Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Truyện Kiều 1279-2666



Hoa khôi(1) mộ tiếng Kiều nhi,


1280. Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào .
Trướng tô giáp mặt hoa đào(2),
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa ?
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân(3) càng gió càng mưa càng nồng.
1285. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?
Lạ gì thanh khí lẽ hằng(4),
Một dây một buộc ai giằng cho ra .
Sớm đào tối mận lân la,
1290. Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.
Dịp đâu may mắn lạ dường,
Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê .
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
1295. Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ .
Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.
Miệt mài(5) trong cuộc truy hoan,
1300. Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi.
1-“Hoa khôi”là đầu các thứ hoa, người đẹp nhất. Ngày xưa Đỗ Thập Nương gọi là hoa khôi vương tử. 2-“Trướng tô”là màn có tua. Ý câu này là gặp người đẹp ở trong màn quí. 3-Có bản viết là “Chiều xuân.”4-“Thanh”là đồng thanh tương ứng. “Khí”là đồng khí tương cầu. “Lẽ hằng”là lẽ thường. Đồng 1 thanh thì họp với nhau. Đồng 1 khí thì tìm tới nhau. 5-Có bản viết là “Mết mê.”
-122-
Thúc sinh quen thói bốc rời(1),
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.
1305. Mụ càng tô lục chuốt hồng,
Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê .
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu(2) lập loè đâm bông.
Buồng the phải buổi thong dong,
1310. Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa(3)
Rõ màu trong ngọc trắng ngà(4)!
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên(5).
Sinh càng tỏ nét càng khen,
Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường(6).
1315. Nàng rằng: Vâng biết lòng chàng.
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu .
Hay hèn lẽ cũng nối điêu(7),
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
1-“Bốc rời”là bốc tiền rời mà tiêu, không đếm. Có người nói “quen nết bốc trời”lấy nghĩa 2 chữ “thao thiên”nghĩa là ngất lên đến trời. Tức nói là người ngông. Trong các bản nôm không bản nào dùng chữ “bốc trời”nên cứ theo bản cũ để chữ “bốc rời.”2-“Lửa lựu”là hoa lựu  đỏ như lửa. 3-“Than lan”là nước hoa lan nấu lên buông màng xuống tắm. 4-Có bản viết “Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà.”5-Ngọc Trai Tập có câu “Chủ tựu thiên nhiên nhất dạng cốt tướng”nghĩa là đúc lên một bộ cốt tướng. Nghĩa là lúc Kiều bỏ xiêm áo ra xem hình dáng rất đẹp. 6-Thơ luật đường là thơ 8 câu 5 chữ hay 7 chữ theo niêm luật bằng trắc đời Đường. 7-Tục quan ngự sử thường dùng đuôi con điêu làm chỏm mũ. Cuối nhà Tấn cho những người bậy bạ làm ngự sử nhiều lắm. Người đời ấy có câu “điêu bất túc, cẩu vĩ tục.”Nghĩa là đuôi điêu không đủ lấy đuôi chó nối vào. Do đó họa thơ thường nói nhún rằng nối điêu là ý nói họa theo. 8-“Nỗi quê”cũng như “lòng quê”là nỗi riêng(xem số 8 trang 113)
 -123-

Lòng còn gửi áng mây Vàng(1).
1320. Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay .
Rằng: Sao nói lạ lùng thay !
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra(2) ?
Nàng càng ủ đột thu ba(3),
Đoạn trường lúc ấy dở mà buồn tênh:
1325. Thiếp như hoa đã lìa cành,
chàng như con bướm lượn vành mà chơi .
Chúa xuân đành đã có nơi,
 Ngày ngắn thôi chớ dài lời làm chi .
Sinh răng: Từ thuở tương tri,
1330. Tấm riêng riêng những nặng vì nước non.
Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông(4).
Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng.
Chút e bên thú bên tòng(5) dễ đâu .
1335. Bình Khang(6) nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lỡ phấn phai hương,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng (7)?
Vả trong thềm quế cung trăng,
1340. Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong.
1-Nghĩa là nhớ nhà. Cổ thi có câu “Thiên thượng hoàng vân ảnh, du tử hà thời qui.”nghĩa là trên trời có đám mây vàng, con đi bao giờ về. Có bản viết là “mây hàng.”lấy chuyện ông Địch Nhân Kiệt trông thấy đám mây ở núi Thái Hàng, nói rằng “nhà cha mẹ của ta ở dưới đám mây kia.”bản Kinh viết là “đám mây vàng.”6-Do câu “Bình khang hạng”là phố những nhà thanh lâu ở. 7-Có bản viết “Thế chăng.
-124-
Bấy lâu khăng khít dải đồng(1),
Thêm người người cũng chia lòng riêng tây .
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi .
1345. Trăm điều ngang ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho ?
Như chàng có vững tay co,
Mười phần cũng đắp điếm cho một vài(2) .
Thế trong dầu lớn hơn ngoài,
1350. Trước hàm sư tử gửi người đằng la(3) .Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng(4).
Ở trên còn có nhà thông(5),
Lòng trên trong xuống biết lòng có thương?
1355. Sá chi liễu ngõ hoa tường(6)?
Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.
Lại càng dơ dáng dại hình,
Đành thân phận thiếp nghĩ(7) danh giá chàng.
Thương sao cho vẹn thì thương.
1360. Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng.
Sinh rằng: Hay nói đè chừng !
Lòng đây lòng đấy chưa từng hay saỏ
1-“Đồng tâm đái”là cái thắt lưng đồng tâm, cũng như đồng tâm kết, Câu này có nghĩa bấy lâu vợ chồng yêu mến nhau. 2-Ý nói chàng có cứng tay thì che chở cho được vài phần. 3-“Đằng la”là cây cỏ leo(xem số 5 trang 103: Cát đằng). Ý là ví bằng thế vợ cả lại to hơn thì thành ra đem vào hàm sư tử, tức là đem cho vợ cả hành hạ. 4-“Giấm chua” là người đàn bà ghen, “lửa nồng”là bỡi chữ “hỏa khanh”là chỗ thanh lâu.5-“Nhà thông”là “nhà xuân.”nhưng chữ xuân không đúng vần. Nghĩa là trên còn có cha.  Có bản viết “nhà Kiều còn có vườn thông.”6-“Liễu ngõ hoa tường”là ai hái cũng được.7-Có bản viết “ngại danh giá chàng.
-125-
Đường xa chớ ngại Ngô Lào(1),
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta .
1365. Đã gần chi có đường xa ?
Đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều .
Cùng nhau căn vặn đến điều,
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời .
Nỉ non đêm ngắn tình dài,
1370. Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.
Mượn điều trúc viện thừa lương(2),
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi .
Chiến hòa(3) sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la .
1375. Bắn tin đến mặt Tú bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao .
Rõ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương(4) một thiếp thân vào cửa công.
Công tư đôi lẽ đều xong,
1380. Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai(5) .
Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông.
Hương càng đượm lửa càng nồng,
Càng xôi(6) vẻ ngọc càng lồng(7) màu sen.
1-Không ngại đường xa xôi. 2-“Thừa lương”là nghỉ mát. Nghĩa là lấy điều đem Kiều đi chơi nghỉ mát rồi giấu một nơi. 3-“chiến”là dọa đi kiện Tú Bà “mãi lương vi xướng”mua con nhà lương thiện để làm con hát và “hòa”là dỗ Tú Bà để cho Kiều lấy Thúc Sinh thì trả lại tiền cho. Trong truyện tiểu thuyết thì Thúc Sinh đem Kiều về ở nhà Hoa Dương. Hoa Dương là tay hào phú trong vùng dọa kiện Tú Bà. Bộ Tấn thì đi dàn xếp với Tú Bà để cho êm chuyện. 4-Đàn bà đi ở thanh lâu trở về lấy chồng là hoàn lương. 5-Ý nói là ra khỏi chỗ khổ sở. 6-“Xôi”là xôi ra. Cái gì ở trong phải phát hiện ra ngoài. 7-“lồng”là lồng lãy, nổi rõ.
-126-
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng(1).
Giậu thu vừa nảy giò sương(2),
Gối yên(3) đã thấy xuân đường đến nơi .
Phong lôi(4) nổi trận bời bời,
1390. Nặng lòng e ấp(5) tính bài phân chia .
Quyết ngay biện bạch một bề(6),
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
Thấy lời nghiêm huấn rành rành,
Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu .
1395. Rằng: Con biết tội đã nhiều,
Đẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam(7).
Trót vì tay đã nhúng chàm,
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây .
Cùng nhau vả tiếng một ngày,
1400. Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.
Lượng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc đen(8) thôi có tiếc mình làm chi .
1-Cổ thi có câu “Ngô đồng nhất dịp báo Thu lai”là cây ngô đồng rụng lá báo mùa Thu đến. “cành biếc”là cành lá xanh nói sắp đến mùa Thu. 2-“Giậu thu”là thu ly. Nghĩa là giậu hoa mùa thu. “Giò sương”là mầm cúc. Có bàn viết là “chồi sương.”3-Có bản viết “xe bồ”lấy điển “Song xe”bồ theo lễ cổ vua đón người hiền. “Gối yên”là cái gối và cái yên của các ông lão dùng. 4-“Phong lôi”là cơn giận ầm ầm như sấm, như gió. 5-“E ấp”là e lệ sợ hãi, nói Thúc ông sợ con có vợ rồi lại chơi bời lấy gái giang hồ. 6-Bàn Kinh viết “Quyết ngay tẳn hẳn một bề.”7-Ý nói làm tội thế nào cũng chịu. 8-Bản Kinh viết là “Phụ tình thôi có tiếc mình làm chi.”Ý nói nếu lượng trên không thương thì chết sống cũng liều chứ bỏ Kiều không bỏ.
-127-

Thấy lời sắt đá tri tri,
Sốt gan ông mới cáo quì cửa công.
1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng(1),
Phủ đường sai lá phiếu hồng(2) thôi tra .
Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy quì.
Trông lên mặt sắt(3) đen sì,
1410.Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời:
Gã kia dại nết chơi bời(4),
Mà con người thế là người đong đưa(5) .
Tuồng chi hoa thải hương thừa,
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.
1415. Suy trong tình trạng bên nguyên(6),
Bề nào thì cũng chưa yên bề nào .
Phép công chiếu án luận vào .
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình.
Một là cứ phép gia hình,
1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về.
Nàng rằng: đã quyết một bề !
Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần.
Đục trong thân cũng là thân.
Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình(7)!
1425. Dạy rằng: Cứ phép gia hình !
Ba cây(8) chập lại một cành mẫu đơn(9).
1-Bỡi câu “Binh địa ba đào”là đất bình nổi sóng.2-“Phiếu hồng”là trát quan. 3-Lấy chữ “thiết diện”là ông quan chính trực. 4-Câu này nói Thúc Sinh. 5-Câu này nói Thúy Kiều. 6-Nguyên là bên đứng thưa. Có bản chép “Tình trạng nguyên đơn.”Nhưng chữ “đơn”không họp vần. 7-Lôi đình là hình phép của quan 8-“Ba cây”là bỡi chữ “tam mộc”tức là “nữu”, “già”, “giới”là khóa tay, gông cổ và cùm chân. 9-Bản Kinh viết “Ba cây đóng chặt một cành mẫu đơn.”Cành mẫu đơn là Kiều.
-128-
Phận đành chi dám kêu oan,
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày(1) .
Một sân lầm cát đã đầy,
1430. Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương(2).
Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,
Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa .
Khóc rằng: Oan khốc vì ta !
Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau(3) .
1435. Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu .
Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai .
Phủ đường nghe thoảng vào tai,
Động lòng lại gạn đến lời riêng tây .
Sụt sùi chàng mới thưa ngay(4),
1440. Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu than(5):
Nàng đà tính hết xa gần,
Từ xưa nàng đã biết thân có rày .
Tại tôi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này vì tôi .
1445. Nghe lời nói cũng thương lời,
Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi(6) .
Rằng: Như hẳn có thế thì
Trăng hoa song cũng thị phi biết điều .
Sinh rằng: Chút phận bọt bèo,
1450. Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.
1-“Hoen quyện”là hoen ố. Má đào thì hoen ố ra. Mày liễu thì tan tát ra. Có bản viết “Đào nhăn nhíu má.”2-“Vóc”là thân vóc. 3-Có bản viết “Có nghe mình trước. Nhưng “mình”ở đây không có nghĩa. 4-“thưa ngay”là nói thật nói thẳng. 5-“Cầu thân”là định lấy nhau. 6-“Giai vi”là cổi vây, gỡ ra.
-129-

Cười rằng: đã thế thì nên !
Mộc già(1) hãy thử một thiên trình nghề.
Nàng vâng cất bút tay đề,
Tiên hoa(2) trình trước án phê xem tường.
1455. Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường(3)!
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân !
Thật là tài tử giai nhân,
Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn(4)?
Thôi đừng rước dữ cưu hờn,
1460. Làm chi lỡ nhịp cho đòn ngang cung.
Đã đưa đến trước cửa công,
Ngoài thì là lý song trong là tình(5).
Dâu con trong đạo gia đình,
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.
1465. Kíp truyền sắm sửa lễ công,
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao(6).
Bày hàng cổ xúy(7) xôn xao,
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi(8).
Thương vì hạnh trọng vì tài,
1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba .
1-“Mộc già”là cái gông. Ra bài thơ cái gông.2-“Tiên hoa”là giấy hoa tiên. 3-“Gía lợp”là giá cao hơn. “Thịnh Đường”là lúc nhà Đường thịnh. Có bản viết “giá loát Thịnh Đường.”Có bản viết “Gía đáng Thịnh Đường.”4-Do câu “Châu Trần nhị tinh thế thế hôn nhân, nhân danh Châu Trần thôn”là họ Châu, họ Tràn đời đời lấy nhau. Về sau nhân đó mà gọi Châu Trần thôn. 5-Có bản viết “Dẫu ngoài là phép.”6-Do câu “Hoa kiệu hồng chúc”kiệu hoa, đuốc sáng là lễ rước dâu. Đây quan làm lễ rước dâu.7-“Cổ xúy”là bát âm. 8-Do câu “Đào hoa trướng”là màn hoa đào. Màn của cô dâu
-130-
Huệ lan sực nức một nhà(1),
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa .
Mảng vui(2) rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh(3).
1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,
E tình nàng mới bày tình riêng chung:
Phận bồ(4) từ vẹn chữ tòng(5),
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên(6).
Tin nhà ngày một vắng tin,
1480. Mặn tình cát lũy(7) lạt tình tào khang(8).
Nghĩ ra thật cũng nên đường,
Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
Ở vào khuôn phép nói ra mối đường.
1485. E thay những dạ phi thường(9),
Dễ dò rốn bể khôn lường đáy song(10)!
Mà ta suốt một năm ròng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ
1-“Huệ lam”là hoa huệ, hoa lan. Ý nói sum họp một nhà. 2-“Mảng”là tiếng cổ.  Nghĩa thứ nhất là nghe tin, nhe đồn như nói “mảng tin xiếc nỗi khinh hoàng”như trang 85. Nghĩa 2 là ham mê mà quên đi.3-Hết mùa Xuân sang mùa Hè. 4-Xem số 1 trang 96: Cây bồ cây liễu là thứ cây yếu ớt. Hễ thấy mùa thu tới thì rụng và héo rồi ví như nười đàn bà yếu ớt. 5-Đàn bà lấy chồng thì phải theo chồng. 6-Do câu “Yến nhạn đại phí.”Ý là chim yến chim nhạn đổi thay. Nói từ mùa nọ sang mùa kia. 7-Do câu “Nam hữu cù mộc, cát lũy oanh chi”là phía Nam có cây to, cây cát cây lũy leo lên. Ý nói phận vợ lẻ. 8-Do câu “Tào khang chi thê bất hạ đường”lấy vợ từ ngày hàn vi không để xuống dưới nhà. Câu này chữ “tình” không vần được với chữ “tin”thành lạc vận. 9-“Phi thường”là không giống người thường, là người sâu sắc hiểm độc. 10-Tục ngữ có câu “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người hồ dễ ai đo cho cùng
-131-
Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,
1490. Hoặc là trong có làm sao chăng là?
Xin chàng kíp liệu lại nhà,
Trước người đẹp ý sau ta biết tình.
Đêm ngày(1) giữ mức giấu quanh,
Rày lần mai lữa như hình chưa thông.
1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang(2).
Rạng ra gửi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Tiễn đưa một chén quan hà(3),
1500. Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình(4).
Sông Tần(5) một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan(6).
Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.
1505. Nàng rằng: Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
Dễ lòa yếm thắm trôn kim(7),
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
1-Có bản viết “Ví bằng giữ mực.”2-Có bản viết “Định lòng sinh mới.” “Hồi trang”là sắm sửa đồ đạc để về. 3-“Chén quan hà”là chén rượu tiễn biệt. 4-“Xuân đình”là chỗ chơi. “Cao đình”là chỗ tiễn biệt do cổ thi có câu “Cao đình tương biệt xứ”là chỗ biệt nhau ở cao đình. Có bản viết “Xuân đình thoắc đã dọn ra cao đình.” 5-“Sông Tần”do câu hát cổ “Dao vọng Tần xuyên can trường đoạn tuyệt”là xa trông nước sông Tần như nát gan đứt ruột. 6-Dương Quan là tên cữa ải. Mấy câu trên là nói cái ý tiễn biệt. Xem số 1 trang 103. 7-Tục ngữ có câu “lòa được yếm thắm, khó lòa được trôn kim”là cái yếm màu đỏ nhưng có khi vô ý không thấy. Trôn kim tuy nhỏ nhưng nhìn kỹ thế nào cũng nhìn thấy. Có bản viết “Dễ mà én xẩm luồn kim
-132-
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
1510. Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất tình,
Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.
Hơn điều giấu ngược giấu xuôi.
Lại mang những việc tày trời đến sau.
1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng xin đợi ngày này năm sau!
Người lên ngựa kẻ chia bào,
1520. Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san(1).
Dặm hồng bụi cuốn chinh an(2),
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh(3).
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
1525. Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
.
.    .
Kể chi những nỗi dọc đường,
Buồn trong, này nỗi chủ trương ở nhà:
Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
1530. Con quan Lại bộ tên là Hoạn thư.
1-Tây Sương có câu “Thu lai thùy nhiễm phong lâm thúy”: Đêm mùa Thu ai đem nhuộm mất cái màu xanh của rừng cây phong”. “Quan san” là cách ải, cách núi. Ý nói xa cách. Câu náy ý nói tiễn biệt vào lúc mùa Thu. 1-“Chinh ai”là cái yên ngựa đi đường. 3-Chinh Phụ Ngâm có câu “Tương cố bất tương kiến, thanh thanh mạch thượng tang”: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.  
133-
Duyên đằng(1) thuận nẻo gió đưa,
Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.
Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già(2).
1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa:
Ví bằng thú thật cùng ta,
1540. Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?
Lại còn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,
Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!
Lo gì việc ấy mà lo,
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
1550. Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền(3) biết tay.
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công(4).
1-Do câu “Thời lai phong tống Đằng Vương Các” là vừa đến một nơi thì gió đưa vào giấc Đằng Vương, nghĩa là  gặp dịp may mắn. Cũng một ý như trong truyện Hoàng Trừ có câu “Đưa duyên mượn gió gác đằng.” Bản kinh viết là “Duyên Đằng sớm thuận gió đưa.”2- Nói điều thắt vào lý sự thì thật giỏi. 3-Mới thăm ván đã bãn thuyền, nghĩa là có mới nơi cũ. 4-Bản kinh viêt là “Mách mau cũng rắp toan bài tân công.
-134-
Tiểu thư nổi giận đùng đùng:
Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!
Chồng tao nào phải như ai,
1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi!
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng(1).
Trong ngoài kín mít như bưng.
Nào ai còn dám nói năng một lời!
1565. Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
.
.     .
Đêm ngày lòng những giận lòng,
Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.
Lời tan hợp nỗi hàn huyên(2),
1570. Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng.
Tẩy trần(3) vui chén thong dong,
Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.
Chàng về xem ý tứ nhà,
Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.
1575. Mấy phen cười nói tỉnh say(4),
Tóc tơ bất động mảy may sự tình.
Nghĩ đà bưng kín miệng bình(5),
Nào ai có khảo mà mình đã xưng?
Những là e ấp(6) dùng dằng,
1580. Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.
Có khi vui chuyện mua cười,
Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.
1-Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng. 2-xem số 4 tr 76: Vạn phúc là lời người đàn bà hay dùng làm lời chào. Hàn huyên là lời hỏi thăm. Đàn ông đàn bà dùng cũng được.3-Tây trần là bữa tiệc thếch người đi xa về để rửa sach bụi đi đường. 4-Có bản viết: “mấy phen cười tỉnh nói say.”5-Tinh Lý có câu: Thủ khẩu  như như bình: giữ miệng kín như miệng lọ. 6-xem số 5 tr 126: E ấp là e lệ sợ hãi.
 -135-
Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
1585. Khen cho những chuyện dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù vụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!
Thấy lời thủng thỉnh như chơi,
1590. Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn(1).
Những là cười phấn cợt son,
Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai.
Thú quê thuần hức bén mùi(2),
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô(3).
1595. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một niềm quan tái(4) mấy mùa gió trăng.
Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
Cách năm mây bạc(5) xa xa,
1600. Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn(6).
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu chẳng ruổi nước únon quê người.
1-Đỡ đòn cũng như nói đỡ đần, tức nói chống chế. 2-Thú là nơi chỗ ở. Có bản viết: “Non quê thuần hức bén mùi.Thuần là tên thứ rau. Hức là tên thứ cá. Trương Hàn nhà Tấn thây cơn gió thu, sực nhớ muì canh rau thuần, mùi chả cá hức. Đâyngĩa là quen cái cảnh cố hương. 3-Có thơ rằng “ngô đồng nhất diệp lạ táic, thiên hạ cộng tri thu” nghĩa là một lá ngô đồng rụng thiên hạ ai cũng biêt mùa Thu. 4-Quan tái là chỗ xa cách, cũng như chữ quan san. 5-Mây bạch vân. Ý nói cha ở xa. 6-Xem số 5 tr 104: Lấy chữ Kinh Lễ “Thần hôn định tĩnh”là sớm khuya hỏi thăm cha mẹ
-136-
           Long lanh đáy nước in trời(1)          
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng(2).
1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,
Xe hương(3) nàng cũng thuận đường quy ninh(4).
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen,
1610. Xấu chàng mà có ai khen chi mình!
Vậy nên ngảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.
Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích(5) buộc chân nàng về.
Làm cho cho mệt cho mê,
Làm cho đau đớn ê chề cho coi!
Trước cho bõ ghét những người,
1620. Sau cho để một trò cười(6) về sau.
Phu nhân khen chước rất mầu,
Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng lại chọn một bầy côn quang(7).
1625. Dặn dò hết các mọi đường,
Thuận phong một lá vượt sang bến Tề.
1-Nước trong thấy bóng trời in ở dưới đáy nưối. 2-Thành xây bằng khói. Nghĩa là khi đất trong xanh bốc lên phủ cả thành trông xa như thành xây bằng khoi. Non phơi bóng vàng là lá cây trên rừng trông vàng úa cả. 3-Xe hương là xe của người đàn bà đi. 4-Qui ninh là con gái về thăm cha mẹ. 5-Có bản viết là “dây tói, dây thắm hay dây trói.”6-Có bản viết “tiếng cười.”7-Côn quang cũng như tay du côn.
.
.   .
-137-
Nàng từ chiếc bóng song the,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng đâu đã xế ngang đầu(1),
1630. Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi(2).
Tóc thề đã chấm ngang vai,
Nào lời non nước nào lời sắt son.
Sắn bìm(3) chút phận cỏn con,
Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
1635. Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nau(4)!
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời(5).
1-Cha mẹ đã già. Xem sốm 5 tr 119. 2-Không biết cha mẹ ra làm sao. 3-Sắn bìm cũng như cát lũy, nói người lẻ mọn. 5-Cung Quảng là cung Quảng Hàn ở trong mặt trăng, chỗ Hằng Nga ở, Lấy trong bài Thất Tịch ca. “Do thng Hằng Nga bât giá nhân dạ dạ cô miên Quảng Hàn điện.” Nói chuyện sao Ngưu, sao Nữ, mỗi năm được gặp nhau một lần còn hơn nàng Hằng Nga không có chồng, đêm đêm cứ ngủ một mình trong cung Quảng Hàn. Bản kinh viết “Nửa vành trăng nhạc...”Có sách chua là do câu “Tam tịnh tại thiên”: 3 sao giữa trời. Ba sao đây là sao Tâm trong nhị thập bát tú, vào cuối tháng Ba thì chập tối thấy ở phương Đông. Ở đây nói vừa chập tối đã thấy 3 sao ở giữa trời, tức ở vào quãng tháng 7 tháng 8. Câu này mỗi nơi cắt nghĩa mỗi khác. Có người nói do lấy chữ Kinh Thi “Tuệ bỉ tiểu tinh, tam ngũ tại đông.:  nghĩa là trời gần sáng, chỉ còn lập lòe mấy ngôi sao ở đằng Đông. Có người thì nói là vợ lẻ. Xem số 7 tr 105. Có người cho câu này nói đêm 23 tháng 8, nhưng không nói bỡi lẽ gì mà cho như thế. Lại có người cả câu này tả chữ tâm. 3 chấm trên đầu là 3 ngộ sao. Cái dòng ở dưới là vành trăng khuyết. Tâm là tên Thúc Sinh, ý nói nhớ Thúc Sinh. Đó chẳng qua mỗi người một ý, rồi nặn mãi ra, chẳng có gì xá thực.      
-138-
Nén hương đến trước Thiên đài(1),
1640. Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân(2).
Dưới hoa dậy lũ ác nhân,
Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra(3).
Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.
1645. Thuốc mê đâu đã rưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì.
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào viện sách bốn bề lửa dong.
Sẵn thây vô chủ bên sông,
1650. Đem vào để đó lận song(4) ai hay?
Tôi đòi phách lạc hồn bay,
Pha càn(5) bụi cỏ gốc cây ẩn mình.
Thúc ông nhà cũng gần quanh,
Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời.
1655. Tớ thầy chạy thẳng đến nơi,
Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao.
Gió cao ngọn lửa càng cao,
Tôi đòi tìm đủ nàng nào thấy đâu!
Hớt hơ hớt hải nhìn nhau,
1660. Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng.
Chạy vào chốn cũ phòng hương,
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
 Ngay tình ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai!
1665. Thúc ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na.
1-Có bản viết là Phật Đài thì sai. Đây nói Kiều ra khấn ở bàn thờ Thiên Đài ở ngoài sân. 2-Có bản viết là “Cạn lời vân vi”nhưng không đúng vần. 3-Có bản viết “dậy ra.”4-Có bản viết “để đánh lận sòng ai hay.”5-Có bản viết “xông pha bụi cỏ.”Nhưng các bản cũ và bản kinh đều viết “pha càn...”nghĩa là chạy càn vào bụi cỏ.
-139-
Di hài nhặt sắp về nhà,
Nào là khâm liệm nào là tang trai(1).
Lễ thường đã đủ một hai,
1670. Lục trình(2) chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Bước vào chốn cũ lầu thư,
   Tro than một đống nắng mưa bốn tường.  
Sang nhà cha tới trung đường,
Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.
1675. Hỡi ôi nói hết sự duyên,
Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan!
Gieo mình vật vã khóc than:
Con người thế ấy thác oan thế này.
Chắc rằng mai trúc lại vầy,
1680. Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau(3)!
Thương càng nghĩ nghĩ càng đau,
Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây(4).
.
.   .
Gần miền nghe có một thầy,
Phi phù trí quỷ(5) cao tay thông huyền.
1685. Trên tam đảo(6) dưới cửu tuyền(7),
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.
Sắm sanh lễ vật rước sang,
Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han.
1-ma chay. 2-Lục trình là đi đường bộ. 3-Vĩnh quyết là ly biệt hẳn, không bao giờ trông thấy nhau nữa. 4-Bản kinh đổi câu trên và câu này là “Kể bao xiết nỗi thảm sầu/Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.”5-Phi phù trí quỉ là đốt bùa gọi được quỷ đến. 6-Tam Đảo là 3 núi tiên: Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu. Có bản viết “Tam Bao”là Nhật, Nguyệt, Tinh. 7-Cửu Tuyền là Âm Phủ. 

-140-
Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,
1690. Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.
Trở về minh bạch nói tường:
Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra.
Người này nặng kiếp(1) oan gia,
Còn nhiều nợ lắm sao đà thoát cho!
1695. Mệnh cung(2) đang mắc nạn to,
Một năm nữa mới thăm dò được tin.
Hai bên giáp mặt chiền chiền(3),
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!
Nghe lời nói lạ dường này(4),
1700. Sự nàng đã thế lời thầy dám tin!
Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân,
Thân mà dễ lấy mấy lần gặp tiên.
VII
1705. Nước trôi hoa rụng đã yên(5),
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.
Khuyển ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao lèo thẳng cánh suyền(6),
1710. Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang.
1-Có bản viết “Nặng nghiệp oan gia.”2-Lấy số tử vi có cung “Mệnh.”Gọi là Bột Tinh cũng được. Trong sách số có 2 câu “Mệnh Cung, Bột Tinh lâm tắc hữu nạn.”Ở cung Mệnh mà có sao Bột chiếu vào thì có nạn. 3-Chiền chiền cũng như rành rành. 4-Bản kinh viết “Nghe lời thêm nỗi chua cay.”Có bản viết “Lời đâu nói lạ dường này.”bản kinh viết “Đành rằng nàng đã Cửu Tuyền” 6-Có bản viết “cánh chuyền”nhưng cứ theo chữ “Hán Nôm” là “suyền”nghĩa là đi nhanh, thì chữ “suyền”phải hơn..
-141-
Dỡ đò lên trước sảnh đường,
Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống môn phòng,
Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
1715. Hoàng lương(1) chợt tỉnh hồn mai(2),
Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?
Bàng hoàng(3) giở tỉnh giở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.
A hoàn(4) trên dưới giục mau,
1720. Hãi hùng nàng mới theo sau một người(5).
Ngước(6) trông tòa rộng dãy dài,
Thiên Quang Chủng Tể(7) có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.
1725. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,
Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa.
Bất tình nổi trận mây mưa,
Dức rằng: Những giống bơ thờ quen thân(8)!
1-Hoàng lương là kê vàng. Chuyện Lư sinh đi thi không đỗ, nằm ngủ mơ thấy đỗ tiến sĩ ra làm quan, vinh hiển 20 năm. Tỉnh ra thì biết là một giấc mơ. Nồi kê nấu chưa chín. 2-Có bản viết “Mơ màng chợt tỉnh hồn mai.”Các nhà làm văn chương thường dùng “quế phách  mai hồn.”3-Bàng hoàng là như lúc say lúc mê, mới  tỉnh dậy chưa rõ đầu đuôi ra làm sao. 4-Ả hoàn hay liễu hoàn là con hầu. 5-có bản viết “theo sau mọi người.”6-là ngửng lên, trông lên trên cao. Có bản viêt “nhìn trông.”7-là Tể Tướng. 8-Bàn kinh viết “Dức rằng giống khéo bơ thờ quen thân”Có bản viết “Mắng rằng
-142-
Con này chẳng phải thiện nhân,
1730. Chẳng màu(1) trốn chúa thì quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả gà đồng(2),
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
Đã đem mình bán cửa tao,
Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này.
1735. Nào là gia pháp nọ bay(3)!
Hãy cho ba chục biết tay một lần.
A hoàn trên dưới dạ rân(4),
Dẫu rằng trăm miệng khôn phân lẽ nào.
Trúc côn(5) ra sức đập vào,
1740. Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh.
Xót thay đào lý một cành,
Một phen mưa gió tan tành một phen.
Hoa nô truyền dạy đổi tên,
Buồng the dạy ép vào phiên thị tì(6).
1745. Ra vào theo lũ thanh y(7),
Dãi dầu tóc rối da chì quản bao.
Quản gia(8) có một mụ nào,
Thấy người thấy nết ra vào mà thương.
Khi chè chén khi thuốc thang,
1750. Đem lời phương tiện(9) mở đường hiếu sinh(10).
Dạy rằng: May rủi đã đành,
Liểu bồ(11) mình giữ lấy mình cho hay.
1-Có bản viết “Chẳng phường.”2-Mèo ở mả, gà ở đồng, là những đứa vô loại. 3-Bản kinh viết “Nào là roi nọc đâu bay. 4-Rân cũng như ran, nghĩa là dạ rầm lên. 5-Roi bằng tre. 6-Bắt phải làm thị tì để chầu chực, hầu hạ ở trong buồng Hoạn bà. 7-Thanh y là người hầu, đứa ở. 8-Quản gia là người cai quản lú gia nô, lũ đầy tớ. 9-Phương  tiện là lời tử tế, phải trái. Có bản viết “Giúp lời phương tiện”10-Hiếu sinh cũng như nói “làm phúc
-143-
Cũng là oan nghiệp chi đây,
Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.
1755. Ở đây tai vách mạch dừng(1),
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi(2).
Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
Con ong cái kiến kêu gì được oan?
Nàng càng giọt ngọc như chan(3),
1760. Nỗi lòng luống những bàng hoàng(4) niềm tây:
Phong trần kiếp chịu đã đầy,
Lầm than lại có thứ này bằng hai(5).
Phận sao bạc chẳng vừa thôi(6),
Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.
1765. Đã đành túc trái tiền oan(7),
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.
.
.  .
Những là(8) nương náu qua thì,
Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia(9).
Mẹ con trò chuyện lân la,
1770. Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:
Tiểu thư dưới trướng thiếu người,
Cho về bên ấy theo đòi lầu trang(10).
1-Phương ngôn có câu “Dừng có mạch, vách có tai.”Dừng là cái vách làm bằng phên. 2-Bản kinh viết “Có ai quen thuộc cũng đừng nhận chi.”Nhìn là nhìn nhận. 3-Có bản viết “chứa chan.”4-Xem số 6 tr 94: bàn hoàn là lưu luyến, quấn quýt, khong nỡ bỏ ra, khong nỡ dứt ra. 5-lầm than là do chữ “đồ thán”là khổ sở. Câu này ý nói phen này khổ hơn phen trước. 6-Sao chẳng vừa vừa thôi, lại quá độ đến thế. 7-Trúc trái tiền oan nghĩa là nợ kiếp trước, oan kiếp trước, kiếp này phaỉ trả. 8-Bản kinh viets “Thềm xuân nương náu.”9-Ninh gia cũng như  qui ninh, xem số 4 tr 136: con gái về thăm cha mẹ. 10-“Lầu trang”bỡi chữ “trang lâu”là lầu gương sáp của đàn bà.
-144
Lĩnh lời nàng mới theo sang,
Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.
1775. Sớm khuya khăn mặt lượt đầu,
Phận con hầu giữ con hầu dám sai.
Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ(1) hỏi đến nghề chơi một ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây,
1780. Nỉ non thánh thót dễ say lòng người.
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Cửa người đày đọa chút thân,
Sớm năn nỉ bóng, đêm ngơ ngẩn lòng(2)
1785. Lâm Chuy chút nghĩa đèo bồng,
Nước non(3) để chữ tương phùng kiếp sau.
Bốn phương mây trắng một màu(4),
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Lần lần tháng trọn ngày qua,
1790. Nỗi gần nào biết đường xa thế này.
Lâm Chuy từ thuở uyên bay(5),
Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
1-Trúc là sáo, ti là đàn. 2-Có bản viết “Sớm than thở bóng, khuya năn nỉ  lòng.”3-Có bản viết “Nước bèo” cho là bỡi chữ “Bình thủy tương phùng”: nước với bèo cùng gặp nhau. Ý nói sự gặp gỡ bất kỳ. Rồi mỗi người đi một nẻo như nước đi đằng nước bèo đi đằng bèo. Đây Kiều và Thúc Sinh đã lấy nhau rồi không thể gọi là bình thủy được nữa. Để chữ “nước non”, nói là lời thề ước, có lẽ phải hơn. 4- Cổ Thi có câu “Tứ cố bạch vân mê”: trông bốn bề mây trắng mờ mịt. 5-  Do câu “Uyên ương phân phi”: Chim uyên và chim ưng bay lẻ nhau ra. Uyên ương là giống chim cứ đi đôi với nhau, ví như vợ chồng, mà đã bay lẻ ra như vợ chồng mỗi người một nơi. Đây nói Thúc
Sinh nhớ Kiều.
-145-
Mày xanh trăng mới in ngần(1),
Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa(2).
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa(3),
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân(4).
Tìm đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên(5) vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương(6) cao cuốn bức là(7),
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
Phải rằng nắng quáng đèn lòa,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao(8).
1-“Trăng mới”là mặt trăng đầu tháng tựa như lông mày Kiều, nghĩa là trông thấy vành trăng đầu tháng mà nhớ người cũ. In ngần là in thành vết, thành ngấn rõ ra.   Có bản viết “mày ai”cũng có nghĩa như vậy. 2-Do câu “Dư hương thặng phấn.”Hương phấn còn thừa, nghĩa là người đi vắng rồi, chỉ có hương phấn khi trước đã dùng thừa còn để lại. 3-Hết Hấng Thu. 4-Hai câu này nói hết một năm. 5-Xem số 4 tr 76. “vạn phúc ”là lời đàn bà hay dùng làm lời chào. “hàn huyen là lời hỏi thăm.” Đàn bà đàn ông đều dùng. 6-Bản kinh viết “nhà lan.”7-Cuốn cái màn là lên. 8-Do câu “Đường Lý Lâm Phủ tiếu trung hữu đao”là người Lý Lâm Phủ đời Đường cười mà có con dao trong tiếng cười. Ý nói người nham hiểm.
-146-
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ(1)?
Càng trông mặt càng ngẩn ngơ(2),
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn siêu:
Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!
Sợ quen, dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. Mới về có việc chi mà động dong(3)?
1-“Cổ Thi có câu “Tiếu đề câu bất cảm, phương giác tố nhân nan”là cười cũng dở, khóc cũng dở, mới biết người ta vào cái cảnh ấy không biết làm thế nào. 2-Từ câu “Càng trông mặt càng ngẩn ngơ”đến câu “Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa”Bàn kinh chép: Sợ uy ruột rối  vò tơ/Tủi duyên đôi giọt tuôn mưa khôn hàn/Rụt rè theo lũ tiểu hoàn/Cúi đầu cùng lạy một đoàn xa xa/Trông tường chàng ngã cổ ra/Thực nàng Kiều đó sao mà ở đây?/Nhân làm sao đến thế này/Thôi thôi hẳn đã mắc tay mặt thù/Thương ôi mảnh sắt vào lò/Bấy lâu nay biết dày vò đến đâu/Nỗi lòng chẳng đánh mà đau/Đương cười nói bỗng mặc dàu lệ sa. 3-Động dong là đổi sắc mặt
-147-
Sinh rằng hiếu phục vừa xong,
Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên(1).
Khen rằng: Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu(2).
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù(3),
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi(4).
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã giạm bày lảng ra.
Tiểu thư vội thét: Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn(5).
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn(6) rào ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say(7),
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản(8) đàn thử dạo một bài chàng nghe.
1-“Trắc dĩ”là nhớ mẹ. Kinh Thi có câu “Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề”: lên núi Dĩ kia trông ngóng, mẹ. “Đau lòng chung thiên”là không bao giờ quên. Bản kinh đổi câu này và câu trên như sau : “Tìm điều chống chã cho xong/lại còn có dám nói sòng nữa ru./”2-Hai câu này trong bản kinh không có. 3- “Chén tạc chén thù”là chén mời chén trả lại. 4-“trì hồ”là bưng bầu rượu. Có bản viết “bát nàng rót rượu chực hầu đôi bê-n.”5-Bản kinh viết “nói vào những phép già tay có đòn.”6-Ta hay nói “ngậm bồ hòn”là ngậm đắng cũng phải chiều à uống cho cạn. 7-Có bản viết “Tiểu thư cười tỉnh nói say.”8-Bản kinh viết “Ngón đàn
-148-
Nàng đà tán hoán(1) tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cũng trong một tiếng tơ đồng(2),
Người ngoài cười nụ người trong(3) khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương(4).
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi.
Sinh càng thảm thiết bồi bồi(5),
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua(6).
1865. Giọt rồng(7) canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm.
Lòng riêng tấp tểnh mầng thầm:
Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay.
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn dong canh dài:
Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1-“Tán hoán”là ngẩn ngơ, mê mẩn. Có bản viết “Nàng đà choáng váng tê mê”2-“đồng”là gỗ đồng, là đàn làm bằng thứ gỗ vông, chứ không phải “đồng”là loài kim thanh.3-“Ngoài ”là ngoài mặt, “trong ”là trong ruột. 4-“Giotj sương”là nước mắt, bỡi chữ “sương lệ.”Có bản viết “giọt Tương”là lấy điển bà Nga Hoàng và bà Nữ Anh khóc ở trên sông Tương.5-Bản kinh viết “Sinh càng mê mẩn rụng rời.”6-Có bản viết “Vội vàng nói nói cười cười cho qua.”7-“Rồng”là cái đồng hồ Tàu ngày xưa làm  hình như con rồng, đổ nước vào để chảy ra từng giọt.
-149-
1875. Chước đâu rẽ thúy chia uyên(1),
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa(2) còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?
Một mình âm ỉ đêm chày,
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.
.
.   .
1885. Sớm trưa hầu hạ đài doanh(3),
Tiểu thư chạm mặt(4) đè tình hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua:
Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.
1-Thúy và Uyên là 2 giống chim bay đi có đôi. 2-Có bản viết “Gỡ cho ra nợ;”3-Bản kinh đổi từ câu này cho đến câu “Diện tiền trình với tiểu thu”như sau : Sớm khuya hầu trước đài doanh/Nét sầu khôn gượng, gót tình khôn hoen/Tiểu thư trông liếc quở liền/Sa mày, nặng mặt, bỡi duyên cớ gì/Bì tiên đem lại tức thì/Cậy chàng hỏi nó rằng thì làm sao/Sinh đà ruột xót như cào/Nói ra chẳng tiện, trông vào sao đang/Loanh quanh co rụt bò sàng/Sợ đây, thương đấy, hai đường không xong/Dưới thềm trên kỷ cùng trông/Một lời chưa mở,hai dòng đã sa/Lấy lòng giả cách hỏi tra/Thân cung, nàng thảo qua một tờ/Đọc rồi đưa lại tiểu thư/Thoắc xem dường cũng ngẩn ngo xót tình. 4-“Chạm mặt”Bất thình lình bắt gặp kẻ thù nghịch với mình.
 

-150-
Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh:
1890. Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao!
Sinh đà rát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang!
Những e lại lụy đến nàng,
Đánh liều(1) mới sẽ lựa đường hỏi tra.
1895. Cúi đầu quỳ trước sân hoa,
Thân cung(2) nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền trình với Tiểu thư,
Thoạt xem dường(3) có ngẩn ngơ chút tình.
Liền tay trao lại Thúc Sinh,
1900. Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương
Ví chăng có số giàu sang,
Giá này dẫu đúc nhà vàng(4) cũng nên!
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời!
1905. Sinh rằng: Thật có như lời,
Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay!
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa(5).
Tiểu thư rằng: ý trong tờ,
1910. Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không(6).
Thôi thì thôi cũng chiều lòng(7),
Cũng cho ghỉ nghị trong vòng bước ra(8).
1-Có bản viết “lấy lòng.”2-Thân cung là cái tờ bày tỏ tình đầu của mình. 3-Có bản viết “Thoắc xem nàng cũng.”4-Nhà vàng là bỡi chữ “Kim ốc chữ kiều”: Đúc nhà bằng vàng để cho người đẹp ở. 5-Có bản viết “Bây giờ âu liệu.”Để chữ từ bi thì đúng với câu ở trong bản chữ “Hiền thê tu từ bi dã”: Hiền thê nên lấy lòng từ bi mà thương người ta. 6-Cữa không là cữa nhà Phật. 7-Có bản viết “Thôi thôi! Thôi cũng.”8-Có bản viết “Cũng cho khỏi lụy trong.”hay là “Cũng cho cho nghỉ trong vòng bước ra.” “Nghỉ nghị”là tính toán, lo liệu.
-151-
Sẵn Quan âm các vườn ta,
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa(1).
1915. Có cổ thụ(2), có sơn hồ,
Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh(3).
Tâng tâng trời mới bình minh,
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường(4),
1920. Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia(5).
Áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya tính đủ dầu đèn,
Xuân, Thu(6), cắt sẵn hai tên hương trà.
1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng(7).
Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
1-Có người chú thích “cây trăn thước ”là cái nén hương, hơi bốc lên. “Hoa bốn mùa”là cái hoa đèn, mùa nào cũng có. Nhưng xem trong bản chữ có câu “Tứ thời hữu bất tuyệt chi hoa, bát tiết hữu trường xuân chi cảnh”: Bốn mùa lúc nào cũng có hoa, mà 8 tiết có cảnh như mùa Xuân. Vậy tưởng câu này là câu tả cái cảnh ở trong vườn có cây, có hoa mà thôi. Lại có người cho câu này là do câu kệ trong kinh Phật “Bồ đề bách xích thụ, liên tọa tứ thời hoa”: Cây bồ đề cao 100 thước, tòa sen có hoa bốn mùa. 2-Có bản viết “Có thảo thụ.”3-Có bản viết “Chép kinh” hay “viết kinh.”4-Bản kinh viết “Cậy chàng đưa đến Phật đường.”5-“Tam qui”là qui Phật, qui Pháp, qui Tăng. “Ngũ giới ”là giới dâm, giới tửu, giới vọng, giới đạo, giới sát. 6-Tên 2 đứa hầu là Xuân Hoa, Thu Nguyệt. 7-Trong sách tiểu thuyết Tây Du có chữ “Tử trúc lâm”: là rừng trúc tía là chỗ ở của Quan Thế Âm Bồ Tát. Vậy rừng tía là cảnh Phật, bụi hồng là cảnh thế tục.
-152-
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
1930. Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương(1).
Cho hay giọt nước cành dương(2),
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Nâu sồng từ trở màu thuyền,
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu,
1935. Quan phòng(3), then nhặt, lưới mau,
Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người.
Gác kinh viện sách đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp mười quan san.
.
.   .
Những là ngậm thở nuốt than,
1940. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.
Thừa cơ, sinh mới lẻn ra,
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.
Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng,
Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh(4):
1945. Đã cam chịu bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa!
Thấp cơ thua trí đàn bà,
Trông vào đau ruột nói ra ngại lời.
Vì ta cho lụy đến người,
1950. Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!
1-“Pho thủ tự”là pho sách tay viết ra. “Tâm hương”: lấy tấm lòng làm nén hương. 2-“Cành dương”là cành lá của phật Quan Âm nhúng vào nước cam lộ để rảy vào đám chúng sinh khổ não. Có bản viết “Mát thay...3-“Quan phòng”là cách canh giữ, tức là Hoạn Thư canh giữ. Có bản chữa là “Cữa thuyền then” hay là “cữa phòng.”4-Tì Bà Hành có câu “Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp”: Quan Tư Mã Châu Giang khóc ướt vạt tràng áo xanh. “Đẫm”là ướt đẫm. Có bản viết “ướt tràng áo xanh.
-153-
Quản chi lên thác xuống ghềnh,
Cũng toan sống thác với tình cho xong.
Tông đường chút chửa cam lòng(1),
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.
1955. Thẹn mình đá nát vàng phai,
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao(2)?
Nàng rằng: Chiếc bách(3) sóng đào(4),
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may!
Chút thân quằn quại vũng lầy,
1960. Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa đào,
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!
Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta.
1965. Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng ấy là ân sâu!
Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường.
Nữa khi giông tố phũ phàng,
1970. Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây.
Liệu mà xa chạy cao bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
1-Trong bản Kiều chữ có câu “Ngã cơ dục giữ nhĩ đồng tử, nhậm nại tử tự vị hữu, sở dĩ tử bất đắc”: Ta vẫn muốn chết với nàng, nhưng vì chưa có con trai, nên không chết được. Vây “tông đương”đây là nói con trai. 2-Kinh Thi có câu: “Như khả thục hề, nhân bách kỳ thân”: nếu có thể chuộc được thì mất trăm mạng cũng chuộc. 3-“Chiếc bách”là chiếc thuyền làm bằng gỗ bách. 4-“Sóng đào”là sóng lớn.
-154-
1975. Dẫu rằng sông cạn đá mòn,
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ(1)!
Cùng nhau kể lể sau xưa,
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời.
Mặt trông tay chẳng nỡ rời,
1980. Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa.
Nhận ngừng(2), nuốt tủi, đứng ra,
Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào.
Cười cười, nói nói ngọt ngào,
Hỏi: Chàng mới ở chốn nào lại chơi?
1985. Dối quanh Sinh mới liệu lời:
Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh.
Khen rằng: Bút pháp(3) đã tinh,
So vào với thiếp Lan đình(4) nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
1990. Nghìn vàng, thật cũng nên mua lấy tài!
Thuyền trà cạn nước hồng mai(5),
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
VIII
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau.
1995. Hoa rằng: Bà  đến đã lâu,
Dón chừng đứng núp độ đâu nữa giờ.
1-Cổ thi của Lý Thương Ẩn đời Đường có câu “Xuân tàm đáo tử ti phương tận”: Con tằm đến chết mới hết tơ. Có bản viết “cũng còn kéo tơ.”2-“Nhận”là đè nén xuống. “Ngừng”là thương xót. Đây là nói nén cái thương xót xuống. Có bản viết “Ngại ngùng bặt tủi lảng xa.”Nhưng không nghe rõ nghĩa. 3-“Bút pháp”là cách viết chữ. 4-“Thiếp Lan Đình”là thiếp của Vương Hi Chi. Chữ tốt lắm. 5-“Thuyền trà”là nước chè  nhà chùa, nấu bằng gỗ cây mai.. Chú Ý: sách này viết chữ “thiền” thành chữ “thuyền.
-155-
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương,
2000. Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than(1).
Dặn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu(2):
Đàn bà thế ấy thấy âu một người!
2005. Ấy mới gan ấy mới tài,
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!
Người đâu sâu sắc nước đời,
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay(3)!
Thực tang bắt được dường này,
2010. Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.
Thế mà im chẳng đãi đằng(4),
Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường,
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu(5)!
2015. Thân ta ta phải lo âu,
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này!
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!
Phận bèo bao quản nước sa,
2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
1-Chữ “than”khoog vần được với chữ “bên.” Thành ra câu này lạc vận. 2-Bản kinh viêt: “Lặng nghe ngẩn một giờ lâu/Đàn bà thế ấy dễ hầu có hai.”3-Có bản viết “Thảo nào chàng Thúc ra người bó tay.”4-Xem số 1 tr 109: “Đãi đằng”là lôi thôi. Bản kinh viết “Thế mà chẳng nói chẳng rằng.”5-Người Triệu Ân nhà Đường nói rằng “nộ giả thương tình, tiếu giả bất khả trắc”: Có điều gì không bằng lòng mà giận thì là thường tình, chứ cười thì khó lượng được.
-156-
Chỉn e quê khách một mình,
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!
Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,
Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân.
2025. Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Mịt mù dặm cát đồi cây,
2030. Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương(1).
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dãi dầu(2)!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà!
2035. Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,
Trụ trì(3) nghe tiếng, rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
2040. Giác duyên sư trưởng đành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh:
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu.
2045. Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.
1-Có bản viêt “Tiếng gà dấu cỏ, dấu giày.”Do 2 câu trong bài thơ “Thương sơn tảo hành”của Ôn Đình Quân đời Đường “Kê thanh mao điếm nguyệt, nhân tích bản kiều sương”là tiếng gà gáy ở lều tranh có bóng trăng, cái bước chưn người đi trên cầu có sương. Tả cảnh người đi đêm khuya. 2-“Ngàn dâu”là bỡi chữ “Phù tang”nghĩa là phương Đông(sách chú thích: đừng lẫn “tang du”là bóng dâu). Bản kinh viết “Trời đông mới dựng vừng dâu.” 3-“Trụ trì”là sư đã thụ giới lên hạng sư ông, sư bà.
-157-
Rày vâng diện hiến rành rành(1),
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra.
Xem qua sư mới dạy qua:
2050. Phải nơi Hằng Thủy(2) là ta hậu tình.
Chỉn e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
2055. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối(3) phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương(4).
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
2060. Sư càng nể mặt, nàng càng vững chưn.
1-Đoạn này bản kinh chép như sau: Chuông vàng khánh bạc bên mình/Kính dâng gọi chut vì tình xin thu/Nguyên xưa sư trưởng vân du/Quen thầy Hằng Thủy ở chùa Bắc Kinh/Thấy người thấy của rành rành/Nói đà phải đáp không tình hồ nghi/Dạy rằng: “Thiền hữu tương tri /Sư đầu chưa đến, tiểu thì hãy đây/Gửi thân được chốn...”2-“Hằng Thủy”là tên sư. Trong bản chữ nói rằng Kiều đến chùa gọi cữa, có bà vãi ra hỏi. Kiều nói rằng đi vân du đến đây, xin vào nghỉ chưn. Bà vãi bảo việc ấy phải hỏi sư đương gia. Kiều hỏi  sư đương gia tên là gì. Vãi bảo là Giacs Duyên. Kiều nhớ lấy tên ấy rồi vào nói với Giacs Duyên rằng “tôi cùng với thầy tôi định đi đến “Chiêu Ẩn Am” thăm sư Giac Duyên. Không ngờ thầy tôi đi lạc đâu, tìm không thấy, mãi mới thấy chùa đây, không biết thầy tôi đã đi đến chưa.”Giacs Duyên nghĩ một lúc rồi hỏi có phải sư Hằng Thủy ở Trấn Giang không? Kiều nhận là phải. Vân vân. 3-Kinh nhà Phật đời xưa hay viết vào lá cây bối đa. 4-“Tiếng chày”là tiếng dùi gõ chuông. “nện sương”là đánh lúc tan sương.
-158-
Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa Già(1).
2065. Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!
Giác Duyên thực ý lo lường,
Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,
2070. Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay:
Bây giờ sự đã dường này,
Phận hèn dù rủi, dù may, tại người.
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.
2075. Rỉ tai  mới kẻ sự lòng:
Ở đây cửa Phật là không hẹp gì;
E chăng những sự bất kỳ,
Để nàng cho đến thế thì cũng thương(2)!
Lánh xa, trước liệu tìm đường,
2080. Ngồi chờ nước đến, nên đường còn quê(3)!
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
2085. Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc bà học với Tú bà đồng môn!
1-“Đàn việt”là người có công đức với chùa. Về sau dùng rộng nghĩa ra gọi những người đi vãng cảnh chùa. “Cữa già ”là cữa nhà chùa. Tiếng Ấn Độ gọi chùa là già lam. 2-Có ban viết “đến nỗi thì cũng thương.”3-Đợi nước đến chưn mới nhảy thì thành ra dại
-159-
Thấy nàng mặn phấn tươi son(1),
2090. Mầng thầm được buổi bán buôn có lời(2).
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà lớn sự rụng rời lắm phen(3).
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần(4).
2095. Rằng: Nàng muôn dặm một thân,
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia(5), của phá gia,
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây!
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
2100. Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!
Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
Nơi xa thì chẳng có người nào xa.
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.
2105. Cửa nhà buôn bán châu Thai,
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
Bấy giờ ai lại biết ai,
2110. Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh.
Nàng dù quyết chẳng thuận tình(6),
Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau.
Nàng càng mặt ủ mày châu(7),
Càng nghe mụ nói, càng đau như dần.
1-Có bản viết “Thấy nàng nhạt phấn sờm son”Nghĩa là người đẹp phấn son không thấm vào đâu. 2-Có bản viết “Mầng thầm được mối”hay “Mầng thầm được món.”3-Có bản viết “Nàng đà nhớn nhác.”4-Xem số 4 tr 129: Do câu “Châu Trần nhị tính thế thế hôn nhân, nhân danh Châu Trần thôn”là họ Châu, họ Trần đời đời lấy nhau, về sau nhân đó mà gọi là thôn Châu Trần. Ý nói Hai bên lấy nhau xứng đáng. 5-Có bản viết “Giống oan gia.”6-Ý nói không nghe lời trước đi, thì sau khổ thân. 7-Bản kinh viết “Nàng càng lan thảm huệ sầu
-160-
2115. Nghĩ mình túng đất, sẩy chân,
Thế cùng nàng mới xa gần thở than:
Thiếp như con én lạc đàn,
Phải cung rày đã sợ làn cây cong(1)!
Cùng đường dù tính chữ tòng,
2120. Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào,
Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu?
Dù ai lòng có sở cầu,
Tâm mình(2) xin quyết với nhau một lời.
2125. Chứng minh có đất, có Trời(3),
Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì?
Được lời mụ mới ra đi,
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh.
Một nhà dọn dẹp linh đình,
2130. Quét sân, đặt trác(4), rửa bình, thắp hương.
Bạc sinh quì xuống vội vàng,
Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công.
Trước sân(5) lòng đã giãi lòng,
Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên.
2135. Thành thân mới rước xuống thuyền,
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai.
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi,
Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.
Cũng nhà hành viện(6) xưa nay,
2140. Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người
1-Do câu “Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi”là chim đã phải cung, thấy cây cong cũng phải bay cao. 2-“Tâm minh” là lấy bụng thực mà kể. 3-Bản kinh bớt đi 3 câu mà để 2 câu sau: “Mụ nghe tính đã chắc mười/Mách tin họ Bạc tơi bời sắm sanh.”4-“Trác”là hương án. 5-Có bản chép “ngoài sân.”6-“Hành viện”là cữa hàng thanh lâu.
-161-
.Xem người định giá vừa rồi,
Mối hàng một, đã ra mười, thì buông(1).
Mượn người thuê kiệu rước nường,
Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa(2)!
2145. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đã biết tình,
2150. Chim lồng khốn lẽ cất mình bay cao.
Chém cha cái số hoa đào(3),
Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà chán cho đời,
Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen!
2155. Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần(4),
Đã xoay đến thế, còn vần chửa tha.
Lỡ từ lạc bước bước ra(5),
2160. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
Đầu xanh đã tội tình chi?
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
1-Có bản viết “thì buôn.’”2-Bán xong đi mất. 3-Theo số tử vi mà đàn bà đã phải sao Đào Hoa và sao Hồng Loan chiếu mệnh thì cả đời chỉ giang hồ. 4-“Hồng quân ”là ông trời. “hồng quần”5-Bản kinh viết: “Kể từ lỡ bước, bước ra.”Có bản viết “lỡ từ nước bước, bước ra.
-162-
XI
2165. Lần thâu(1) gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình(2) sang chơi,
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
2170. Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông.
Giang hồ quen thú(3) vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo(4).
2175. Qua chơi thấy tiếng(5) nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cùng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ(6)
2180. Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh(7) chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng(8) mà chơi!
1-“Lần thâu”là hết đêm ấy đến đêm khác. Có bản viết “lần lừa.”2-“Khách biên đình ”là người ở các miền biên thùy. 3-Xem số 2 tr 135: “Thú”là nơi chỗ ở. Có câu “Thuần hức bén mùi” do tích Trương Hàn nhà Tấn thấy cơn gió Thu sực nhơ mùi canh rau thuần, mùi chả ca hức. Nghĩa là quen cái cảnh cố hương. 4-Thở của Hoàng Sào là tướng giặc đời nhà Đường có 2 câu “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy ”là nửa vai đeo cung kiếm có trời cho, một chèo đi khắp non sông trên đất. 5-Có bản viết “Qua chơi nghe tiếng.”6-“Tâm phúc tương kỳ”là lấy tâm phúc mà ở với nhau. 7-Nguyễn Tịch nhà Tấn tiếp khách, thấy ai là người đáng trọng thì mắt xanh, người đáng  khinh thì mắt trắng. 8-“Cá chậu chim lồng”là người tầm thường.
-163-
2185. Nàng rằng: Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng,
Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước ra sau,
2190. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình.
Từ rằng: Lời nói hữu tình,
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân(1).
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?
2195. Thưa rằng: Lượng cả bao dong,
Tấn Dương(2) được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!
Nghe lời vừa ý gật đầu,
2200. Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người(3)!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già(4)!
Một lời đã biết tên ta,
Muôn chung nghìn tứ(5) cũng là có nhau!
2205. Hai bên ý hợp tâm đầu,
Khi thân chẳng lọ là cần với thân!
1-Đường Thi có câu”bất tri can đảm hưng thúy thị, linh nhân khước ức Bình Nguyên Quân”là chẳng biết gan mật cùng ai tỏ, khiến người ta lại nhớ Bình Nguyên Quân. BNQ là tướng nước Triệu đời Chiến Quốc, có tính đãi khách tối hậu, trong nhà lúc nào cũng có hơn 3.000 khách.2-Vua cao tổ đời Đường lên làm vua ở đất Tấn Dương. Câu này bản kinh chữa là “Rồng mây rõ mặt anh hung có phen.”3-Có bản viết “Tri kỷ thấy âu mấy người.”4-Câu này nhiều bản viết “Anh hùng đứng giữa trần ai…”thì không có nghĩa. 5-“Muôn chung”là ăn muôn hộc thóc, “nghìn tứ”là có nghìn cỗ xe.
-164-
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm(1) lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn,
2210. Đặt giường thất bảo(2), vây màn bát tiên(3).
Trai anh hùng, gái thuyền nguyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
.
,   .
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
2215. Trông vời(4) trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng rong.
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi!
Từ rằng: Tâm phúc tương tri,
2220. Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng(5) dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia(6),
2225. Bằng ngay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì?
1-Có bản viết “hai trăm lại cứ.”2-“Thất bảo”là 7 chữ báu: Pha lê, xa cừ, hạt châu, ngọc, vàng, bạc, đồi mồi. 3-“Bát tiên ”là 8 vị tiên: Chung Ly Quyền, Lã Động, Tàn, Trương Qủa, Lý Thiết Qu ài, Lam Thái Hòa, Tào Quốc Cữu, Hà Tiên Cô, Hàn Tương. 4-“Trông vời”là trông xa. Có bản viết “Tiếng loa.”6-Kinh Thi có câu “Nghi kỳ gia thất.”là vợ chồng lấy nhau, cữa nhà êm ấm. Nói riêng hai chữ “nghi gia” là con gái về nhà chồng.
-165-
Quyết lời dứt áo ra đi(1),
2230. Gió đưa bằng tiện, đã lìa dặm khơi(2)
Nàng thì chiếc bóng song mai(3),
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.
Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy(4),
Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân(5).
2235. Đoái thương muôn dặm tử phần(6)
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa(7);
Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ, biết là có nguôi.
Chốc là mười mấy năm trời,
2240. Còn ra khi đã da mồi tóc sương(8).
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý(9) còn vương tơ lòng!
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
1-Bỡi chữ “tuyệt cứ”là người nhà nắm lấy vạt áo nhưng người đi cứ dứt đi. 2-Trang Tử có câu “Bằng phi cửu vạn lý”là chim bằng bay xa 9 vạn dặm.     Có bản viết “Cánh bằng tiện gió cất lìa dặm khơi.”3-Tô Thi có câu “Độc lập vô tình tự, ỷ song điểm mai hoa”là đừng buồn một mình, tựa cữa sổ đếm xem hoa mai nở được bao nhiêu. Có bản viết “Nàng từ.”4-Ngồi trong buồng, không ra ngoài sân, cho nên không có vết giày ở trên rêu.5-“Cỏ cao hơn thước ”là vì bỏ không sửa sang gì. “Liễu gầy” là nói người mỹ nhân trong khi buồn cũng như cây liễu rủ lá, trông gầy mòn, yếu đuối. 6-“Tử phần”là quê nhà mình. 7-“Mây Tần ”là lấy ý câu thơ Hàn Dụ đời Đường “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà lại”là đám mây che ngang núi Tần không trông thấy quê hương ở đâu. Nghĩa là nhớ nhà. 8-“Da mồi”là da đồi mồi, “tóc sương”là tóc trắng như sương. 9-Do câu “Ngẫu đoạn nhi ti liên”là cái ngó sen tuy bẻ gãy nhưng cái tơ  nó vẫn còn liền với nhau.
-166-
2245. Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời  .
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm(1).
Ngày đêm luống những âm thầm,
2250. Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương,
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen kẻ thuộc chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
2255. Nàng rằng: Trước đã hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa.
Còn đang dùng dắng ngẩn ngơ
Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng la.
Giáp binh kéo đến quanh nhà,
2260. Đồng thanh cùng gửi: nào là phu nhân?
Hai bên mười vị tướng quân,
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
Cung nga, thể nữ nối sau,
Rằng: Vâng lệnh chỉ(2) rước chầu vu qui(3).
2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi(4),
Hoa quân giấp giới hà y rỡ ràng(5).
Dựng cờ, nổi trống lên đàng,
Trúc tơ nổi trước, đào vàng theo sau(6).
Hoả bài tiền lộ ruổi mau,
2270. Nam đình nghe động trống chầu đại doanh.
1-hai câu này nói mong Từ Hải. 2-“Lệnh chỉ”là hiệu lệnh của vua hay quan tướng. 3-“Chầu”là tiếng gọi vợ vua hay vợ chúa. “Vu qui”là về nhà chồng. 4-“Kiệu phượng, màn loan”: Người đàn bà có chức có tước mới được dung. 5-“Hoa quân giấp giới”là mũ hoa long lánh, phất phơ. “Hà y rỡ ràng” là áo mùi ráng trời, trông rực rỡ. 6-Có bản viết “Trúc tơ giải trước, kiệu vàng cất sau.”7-“Hỏa bài” là quân kỵ mã đi báo tin trước.
.-167-
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài.
Lữa mình, là vẻ cân đai(1),
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa.
2275. Cười rằng: Cá nước duyên ưa,
Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh hùng,
Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Nàng rằng: Chút phận ngây thơ,
2280. Cũng may dây cát được nhờ bóng cây(2).
Đến bây giờ mới thấy đây,
Mà lòng đã chắc những ngày một hai.
Cùng nhau trông mặt cả cười,
Dan tay về chốn trướng mai tự tình.
2285. Tiệc bày thưởng tướng khao binh
Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân(3).
Vinh hoa bõ lúc phong trần,
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.
.
.   .
Trong quân có lúc vui vầy,
2290. Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy,
Nơi thì lừa đảo, nời thì xót thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân oán đôi đàng chưa xong.
2295. Từ Công nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao(4).
1-“Lữa”là quen, có nếp., Câu này có nghĩa là mình ăn mặc cân đai đã quen. 2-Xem số 7 tr 130: do câu “Nam hữu cù mộc, cát lũy oanh chi”là bên nam có cây to, cây cát lũy leo lên, ý nói phận vợ lẻ. nhưng ở đây mượn nghĩa để nói người đàn bà nhớ chồng. 3-Có bản viết: “Thì thùng trống trận” 4-“Ruổi sao”do chữ “tinh trì”là đi nhanh như sao đổi ngôi.
-168-
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
2300. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Chuy,
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã(1) bắt về hỏi tra .
Lại sai lệnh tiễn truyền qua(2),
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên .
2305. Mụ quản gia, vãi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời .
Thệ sư(3) kể hết mọi lời,
Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy(4) !
Đạo trời báo phục chỉn ghê,
2310. Khéo thay ! Một mẻ tóm về đầy nơi(5),
Quân trung gươm lớn áo dài,
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi(6) .
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng(7) chật đất, tinh kỳ rợp sân.
2315. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi .
Tiên nghiêm(8) trống chửa dứt hồi
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên(9).
Từ rằng: ân, oán hai bên,
2320. Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh
1-Có bản viết “Chi troếu danh truy tróc.”2-“Lệnh tiến”là cái tên của tướng cho cầm đi để làm tin. Có bản viết “truyền ra.”3-“Thệ sư”là lễ tế cáo trời đất, quỷ thần về việc sai quân để bắt những người thù và hiểu dụ tướng sĩ trước khi sai đi. 4-Câu này nghĩa là nghe nói ai cũng giận, ai cũng muốn đi bắt cho được. 5-Do câu “Nhất vỏng đả tận”là kéo một mẻ lưới vét được hết. Có bản viết “tóm về đôi nơi”nghĩa là ở các nơi  tóm về. Có bản viết “chia đi các ngả”hay là “sai đi các nẻo.”6-“Thị lập”là đứng hầu. “Song phi”là đứng ra hai hàng. 7-“Bác đồng”là sung bằng đồng. 8-“Tiên nghiêm”là hồi trống đánh lúc ra quân để cho nghiêm. 9-“Viên môn”là cữa quân.
-169-
Nàng rằng: Nhờ cậy uy linh,
Hãy xin báo đáp ân tình cho phu .
Báo ân rồi sẽ trả thù.
Từ rằng: Việc ấy để cho mặc nàng.
2325. Cho gươm mời đến Thúc lang(1),
Mặt như chàm đổ, mình giường giẽ giun.
Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Chuy người cũ, chàng còn nhớ không?
Sâm Thương(2) chẳng vẹn chữ tòng,
2330. Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là !
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau !
2335. Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa(3) .
Thúc Sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm.
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
2340. Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai(4) .
Mụ già, sư trưởng thứ hai(5),
Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên:
1-Bản kinh viết “Số danh trước xướng Thúc Lang.”2-Sâm Thương ta gọ lầm là sao Hôm và sao Mai. Như sao Hôm và sao Mai là Kim Tinh, Một hành tinh đi trong quỹ đạo trái đất. Theo sách Tả Truyện của Tàu nói vua Caao Tân Thị đời thượng cổ có 2 người con tên là Ất Bà và Thực Trầm hay đánh nhau, vua đày Ất Bà đi ở Thương Khâu, chủ sao Thần, tức là sao Tâm, bỡi vậy gọi sao Thần là sao Thương và đày Thực Trầm đi ở Đại Hạ, chủ sao Sâm. Khi sao Sâm ở Đông thì sao Thương ở Tây không bao giờ gặp nhau. Người đời sau gọi an hem không hòa mục là Sâm Thương. 3-Bản kinh viết “Nghĩa sâu đành trả ơn sâu cho vừa.”4- Sợ cho Hoạn Thư mà mầng cho Kiều. 5-“Mụ già”là mụ Hoạn gia. “Sư trưởng”là Giác Duyên.


-170-

Dắt tay mở mặt cho nhìn:
Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi .
2345. Nhớ khi lỡ bước sẩy vời,
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng phiếu mẫn(1) mấy vàng cho cân?
Hai người, trông mặt tần ngần,
2350. Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mầng vui .
Nàng rằng: Xin hãy rốn ngôi,
Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù !
Kíp truyền chư tướng hiến phù(2),
Lại đem các tích phạm tù hậu tra .
2355. Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư .
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây ?
Đàn bà dễ có mấy tay,
2360. Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều !
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, dở(3) điều kêu ca .
2365. Rằng: Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,
Nghĩ cho khi gác viết kinh(4),
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo .
Lòng riêng riêng cũng kính yêu;
2370. Chồng chung, ai dễ ai chiều cho ai
1-Lúc Hàn Tín còn hàn vi, đói khổ, bà Phiếu mẫu cho ăđem nộpn một bữa cơm. Về sau làm nên phú quí trả ơn nghìn vàng. 2-“Hiến phù”là đem nộp những người đã bắt được. 3-Có bản viết là “lựa điều kêu ca.”4-“Các”là Quan Âm Các.
-171-
 Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?
Khen cho: Thật đã(1) nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời,
2375. Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen(2).
Đã lòng tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay(3) .
Tạ lòng lạy trước sân mây,
2380. Cửa viên(4) lại dắt một dây dẫn vào,
Nàng rằng: Lồng lộng trời cao,
Hại nhân, nhân hại sự nào tại ta ?
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh(5).
2385. Tú Bà với Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao ?
Lệnh quân truyền xuống nội đao(6),
Thề sao thì lại cứ sao gia hình,
Máu rơi thịt nát tan tành,
2390. Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời .
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người, chẳng bõ khi người phụ ta !
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
1-Có bản viết “Khéo đã nên lòng.”2-Có bản viết “làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen.”3-Bản kinh viết “Lệnh quân truyền xuống trướng tuyền than gay.””Quân lệnh”là lời quan truyền xuống. 4-Xem số 9 tr 168: “viên môn ”là nhà quân. 5-Có bản viết 2 câu này là “Nào là Bạc Hạnh, Bạc bà/Nào là Ưng Khuyển, nào là Sở Khanh.”6-“Nội đao”là quân cầm đao, cầm búa, đứng hầu cận. Có bản viết “Lệnh quân truyền xuống khai đao.
-172-
2395. Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi.
.
.    .
Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội vã gởi lời từ qui .
Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
2400. Cố nhân đã dễ mấy khi bàng hoàng(1).
Rồi đây bèo hợp mây tan,
Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu(2) !
Sư rằng: Cũng chẳng mấy lâu,
Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
2405. Nhớ ngày hành cước phương xa(3),
Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri .
Bảo cho hội họp chi kỳ,
Năm nay là một nữa thì năm năm .
Mới hay tiền định chẳng lầm,
2410. Đã tin điều trước ắt nhằm điều sau .
Còn nhiều ân ái với nhau(4),
Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?
Nàng rằng: Tiền định tiên tri,
Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai .
2415. Họa bao giờ có gặp người,
Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân .
Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài .
Nàng từ ân oán rạch ròi,
2420. Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
1-Xem số 6 tr 94: “bàn hoàn”là lưu luyến, quấn quit, không nỡ bỏ ra, không nỡ dứt ra. 2-Do câu “Dã hạc sơn vân”là con hạc ở ngoài đồng, đám mây ở trên nui, là nay đây mai đó như chim hạc ở ngoài đồng, đám mây ở trên núi. 3-“Hành cước ”là đi bộ, những người đi tu thường hay dùng tiếng ấy. 4-Có bản viết “Còn nhiều ơn nghĩa.
-173-
Tạ ân lạy trước Từ công:
Chút thân bồ liễu mà mong có rày !
Trộm nhờ sấm sét ra tay,
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi !
2425. Chạm xương chép dạ xiết chi(1),
Dễ đem gan óc(2) đền nghì trời mây !
Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
2430. Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ mới là tri ân .
Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa .
2435. Sao cho muôn dặm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng.
Vội truyền sửa tiệc quân trung,
Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan(3).
Thừa cơ trúc chẻ(4) ngói tan(5),
2440. Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài .
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi cơn gió quét(6) mưa sa,
2445.Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam(7).
1-Có bản viết “Khắc xương chép da xiết chi.”2-Bỡi chữ “Can não đồ địa”là gan óc lầm xuống đất, nghĩa là nói dù chết cũng chưa trả được ơn. 3-Theo bản chữ là mở hội tẩy oan cho Kiều. 4-“Trúc chẻ”là bởi chữ: “phá trúc”nghĩa là chẻ cây trúc. Cứ chẻ một đốt thì cả cây trúc tách đôi ra. 5-Ngói tan bỡi chữ  ngọa giải”là ngói sụt. Một mái ngói đã có mấy viên sụt thì cả mái sụt cả. Nghĩa đánh đâu được đấy. 6-Có bản viết “gió táp mưa sa.” “Gios táp”là gió thổi mạnh. 7-Có bản viết “năm tòa Hải Nam.
-174-
2445. Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những loài giá áo túi cơm sá gì(1) !
Nghênh ngang một cõi biên thùy,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương(2) !
Trước cờ ai dám tranh cường,
2450. Năm năm hùng cứ một phương hải tần(3).
.
.    .
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài.
Đẩy xe(4) vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiểu(5) việc ngoài đổng nhung(6).
2455. Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân làm chước chiêu an,
Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng(7).
Lại riêng một lễ với nàng,
2460. Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân.
Tin vào gởi trước trung quân,
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!
2465. Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
1-Do câu “y giá phạn nan”là những đồ tầm thường. Thân như cái giá để mắc áo, ruột như cái túi đê đựng cơm. 2-Thường thường những bậc bá vương hay tự xưng là “cô”hay là “quả nhân”là lời nói khiêm nhường. 3-“Hải tần” là bãi bể hay mạn bể. 4-“đẩy xe”là bỡi chữ “thôi cốc”là đẩy cái xe. Đời xưa khi tướng nđi đánh giặc, vua tiễn ra đến cữa thành và lấy tây đẩy cái xe của ông tướng ngồi tỏ ý vua ủy thác việc ra đánh dẹp ở ngoài biên cho ông tướng. 5-Bát tiểu là dẹp giặc. Có bản viết là “phủ tiểu. đổng nhung”là  chủ việc quân.6-“Chiêu an”là dụ hang.  7-Bản kinh viết “phong thư đồ lễ sai quan thuyết hang.
-175-
Áo xiêm buộc trói lấy nhau(1),
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thùy,
2470. Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
2475. Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
2480. Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.
2485. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa(2).
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng: Ơn Thánh đế dồi dào(3),
2490. Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu.
Bình thành(4) công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
1-Có bản viết “ràng buộc lấy nhau.”Lại có bản viết “đùm bọc lấy nhau.”Nhưng chữ “đùm bọc”e không đúng vì 2 chữ ấy có nghĩa “bênh vực.”Có bản viết “E dè gió giập, hải hùng sóng va.”3-Có bản viết “Rằng: trong thành trạch dồi dào.”4-Do chữ “bình thiên thành địa”nghĩa là sửa sang nên việc cho trời đất.
-176-
Ngẫm từ gây việc binh đao,
Đống xương Vô định(1) đã cao bằng đầu.
2495. Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào(2)!
Sao bằng lộc trọng quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua(3)?
Nghe lời nàng nói mặn mà,
2500. Thế công Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh.
.
.   .
Tin lời thành hạ yêu minh(4),
Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng.
2505. Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công(5).
Kéo cờ chiêu phủ(6) tiên phong,
2510. Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục(7) ra đầu cửa viên.
1-Bài thơ tuyệt cú của Trần Đào đời vãn Đường có câu “Khả liên vô định hà biên cốt”là khả thương đống xương ở bên sông Vô Định. Vô Định hà là song chạy từ tĩnh Tuy Viễn qua phủ Diên An ở Thiểm Tây vào song Hoàng Hà. Vì có nhiều  cát, chỗ nông, chỗ sâu nên mới gọi là Vô Định. Ngày xưa quân Tàu đánh Hung Nô ở đây chết nhiều lắm. 2-Xem số 4 tr 162: Thơ của Hoàng Sào, tướng giặc đời Đường có câu “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy”là nửa vai đeo cung kiếm có trời cho, một  chèo đi khắp non song trên đất. 3-Ý câu này nói muốn lập công danh thì chỉ có một lối theo về với triều đình mà thôi. 4-“Thành hạ yêu minh”là 2 bên đến dưới thành giao ước hòa với nhau. 5-“Khắc cờ”là hẹn giờ. “Tập công”là đánh úp. 6-Cờ “chiêu phủ”là cờ dụ hang và vỗ về quân sĩ cho về an cư lạc nghiệp. “Đầu”là đầu hang.
-177-
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ(1).
2515. Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
2520. Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Trơ như đá vững như đồng(2),
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời.
Quan quân truy sát đuổi dài(3).
Hằm hằm sát khí ngất trời ai đang.
2525. Trong hào ngoài lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: Trí dũng có thừa,
2530. Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!
Dòng thu như xối cơn sầu(4),
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
2535. Lạ thay oan khí tương triền(5)!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.
Quan quân kẻ lại người qua,
Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân(6),
2540. Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han.
1-Có bản viết “Bốn bên dựng cờ.”2-Có bản viết “Rắn như đồng”3-bản kinh viết “Quan quân thừa thế đuổi dài.”4-Có bản viết “như giội cơn sầu”hay “như chảy mạch sầu.”5-“Tường triền ”là quấn quit với nhau. 6-Bản kinh viết “Mới đem vào nộp trung quân.
-178-
Rằng: Nàng chút phận hồng nhan(1),
Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương!
Đã hay thành toán miếu đường,
Chấp công(2) cũng có lời nàng mới nên.
2545. Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào?
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
Rằng: Từ là đấng anh hùng,
2550. Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi!
Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
2555. Năm năm trời bể ngang tang(3),
Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không(4).
Khéo khuyên kể lấy làm công,
Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít tội nhiều,
2560. Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho tiện thổ một đôi(5),
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.
Hồ công nghe nói thương tình,
Truyền cho kiểu tang(6) di hình bên sông.
1-“Thành toán miếu đường”là câu chữ có nghĩa là mưu mẹo đã định trước ở chốn miếu đường, tức chỗ triều đình. 2-“Chấp công”là lập công. 3-Do câu “ngang tàng nhất trượng phu”là người đàn ông chí khí ngang dọc trong đời. 4-Có bản viết “Thoắc đem mình bỏ chiến trường như không.”5-Bỡi chữ “thiển thổ nhất đôi”là một đống đất nông. 6-“Cảo táng”hay “Kiểu táng”là bọc cỏ mà chon.Nghĩa là chôn dối trá.
-179-
2565. Trong quân mở tiệc hạ công(1),
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan .
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say lại ép vặn đàn nhặt tâu .
Một cung gió thảm mưa sầu,
2570. Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay !
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tay, Hồ cũng nhăn mày rơi châu .
Hỏi rằng: Này khúc ở đâu ?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay !
2575. Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này,
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ .
Cung cầm lựa những ngày xưa,
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !
Nghe càng đắm đắm càng say(2),
2580. Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình !
Dạy rằng: Hương hỏa ba sinh(3),
Dây loan xin nối cầm lành cho ai .
Thưa rằng: Chút phận lạc loài,
Trong mình nghĩ đã có người thác oan .
2585. Còn chi nữa cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân(4) .
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần(5) là may!
1-Hạ công là tiệc mừng thắng trận. 2-Có bản viết “nghe càng đắm, ngắm càng say.”hay là “càng nghe, càng đắm, càng say.”3-do câu “Tam sinh hương hỏa”là 3 đời có thề ước lấy nhau. Có khi dung 2 chữ “lửa hương”để chỉ lời thề. 4-“Tiểu Lân”là vợ vua nước Tề sau lấy đại vương nhà Đường, nhân có làm bài thơ rằng “Dục tri tam đoạn tuyệt, ưng khán bất thượng huyền ”là muốn biết lòng đau như thế nào thì nên xem cái dây đứt. 5-“Gốc phần”là gốc cây phần. Xem số 6 tr 165: “tử phần”là quê nhà mình. Ở đây nói xin cho về quê hương.
-180-
Hạ công(1) chén đã quá say,
2590. Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra .
Nghĩ mình phương diện quốc gia,
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào .
Phải tuồng trăng gió hay sao,
Sự này biết tính thế nào được đây(2) ?
2595. Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài .
Lệnh quan ai dám cãi lời,
Ép tình mới gán cho người thổ quan .
Ông tơ thực nhé(3) đa đoan !
2600. Xe tơ sao khéo vơ càn vơ xiên ?
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao.
.
.   .
Nàng càng ủ liễu phai đào,
Trăm phần nào có phần nào phần tươi ?
2605. Đành thân cát dập sóng vùi,
Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh !
Chưn trời mặt bể lênh đênh,
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào,
Duyên đâu ai dứt tơ đào,
2610. Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay !
Thân sao thân đến thế này ?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi !
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương !
2615. Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi !
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong .
1-Xem số 1 tr179. 2-Bản kinh viết “Lỡ lời biết tính thế nào là hay.”3-Xem số 1 tr116: “nhé”là tiếng đệm dùng sau câu tỏ ý kêu, gọi
-181-
Triều(1) đâu nổi tiếng đùng đùng,
2620. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây !
Đạm Tiên nàng nhé có hay !
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta(2) .
2625. Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút(3) gọi là để sau .
Cửa bồng(4) vội mở rèm châu,
Trời cao sông rộng một màu bao la(5) .
Rằng: Từ công hậu đãi ta,
2630. Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại  đứng ở trong cõi đời ?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông !
2635. Trông vời con nước(6) mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng Tràng Giang
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc chìm hương cho rồi(7)
Thương thay cũng một thân người,
2640. Hại thay mang lấy sắc tài làm chi !
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!
1-“Triều”là nước thủy triều. 2-Có bản viết “Hẹn ta, thì phải dưới này rước ta.”3-“Tuyệt bút là bài văn làm lúc sắp chết để lại. 4-Cữa bồng là cữa thuyền. Có bản viết “cữa phòng”tưởng là nhầm vì đây ở dưới thuyền. 5-Bao la là mênh mông, rộng rãi.6-Nhà thuyền chày hay gọi kỳ nước lên là con nước. 7-“cho rồi”ở đây cũng như nói mất rồi. Chữ “cho”dung như trong câu “làm cho mau”, “nói cho khéo.”Có bản viết “quá rồi”hay “vừa rồi
-182-
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi !
2645. Đời người đến thế thì thôi,
Trong cơ âm cực dương hồi(1) khôn hay .
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay,
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương!
X
Giác Duyên từ tiết giã màng,
2650. Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du(2).
Gặp bà Tam Hợp đạo cô(3),
Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng:
Người sao hiếu nghĩa đủ đường,
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi(4)?
2655. Sư rằng: Phúc họa đạo trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cõi phúc tình là dây oan.
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
2660. Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong(5),
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
2665. Ma đưa lối quỷ đem đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
1-Do câu “Ám cực dương hồi”là hết chỗ khổ rồi sướng. 2-“Vân du” là nói những người đi tu nay đây mai đó. 3-“Đạo cô”là tiếng gọi người đàn bà đi tu. 4-Có bản viết “Kiếp sau chịu những”hoặc là “gặp những.”5-Có bản viết “vậy nên những tính thong dong
  

Trang Liền Trước        Trang Liền Sau


0 nhận xét:

Đăng nhận xét