![]() | |
| Đế Quốc VN của Hoàng Đế(emperor) Bảo Đại |
Thời Quân Chủ độc lập,
quốc hiệu Đại Việt tồn tại trải qua 4 triều đại Lý, Trần, Lê.
Nhà Nguyễn dựng được một nước rộng gấp đôi Đại Việt, lấy quốc
hiệu là Việt Nam. Thế rồi người Pháp
sang, triều Từ Đức, nhà Nguyễn, ký Hòa Ước Bảo Hộ 1884 nhận sự bảo hộ của người
Pháp. VN mất độc lập.
Thời Cọng Hòa người Việt
vẫn giữ quốc hiệu Việt Nam với những tính từ kèm theo để chỉ thể chế. Sự độc lập và ngày tuyên bố độc
lập của các thể chế hãy còn bàn cãi. VNDCCH cho ngày 2-9-1945 là ngày Độc Lập
do CT Hồ Chí Minh tuyên bố. Tiếp theo CHXHCNVN tiếp tục cho ngày ấy là ngày Độc
Lập. Sau 71 năm cầm quyền(1945-2016) của thể chế, sự Tự Do, Độc Lập hãy còn tranh
cãi. Nhiều người xét lại để nghiệm ngày Độc Lập của Việt Nam là ngày nào.
Phe bác bỏ, nói ngày 2-9-1945 chỉ là ngày tuyến bố lập thể chế
mới là lập ra nước VNDCCH mà thôi. Bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh viết : “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã
thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng
Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”Phe
này lập luận VN chưa độc lập vì còn bị nhật đô hộ.
Phe bác bỏ nói Tuyên bố Việt Nam độc lập đã được hoàng đế vua Bảo Đại tuyên bố rồi. Bản
Tuyên cáo viết: “Cứ theo tình hình chung
trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày
này Hòa Ươc Bảo Hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền Độc Lập. ”
“Nước Việt Nam sẽ gắng
sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn
chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng
thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản
trong nước để cho đạt được mục đích như trên. Khâm thử. Ngày 27 tháng Giêng năm
thứ 20 triều Bảo Đại.
Phe bác bỏ lập luận VNDCCH không lật đổ vua và chính phủ Trần
Trong Kim mà nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại nhường chính quyền cho mình, chịu nhận ấn kiếm của
triều vua này. Như vậy VNDCCH đã nhận thành quả của triều vua nầy là VN đã tuyên
bố độc lập với Pháp rồi. Ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại mới là
ngày Việt Nam Độc Lập. Còn độc lập với Nhật như thế nào thì hãy đọc hồi ký “Một Cơn Gió Bụi” của Lệ Thần Trần Trọng
Kim(TTK). Đọc giả sẽ hiểu được một phần nào sự độc lập với Nhật. Liệu sự độc lập
của chính phủ Trần Trọng Kim có hơn sự độc lập của VNDCCH và của CHXHCNVN sau
đó đối với các cường quốc đương thời hay không? Từ đó đọc giả sẽ tự đánh giá mà
chọn ngày VN độc lập là ngày 27 tháng Giêng hay 2-9 năm 1945.
Ta có thể nói VN chưa độc lập với
Nhật vì câu chữ trong đoạn cuối của bản văn vua Bảo tuyên bố. “…và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc
thịnh vượng chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản
đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt
được mục đích như trên.”
Nhưng ta tin VN độc lập với Nhật vì Nhật còn
bận đánh nhau với Đông Minh chưa chính thức đặt nền đô hộ lên VN và tin chính phủ mới độc lập với Nhật do tư cách
và lòng thành với nước của người đứng đầu chính phủ và thành viên nội các này.
Trong hồi ký TTK kể năm 1944 vì sợ
Pháp bắt, Nhật đưa ông vào ở khách sạn của hiến binh Nhật. Dương Bá Trạc cũng
được đưa về đây. Họ đề nghị Nhật đưa họ ra nước ngoài để liệu có làm được gì
cho đất nước hơn hay là không. Nhật đưa họ về Saigon để sang Chiêu Nam
Đảo(Singapore) tháng Giêng năm 1944. Đặng
Văn Ký và Trần Văn Ân đã có mặt từ trước. Ở hơn một tháng không thấy gì cả. Những
người mà Nhật hứa đưa đến đây cũng chẳng thấy ai đến. Từ tháng 4 đời sống trở
nên thiếu thốn khó khăn. Dương Bá Trạc lâm bệnh phải vào nhà thương. Khoảng
tháng 9 họ xin về Bangkok. Tháng Chạp có lệnh từ Đông Dương cho ông và ông
Dương sang BangKok. Vì ông Dương bệnh nặng nên việc đi không thành. Ngày 12
tháng Chạp ông Dương mất. Ông(TTK) lại viết thư về Saigon xin cho ông và Trần
Văn Ký về Bangkok. Trần Văn Ân ở lại. Ông ôm hộp hài cốt ông Dương đi xe lủa
mất 10 ngày đến Bangkok ngày 24 tháng Giêng 1945. Họ gặp 2 con của Cường Để và
Nguyễn Văn Sâm. Sau đó Nguyễn Văn Sâm đến cùng ở chung thành năm người ở một
phòng. Đến ngày 10-3-1945 được tin Nhật lật đổ Pháp. Ho chẳng nghĩ gì cả, chỉ
mong người Nhật cho họ về nước. Thấy cách người Nhật đối xử với người bản xứ,
ông(TTK) thất vọng. Ông bắt đầu suy nghĩ. Bốn năm qua Pháp cho Nhật vào đóng ở Đông
Dương, giúp cho mọi tiện lợi. Cớ sao Nhật đánh Pháp? Có phải Nhật ép Pháp họp tác với họ để thu
mọi điều tiện lợi về chiến tranh. Cuối cùng đến thắng lợi thì tự nhiên chính
trị ở Đông Dương sẽ được giải quyết theo ý của họ. Vì thế trong bốn năm đóng ở
Đông Dương Nhật không khiêu khích Pháp. Anh Mỹ phản công. Nhật thấy nguy đến nơi
rồi. Lật đổ Pháp là phòng Đồng Minh(ĐM) đổ bộ lên Đông Dương. Pháp đã ngầm tổ
chức kháng chiến để ủng hộ ĐM.
Đến 29-3-1945 viên trung úy Nhật
từ Saigon đến Bangkok báo có máy bay đên đón họ về. Sau đó ông ngạc nhiên biết
chỉ một mình ông(TTK) về. Hỏi ra viên trung úy bảo Tư Lịnh Bộ ở SG mời ông(TTK)
về hỏi gì về lịch sử. Sáng 27 đi máy bay về SG. Ăn trưa rồi vào bộ tư lịnh gặp
trung tướng(TT) tham mưu trưởng. TT nói ông Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã
từ chức cả rồi. Vua Bảo Đại điện mời mấy người này về Huế hỏi ý kiến. TT đưa
xem danh sách có tên Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân
Hãn, Cao Xuân Cẩm. Ông(TTK) ngạc nhiên thấy có tên ông mà không có tên Ngô Đình
Diệm. Trong chương 2 của hồi ký, ông(TTK) có đề cập tới việc ông Dương Bá Trạc
quen Cường Để và nghe nói Cường Để ủy quyền cho Ngô Đình Diệm và Huỳnh Thúc
Kháng tổ chức mọi việc. Ông nói với viên TT là ông không có hoạt động gì và
không ở trong phe đảng nào. Gọi ông về Huế có ích gì. Ông xin cho về Hà Nội để
thăm nhà và uống thuốc. TT nói đó là ý của Bảo Đại muốn hỏi ông về vì việc lập
chính phủ mới. Cứ về Huế rồi sẽ biết. Thấy có tên Hoàng Xuân Hãn là người quen
lâu nên nghĩ có thể sẽ rõ sự tình và ra Huế rồi về Hà Nội cũng tiện đường đi.
Ông chịu ở tạm Saigon vài ngày rồi về Huế. Ông hỏi thăm ông Ngô Đình Diệm(NĐD)
và Nguyễn Xuân Chữ(NXC) là người được Nhật đưa vào Chợ Lớn mấy tháng trước thì được
biết NĐD thì về Vĩnh Long ở với ông anh. NXC thì về Hà Nội vài hôm nay rồi. Ông(TTK)
nghĩ 2 người này được Nhật chú ý đến và có tổ chức đảng phái mà sao Nhật không
nói gì hết. Đang nghĩ thi NĐD đến. Ông Diệm nói sao người Nhật không nói ông
biết việc lập chính phủ mới. Ông Diệm nói ông vào bộ tư lịnh có chút việc rồi
sáng mai về Vĩnh Long. Trần Trong Kim(TTK) lý giải Nhật bỏ rơi phe Cường Để(phe
ông Diệm) là về đường chính trị, sợ đưa Cường Để về bất tiện hơn, để vua Bảo
Đại thì có lợi hơn.
Ông ở lại SG 3 ngày, nhờ LS Trịnh
Đình Thảo dẫn đến thăm anh vợ ông là Bùi Khải. Mùng 2 tháng 4 ông đáp xe lữa
tới Huế vào lúc 10g30 ngày mùng 5-4. Lãnh sự Nhật Urabe đến đón đưa về nhà tối cao cố vấn Nhật Yokohama. Đến tối thì gặp
Hoàng Xuân Hãn. Ông gặp lại vợ con ở Huế trên đường đi tìm cha ở Bangkok. Ông
chờ yết kiến vua Bảo Đại rồi xin về Hà Nội. TTK nói trước đây ông không biết
nhiều về Bảo Đại ngoài hình ảnh ông vua chán ngán chỉ biết lấy săn bắn làm vui.
Khi vào yết kiến ngày 7-4-1945 ông(TTK) thấy vua có vẻ trang nghiêm và nói
những điều rất đúng đắn. Vua nói Pháp trước kia giữ quyền bảo hộ nước ta, nay
không giữ được nước, để Nhật đánh đổ. Vậy những điều ước năm 1884 không có hiệu
quả nữa. Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp
ước ấy. Vua phải đứng vai chủ trương việc nước, lập chính phủ để đối phó mọi
việc. Ông tâu với vua rằng việc lập chính phủ nên dùng những người có ý định từ
trước và có tổ chức sẵn sàng như Ngô Đình Diêm(NĐD). Ông vì già yếu bịnh tật, không
có đảng phái, và không hoạt động về chính trị nên xin vua cho về nghỉ. Vua nói
có điện cho cả NĐD nhưng sao không thấy về. Ông tâu nói có gặp NĐD khi qua SG.
NĐD nói sao không thấy người Nhật nói gì cả. Có sự sai lạc gì chăng? Ông tâu bảo
vua điện lần nữa bảo ông ấy về, còn ông xin vua cho ra Bắc. Vua bảo hãy ở đây
ít lâu rồi ra Bắc. Ông(TTK) nói ông mệt nhọc lắm và nói có mấy người như Hoàng
Xuân Hãn bảo ông ở lại. Ông chở 10 ngày, thỉnh thoàng đến hỏi ông tối cao cố
vấn Nhật(TCCVN) có tin về ông Diêm chưa.
Trước thì TCCVN nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau thì nói ông Diệm đau
chưa về được. Bảo Đại sốt ruột triệu ông(TTK) vào bảo ông chịu khó lập chính
phủ. Vua nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa
phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập.”Vua
nói tiếp. Không có chính phủ người Nhật bảo ta bất lực. Họ lập cách cai trị
kiểu nhà binh có hại cho ta. Vì nghĩa vụ ông(TTK) cố lập chính phủ lo việc
nước. Ông thấy vua thông minh và am hiểu tình thế. Ông trả lời vì quyền lợi
riêng ông không dám nhận. Nhưng vì nghĩa vụ đối với nước ông cố hết sức. Ông
xin vua để cho vài ngày ông tìm người. Ông bàn với Hoàng Xuân Hãn. Nguyên tắc
lựa với 2 điều kiện. Cỏ đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị. Hai là có đủ
đức hạnh chắc chắn để dân kính phục. Như vậy lựa rất khó vì người mềm lưng khéo
thù phụng mới được ngôi cao quyền cả. Người ngay chính thì ẩn nấp ở đâu đâu. Người
xu danh trục lợi thì rất nhiều nhưng không đương nổi việc khó khăn như ngày
nay. Ông(TTK) nói rõ là khi ông chọn người, người Nhật Bản không hỏi ông chọn
người này người kia. Ông hoàn toàn tự
chủ mà chọn người làm việc. Ông định từ trước nếu Nhật can thiệp vào việc trong
nước thì ông thôi ngay, không làm nữa. Cuối cùng chọn được nghững người sau
đây:
GS Trần Trọng Kim(Nội Các Tổng
Trưởng), Y sĩ Trần Đình Nam(Nội Vụ Bộ Trưởng), LS Trần Văn Chương(Ngoại Giao Bộ
Trưởng), LS Trịnh Đình Thảo(Tư Pháp Bộ Trưởng), thạc sĩ toán Hoàng Xuân Hãn(Giao
Duc và Mỹ nghệ Bộ Trưởng), LS Nguyễn Văn Hiền(Tài Chánh Bộ Trưởng), LS Phan
Anh(Thanh Niên Bộ Trưởng), KS Lưu Văn Lang(Công Chánh Bộ Trưởng), BS Vũ Ngọc
Anh(Y Tế Bộ Trưởng), BS Hồ Bá Khanh(Kinh Tế Bộ Trưởng), cựu y sĩ Nguyễn Hữu
Thi(Tiếp Tế Bộ Trưởng). Khoảng 10g sáng 17-4-1945 ông trình danh sách lên vua
Bảo Đại. Vào đến nơi thấy có mặt ông cố vân tối cao Yokohama. Vua xem và phán
“được.” Yokohama xin cho xem là những ai. Trả lại danh sách, Yokohama chúc mừng
ông đã chọn những người rất đứng đắn. Lập xong và họp hội đồng chính phủ, ông
muốn đặt chức Nội Các Phó Tổng Trưởng phòng thay thế ông. Ông cử ông Chương sung chứ ấy. Cả nội các
chấp thuận.
Ông nghĩ vua Bảo Đại đã đứng lên
tuyên bố độc lập thì nghĩa vụ của mỗi người dân là cố làm việc giúp
nước. Tình thế thay đổi như thế nào sẽ
có điều chỉnh cho đúng công lý và đúng phong trào hiện thời. Vì thế ngay lúc
đầu, trong lời tuyên bố của chính phủ ông nói những việc quốc dân phải lo để
gây lại nền tự chủ nước nhà mà thôi chứ không nói việc chiến tranh của nước
Nhật với Đồng Minh để tránh người Nhật lôi kéo người mình vào cuộc chiến của
họ.
Lúc mới lập chính phủ, bao nhiêu
chính quyền người Pháp giữ và việc cai trị ở các tĩnh đều do viên cố vấn tối
cao Nhật(CVTCN) tạm thời quyết định. Văn
thư và tờ trình ở các tĩnh đều gửi qua phòng của CVTCN. Dinh thự các bộ trưởng, thượng thư cũ dột nát
dơ bẩn không ở và làm việc được, phải lo chỗ ở và nơi làm việc của nội các mới.
Đoạn kể vua thoái vị và thủ tướng ra vĩ dạ ở nhà thuê. Ông(TTK) chứng minh
chính phủ Trần Trọng Kim không phải là chính phủ bù nhìn như tuyên truyền tố
cáo. Ông kể ngay khi lập xong nội các ông cùng Hoàng Xuân Hãn đi đòi lấy lại
dinh khâm sai, khâm sứ cũ của Pháp. Yokohama lúc đầu do dự vì thấy công chức Nhật
cản trở. Ông quả quyết nói không chịu trả thì ông thôi ngay. Không phải vì muốn
dinh lớn nhưng đó là biểu tượng của sự tự chủ như lời hứa của Nhật. Yokohama
chịu trả và xin để mấy phòng trên lầu cho nhân viên sở tối cao cố vấn.
Từ đó về sau mỗi khi có việc ông gọi điện mời viên cố vấn qua dinh nội các thay
vì ông(TTK) sang bên ấy. Việc này cả Huế ai cũng biết. Ông cũng bác ý muốn của nhiều
người Nhật nói VN làm điều chi quan hệ thì phải hỏi trước viên tối cao cố vấn.
Ông viện lẽ nội trị là việc của chúng tôi(TTK). Việc hệ trọng chỉ thông báo là
đủ. Ông nói ông Yokohama là người thạo việc ngoại giao và am hiểu tình thế nên
mọi việc đều êm ái ổn thõa.
Khi còn Pháp bảo hộ có hai chính
phủ. Chính phủ bảo hộ định đoạt việc chính trị. Chính phủ Nam triều thi hành
mệnh lệnh. Nay họp nhất hai chính phủ này, bắt các quan ở các tĩnh chỉ
được trực tiếp với chính phủ Việt Nam mà thôi, cấm không cho gửi văn thư về sở
tối cao cố vấn Nhật nữa. Trần Trong Kim(TTK) viết nói “may lúc đó được viên tối cao cố vấn Nhật là ông Yokohama, một người am
hiểu tình thế và nhã nhặn, cho nên mọi việc cũng giải quyết được dễ dàng. ”Mất
một tháng mới đem lại sự sửa đổi thống
nhất cai trị. Còn các cơ quan trọng yếu
như công an, sở tuyên truyền công văn hãy còn ở trong tay người Nhật cả. Quan
các tĩnh quen thi hành mệnh lệnh của người Pháp. Muốn thay đổi các quan có tư
cách làm người công chức của một nước tự chủ rất khó. Việc chính trị là một
việc rất phức tạp, cần phải có nhiều lịch duyệt và tài cán mới làm được. Nay
muốn thay đổi các quan lại, thì phải từ từ lựa chọn nhân viên cho xứng đáng, Phải từ từ
lựa chọn. Đem người mới vào làm dở hơn người cũ thì chỉ có làm rối việc, không
ích gì mà còn
làm điên đảo hết cả. Việc hệ trọng là lo sự vận tải lúa gạo trong Nam ra cứu
đói miền Bắc. Việc hệ trọng thứ 2 là binh bị. Huế có hơn 100 lính bảo an tức
lính khố xanh và có sáu bảy chục súng cũ đạn cũ. Việc phòng bị do Nhật đảm
nhiệm hết. Vì lẽ đó và lẽ khác nội các mới không đặt bộ quốc phòng vì nó chỉ có
danh chứ không có thực. Nhật có thể lợi dụng bắt lính của mình đi đánh giặc cho
họ. Lý do khác là trước khi có đủ quân và binh khí thì hãy nên lo tinh thần
binh bị cái đã. Tránh việc làm hớ hênh hại cho dân, cho nước. Không có bộ Quốc
Phòng mà có Bộ Thanh Niên lập ra các đạo Thanh Niên Tiền Tuyến. Một ngày kia sẽ
có đội quân mạnh mẽ.
Chính phủ lấy việc dân sinh làm trọng. Về việc
lập quốc kỳ và quốc ca. Dùng bài Đăng Dàn Cung có từ trước làm quốc ca. Có kiểu cờ
vàng có quẻ ly ở giữa có ý nghĩa hơn cả nên chọn mẫu cờ đó.
Việc chính trị ở Trung Bộ dần dần rõ rệt. Việc
ở Băc và ở Nam Bộ còn ở trong tay người Nhật, phải lo thu hồi về một mối. Sự
thu hồi khó khăn. Nhật bằng lòng trả đất Bắc Bộ. Đất thuộc 3 thành thị Hà Nội,
Đà Nẵng, Sài Gòn và Nam Bộ ngày trước đã ký cho Pháp thì Nhật đòi tạm giữ lại, sẽ
trả sau. Chính phủ viễn lẽ Nhật đánh Pháp là giải phóng cho VN và vua Bảo Đại
hủy hiệp ước đã ký với Pháp tất nhiên Nhật phải trả toàn lãnh thổ. Nay không
trả là trái với lời hứa. Dự định của chính phủ là chính phủ trung ương nhiếp
thống hết những cơ quan quan hệ đến cuộc chính trị chung cả nước như quốc
phòng, tài chánh, ngoại giao, giáo dục…Còn đường cai trị thì chia cho cơ quan địa phương
như Bắc Bộ Địa Phương, Trung Bộ Địa Phương và Nam
Bộ Địa Phương tự trị về cai trị và kinh tế. Các cơ quan hành chính địa phương
do chính phủ trung ươn chọn người bản xứ cử ra và có các nhân vật hội nghị kiểm
duyệt trong khi chờ hiến pháp và tuyển cử phân minh. Chính sách địa phương tự
trị tiện lợi và hợp với tình thế từng xứ về đường cai trị và kinh tế mà không
hại gì cho sự thống nhất nước nhà.
Khi Nhật trả đất Bắc Bộ, chính phủ cử ông Phan
Kế Toại, đã làm chức Tổng Đốc, ra sung chức Bắc Bộ Khâm Sai. Nhật vẫn còn giữ đất thành thị Hà Nội, Hài Phòng,
Đà Nẵng xứ Nam Bộ, giữ hết cơ quan trọng yếu như sở công an, sở tuyên truyền và
công sở thuộc phủ Toàn Quyền cũ.
Thế rồi có tiếng nói ra nói vào. Ông mệt nhọc
mấy lần muốn từ chức. Ông muốn ra Hà Nội trực tiếp gặp tổng tư lịnh Nhật kiêm
chức Toàn Quyền cũ của Pháp xem tình ý như thế nào rồi liệu. Trước đó nhờ tổng
trưởng ngoại giao Trần Văn Chương ra Hà Nội điều đình nhưng không xong. Ông
định phen này ra. Nếu điều đình được thì lấy ngay 3 thành thị Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng và đất Nam Bộ là làm trọn nhiệm vụ thu toàn vẹn lãnh thổ. Không xong thì xin từ chức. Trong khi dự định
ra Hà Nội thì xảy ra việc Nhật bắt bọn thanh niên Việt Nam theo đảng Việt Minh
chống Nhật. Ông cần ra ngay để hiểu tình thế. Ông ra Hà Nội cùng với ông
Yokohama, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiến, Phan Anh, phòng khi điều đình ổn thỏa
thì lấy lại các công sở. Đi đường rất khó khăn vì máy bay Mỹ đánh phá. Vũ Ngọc
Anh về thăm nhà ở Thái Bình bị máy bay bắn chết. Nội các mất một bộ trưởng. Ra
Hà Nội hôm trước thì hôm sau ông gặp Tsuchi Hashi Yuitsu, tổng tư lịnh Nhật. Cuộc
điều đình chỉ có 3 người ông, Yokohama, Tsuchi Hashi Yuitsu. Yokohama thông
dịch bằng tiếng Pháp. Ông(TTK) nói Nhật đánh Pháp hứa hẹn trả nền tự chủ cho
VN. Bỡi vậy ông không quản tuổi già và sự khó khăn đứng ra lập chính phủ, một
lòng giúp nước ông, cũng như các ông(người Nhật) lo giúp nước Nhật, thế mà
nhiều người nói nọ nói kia rất khó chịu, nếu các ông(người Nhật) cho ông(TTK)
là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy
không phải phận sự của ông(TTK), ông sẵn lòng xin lui. Tổng tư lịnh Nhật(TTLN) nói bao giờ Nhật cũng
giữ lời hứa nên việc nội trị trong nước không can thiệp đến. Những việc chưa
giải quyết được vì cần có thì giờ để thu xếp ổn thỏa. Cụ đừng nghe người Nhật
hay người Việt Nam nói nhảm không có căn cứ gì. TTLN nói tiếp: Vả tôi phụng
mạng Thiên Hoàng sang đây. Việc gì cũng trách cứ tôi. Cụ đừng ngại. Ông(TTK)
đáp. Như ngài nói thế, thì phận sự của chính phủ chúng tôi là phải thu lại mấy
thành thị Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn hạt đất Nam Bộ cho nước Việt Nam.
Nếu việc ấy không xong thì chúng tôi đối
với quốc dân thì không có nghĩa lý gì cả. TTLN đáp lại: Chúng tôi bao giờ cũng
định trả lại nhưng sợ các ông chưa xếp đặt sẵn sàng, nên trì hoãn ít lâu. Ông(TTK)
đáp lại: chúng tôi vẫn sẵn sàng. Chỉ còn đợi quyết định của các ông mà thôi.
Đáp lại, TTLN nói cụ định bao giờ lấy
lại? - Nếu ngài bằng lòng thì tôi xin lấy ngay bây giờ. Nghĩ một lúc, rồi TTLN nói:
sáng ngày kia, lúc 11 giờ cụ cho làm lễ
thu nhận 3 thành thị ấy. Còn Nam Bộ thì có nước Cao Miên còn lôi thôi về
mấy tĩnh biên giới. Ông(TTK) nói việc ấy không thành vấn để vì địa giới ngày
nay và trước kia không thay đổi. Phận sự của chúng tôi phải lấy lại toàn lãnh
thổ. Còn Cao Miên muốn nói về việc ấy thì sẽ nói chuyện với chúng tôi. Theo tôi
nước Cao Miên thừa cơ muốn chiếm ít đất. Như thế làm mất cái tình thân thiện
của 2 nước lân bang. Không đời nào Việt Nam chịu. TTK kể tiếp: TTLN hết viện lý
do này đến lý do khác nên phải điều đình hết một ngày mới chịu trả đất Nam Bộ. Ông(TTK) nói từ ngày ra Hà Nội ông thấy
người Nhật nói chuyện hòa nhã cung kính, chẳng có gì trịch thương gai ngạnh. Họ
hỏi ông bao giờ cụ vào nhận đất Nam Bộ hay cử ai đi. Nghĩ bụng việc khó khăn
này ông phải đi mới được nên trả lời. Về Huế tâu bày hoàng thượng rồi khoảng
mùng 8 tháng 8 là tôi đã ở Saigon. TTLN nói hôm ấy ông cũng vào để xếp đặt mọi
chuyện cho xong. Ông(TTK) kể tiếp việc lấy
lại toàn lãnh thổ VN coi như quyết định xong. Tiếp theo là đòi lấy lại công
sở thuộc Đông Dương. TTLN viện lý do còn 2 nước kia của ĐD. Điều ông(TTK) quyết
định đòi cho được là bãi bỏ chế độ phủ toàn quyền cũ mới hợp cái nghĩa tự chủ
của 3 nước ĐD. Đàm phán hơn một ngày chi tiết trao trả hết thảy các công sở cho
VN. Về sở công an, vì còn chiến tranh nên Nhật xin để riêng mấy phòng cho họ
họp tác với VN. Vì lúc đầu lắm sự khó khăn nên ông(TTK) đồng ý nhượng bộ. Hôm
nay là ngày mồng 2 tháng 8-1945. Ngày thu nhận các công sở là ngày 15-8. Ông
nói điều đình dễ dàng không biết vì Nhật thấy mình sắp bị thua trận muốn lấy lòng
người VN hay vì lý do gì khác nữa. Việt Minh nay đánh chỗ này mai đánh chỗ kia
làm ông Phan Kế Toại(PKT) sợ luôn luôn xin từ chức. Vì nể ông(TTK) nên PKT chịu
nán ở lại chức.
Về Huế ông tâu bày với vua. Việc đi Nam có
nhiều trắc trở. Nội các chia rẽ. Nội các không có hòa khí như lúc đầu. Có những
chuyện nhỏ mọn ông không muốn nói ra. Trần Văn Chương(TVC) tranh công nói đàm
phán thành công ở Hà Nội là do ông đã điều đình với Nhật. Sự thật TVC làm mất
lòng người Nhật. TTK nói viên trung tướng tham mưu trưởng tư lịnh bộ Nhật ở
Đông Dương mà TTK đã gặp lúc ông từ Bangkok về SG đi từ Hà Nội vào Nam, khi đi
ngang qua Huế có gới cho TTK một lá thư bằng tiếng Nhật nhờ ông Yokohama dịch
ra tiếng Pháp đưa tận tay cho TTK, đại ý nói việc ông Bộ trưởng ngoại giao ra
Hà Nội không có kết quả vì ông ấy không biết giao thiệp, làm mếch lòng người
Nhật. TTK đưa thư ấy cho Hoàng Xuân Hãn và Phan Anh. Hồ Tá Khanh thì đưa thư
đại ý nói phong trào Việt Minh mạnh lắm. Nội các TTK nên thôi đi, để họ làm
việc may ra cứu được nước. Ông(TTK) nói thôi thì thôi nhưng để ông lấy lại đất
Nam Bộ cho trọn công việc của ông. Ông Trần Đình Nam thì nói nếu ông(TTK) đi
Nam thì ở Huế xảy ra việc không ai chịu
trách nhiệm. Đến ngày 8-8 ông(TTK) không đi Nam được. Tổng Tư Lệnh Nhật vào SG
không thấy ông(TTK), điện ra dục. Ông(TTK) điện trả lời là cứ cho lấy Nam Bộ,
ông không phải vào Nam nữa. Người Nhật ưng thuận. Lúc ấy có Nguyễn Văn Sâm vừa
ở SG ra Huế. Ông(TTK) vào tâu vua Bảo Đại cử ông Sâm làm Nam Bộ Khâm Sai ngày
14-8-1945. Nhật tuyên bố đầu Hàng ngày 15-8-1945. Các công chức(nhân viên của chính phủ TTK) ở Hà Nội nghe
Việt Minh xúi biểu tình (biểu tình ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17-8). Ngày
19-8-1945 đảng Việt Minh nhân cơ hội biểu tình chiếm lấy Bắc Bộ Phủ. Được mấy
ngày Hô Chí Minh(HCM) về làm chủ tịch lâm thời. Các đoàn thể thanh niên và các
người trí thức ở Bắc Bộ điện vào Huế xin vua Bảo Đại thoái vị nhường cho
HCM, Ngày 2-9-1945, HCM tuyên bố độc lập.
Trích dẫn một đoạn hồi ký để nhận định ngày VN
Độc Lập, tức ngày thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, là ngày nào? VNDCCH không đánh đấm
với một nước ngoại bang nào để thu hồi lãnh thổ, cũng không thương thuyết với
nước nào để thu hồi lãnh thổ vậy tuyên bố độc lập là độc lập với nước nào? Thông
thường mèo khen mèo dài duôi, xấu che, tốt khoe. Thậm chí có thể thêu dệt uốn
cong sự kiện lịch sử để tô vẽ cho mình. Ta có thể nghi ngờ chuyện kể nói trên.
Xét tổng thể chuyện kể ta có thể tin phần nào tính tự chủ của chính phủ Trần
Trọng Kim. Tư cách học giả, nhà giáo và nhà nho ta tin chuyện kể có thực. Vả lại
vì tác giả là nhà sử học nên ta có thể nghi qua ký sự, tác giả cung cấp sử liệu
cho đời sau để làm cho trang sử thêm sang rõ.
Nguồn gốc cờ vàng 3
sọc đỏ và Quốc Ca VNCH.
Thế rồi bánh xe lịch sử cứ lăn bánh. Đồng Minh(ĐM) vào Đông Dương giải giới quân Nhật.
Quân Pháp theo chân ĐM tái chiếm ĐD. Nội loạn xảy ra trong xứ. Đảng phái cọng sản
và không cọng sản đánh nhau. Vua Bảo Đại và thủ tướng(TT) TTK lui về Hà nội làm
công dân Vĩnh Thụy nói là của một nước VN độc lập tự do và TT thì nghỉ “hưu
trí.” Khi quân Tàu vào giải giới quân Nhật rút về nước thì các đảng không cọng
sản thất thế cũng rút qua Tàu rồi đến Hongkong. Bảo Đại và Trần Trọng Kim cũng
về bên ấy sống lưu vong. Năm 1946 ở trong Nam Pháp lập Cọng Hòa Tự Trị Nam Kỳ(CHTTNK)
với quốc kỳ là cờ vàng có 3 vạch màu xanh nằm ở giữa. Thủ tướng là BS Trần Văn
Thinh. Ông Thinh tự sát. BS Lê Văn Hoạch thay thế rồi đến lượt Đại Tá Nguyễn
Văn Xuân(10-1947/5-1948). CHTTNK không được người đời ủng hộ và không được ghi
vào sử sách vì Nhật đã trảo trả đất Nam Kỳ cho VN rồi và vua Bảo Đại đã cử ông Nguyễn Văn Sâm làm Nam Bộ Khâm Sai ngày 14-8-1945. Người Pháp xúi người Việt lập CHTTNK không ai nghe theo. Việc lập CHTTNK thất bại. Chiến tranh Pháp-Việt Minh
leo thang cường độ. Người Pháp tìm hậu thuẫn. Năm 1947 Giai pháp Bảo Đại ra đời để lập
chính phủ Quốc Gia không cọng sản thân Pháp để đương đầu với Việt Minh. Hội nghị
tại Hongkong, Bảo Đại triệu tập một số nhân sĩ, đại diện tôn giáo và đảng phái
lập ra Quốc Gia Việt Nam(QGVN). BS Nguyễn Tôn Hoàng đề nghị hội nghị lấy
bài Thanh Niên Hành Khúc của Lưu Hữu Phước làm Quốc Ca với tên gọi là "Quốc Dân Hành Khúc” hay “Tiếng Gọi Công Dân.” Hội nghị chấp thuận.
Thủ tướng QGVN là Nguyến Văn Xuân(5-1948/7-1949). Quốc kỳ là cờ vàng 3 sọc đỏ ở giữa.
Tiếp theo là thủ tướng Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu(5-1950), Nguyễn Văn
Tâm(6-1952), Bửu Lộc(1-1954), Ngô Đình Diệm(7-1954). Bảo Đại được tôn làm Quốc
Trưởng. Ngô Đình Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại lập ra VNCH(1955). Quốc Kỳ
vẫn là cờ vàng 3 sọc đỏ. Quốc ca vẫn lấy nền nhạc của bài hát “Tiếng Gọi Thanh Niên” của nhạc sĩ Lưu Hữu
Phước mặc dù tác giả là đảng viên Đảng Cộng Sản và đang ở Miền Bắc vì bài hát
đã thuộc sở hữu của nhiều hội đoàn từ thời Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương. Mời
xen videoclip Sinh Viên Hành Khúc.
Ngày 2-9-2016 Ongtampy.
Sinh viên Hành khúc
Hay Tiếng Gọi Thanh Niên là sáng tác của Lưu
Hữu Phước biến thể thành sáng tác của những tập thể. Năm 1939 Lưu Hữu
Phước(LHP) sáng tác nhạc. Lời tiếng Pháp và Việt của LHP và Mai Văn Bộ. Lời
tiếng Pháp nay không còn tìm thấy. Lời Việt có câu mở đầu “Này anh em ơi!
Chúng ta kết đoàn hùng tráng/Đồng lòng cùng nhau, ta đi kiếm nguồn tươi sáng.”Bài
hát được dùng cho câu lạc bộ học sinh Petrus Ký. Ra Hà Nội năm 1940 LHP sửa lại
chút đỉnh. Và năm này Nguyễn Tôn Hoàng, Trưởng Ban Âm Nhac của Tổng Hội(TH)
Sinh Viên Đông Dương, chọn làm bài ca cho TH và giao cho ủy ban soạn lời. Bảng
nhạc có tên là “Sinh Viên Hành Khúc.”
.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét