho mình. Hễ có thân là có nghiệp. Thân với
nghiệp cứ đeo đẳng mãi, trừ lúc nào tu được như Phật, bỏ hẳn được cái thân đi thì giải thoát được cái nghiệp.
6-nghĩa là mình tự trách mình mà thôi. 7-Thiện căn là cái gốc thiện. 8-Cốt giữ
lấy cái bụng chứ không nên cậy tài. Làm người nên cố gây lấy cái nền đức để cho
nhẹ cái nghiệp kiếp sau, chứ có tài thì càng sinh sự tất cái nghiệp càng nặng thêm
mãi ra.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét