Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Ký Ức Về Trường Bồ Đề Tuy Hòa


"Bạn Có Biết"
"Tinh Bằng Hữu"
Thầy Hướng trường NH và học sinh Bồ Đề
Bức ảnhBạn Có Biết Không?” là bức ảnh được chụp hôm các cựu học sinh trường Nguyễn Huệ và Bồ Đề Tuy Hòa họp mặt đón mừng một bạn cũ từng du học ở bên Nhựt về thăm nhân Kỷ Niệm Phú Yên 400 năm(2011). Hôm đó chúng tôi hàn huyên tâm sự. Có 2 tên đang gân cổ lên mà cãi năm khai sinh ra trường Bồ Đề. Bức ảnh thứ 2 “Tình Bằng Hữu”từ Phải qua Trái là các bạn cựu HS Nguyễn Huệ khóa 1956-62 trong đó có bạn từ bên Nhựt về đang lắng nghe hai tên kia đang tranh cãi. Chuyện cũ có cái nhớ như in không thể quên được, có chuyện chỉ còn là hình bóng lờ mờ trong ký ức kể ra có khi nhầm lẫn sót sai, chủ quan theo ý người kể.
“Niên khóa đầu tiên khai sinh ra trường Bồ Đề là năm 1957-1958 thì chắc chắn nhớ không sai”. Niên khóa đó tôi học lớp Đệ Thất. Năm sau được sự khuyến khích của thầy Huỳnh Diệu và thầy Nguyễn Bá Quát, mấy đứa chúng tôi “nhảy lớp” lên học lớp Đệ Ngũ(58-59) rồi lên lớp Đệ Tứ(59-60). Niên khóa 1960-61 sang học lớp Đệ Tam trường Nguyễn Huệ rồi lên tới lớp Đệ Nhị(1961-62) thì hết cấp. Trường Võ Tánh Nha Trang đón chúng tôi vào học lớp Đệ Nhất năm 1962-63 và vào đại học thì gặp năm đảo chánh ông Diệm(1963). Nhớ rành rành không sai. Chứng chỉ, học bạ ghi nguyên si như thế.
“Bản Khai Sinh” vẫn còn và ghi năm tôi làm giấy khai sinh để được vào học lớp Đệ Thất trường Bồ Đề, năm 1957.  Uả! “Bản Khai Sinh”! Chuyện “Bản Khai Sinh” gây cho tôi một sự lạ lùng nên nhớ như in năm khai sinh để được đi học! Tôi hồi đó thắc mắc khai thì khai, ký chứng nhận thì ký như mọi thứ giấy tờ khác chứ việc gì phải ra tòa án việc Hộ để phán với xét! Tại sao không ghi Bản Khai Sinh hay Giấy Khai Sinh mà lôi thôi ghi Chứng Thư Thế Vì Khai Sinh? Thắc mắc ấy tiếp nối với thắc mắc lúc tôi học môn Quản Trị Học Đường trong trường Đại Học Sư Phạm SG. Sống thời Đệ Nhị Cọng Hòa mà vẫn còn thấy các văn bản dẫn từ thời Bảo Đại. Ngày nay tôi mới hiểu là nền Pháp Trị là như thế. Chính thể, chế độ có thể thay đổi còn kỷ thuật chuyên môn cai trị hành chánh thì không. Có 1 sự liên tục pháp lý giấy tờ căn bản chuyển giao êm thắm ví dụ như giấy Trích Lục ruộng đất, giấy tờ nhà ở đời Tây, đời Ta được tôn trọng và được chuyển giao không gây sốc và sự ngỡ ngàng, phản kháng, kiện thưa. Trở lại chuyện khai sinh. Thời Việt Minh không thấy nói đến khai sinh. Phan Ngọc Giang viết trong facebook bảo cháu ngoại cứ lấy ngày trong giấy tờ làm ngày sinh nhật cho ông. Hồi đó chẳng có khai sinh. Sinh nhật là thứ xa xỉ. Tám năm sau khi được đẻ, ông ngọai mới được khai sinh để được đi học thời VNCH. Kiểu ra tòa Việc Hộ để lấy chứng thư thế vì khai sinh. Hiện tại nhân viên hộ tịch VNCH không được phép cấp giấy khai sinh cho chúng tôi. Việc này phải mở phiên tòa để thể theo lời người khai, người chứng mà phán tình trạng hộ tịch cho 1 người chưa hề khai sinh hay thất lạc giấy khai sinh. Muốn chứng, muốn khai sinh ngày nào, con của ai, tên gì, ở đâu thì tùy “thân chủ”chứ phép tắc luật định là phải ra tòa Việc Hộ như thế. Hồi đó học sinh chúng tôi đi học đứa nào cũng có tình trạng khai sinh như vậy. Đó là 1 đặc trưng thế hệ học sinh thời chúng tôi đi học khác với con chúng tôi sau này đi học có Giấy Khai Sinh đàng hoàng thời VNCH. Để làm kỷ niệm 1 thời, tôi ghi nội dung chứng thư thế vì giấy khai sinh ra đây: “Việt Nam Cọng Hòa. Tĩnh Phú Yên. Tòa Hòa Giải Tuy Hòa. Việc thọ lý số…ngày…Phiên tòa ngày…Chứng Thư Khai Sinh số…Năm một ngàn chín trăm năm mươi bảy, ngày…tháng…Trước mặt chúng tôi Lê Văn Lan, Quận Trưởng kiêm Thẩm Phán Hòa Giải Tuy Hòa, có Lục Sự Nguyễn Nhật Tân giữ bút lục. Hiện có những người làm chứng đã trưởng thành có tên sau đây: 1, 2, 3 đã khai và ký nhận thực rằng có biết rõ em tên…vẫn mang tên ấy và biết cả em ấy sinh ngày…tại…là con của…Vậy theo đơn trình của ông…và theo lời chứng trên, cùng ở lời tin thề của những người làm chứng, chúng tôi cấp chứng thư này thay thế bản khai sinh chính thức để cho đương sự chấp chiếu. Làm tại văn phòng Thẩm Phán Tòa Hòa Giải Tuy Hòa, ngày tháng năm y như trên. Quận Trưởng kiêm Thẩm Phán. Ký tên đóng dấu. Lục Sự ký tên đóng dấu. Người khai ký tên. Người chứng 1,2,3 ký tên. ” Con người thì có thể lương lẹo khai đúng khai sai khó tin nhưng  thuật cai trị phải bài bản bằng pháp lý chặt chẽ để tỏ ý chí thượng tôn pháp luật.
Học sinh ở trường Bồ Đề lúc đó cũng có cái đặc trưng là nguồn gốc tạp nham như hộ tịch của chúng nó, một thế hệ chuyển tiếp thời Việt Minh sang Quốc Gia và VNCH. Đủ cỡ tuổi, đủ gốc gác trình độ học chung với nhau như trường họp không học qua lớp Đệ Lục mà cũng được lên học lớp Đệ Ngũ nói trên! Vì là trường tư nên chuyện tuổi tác gốc gác thoải mái như thế. Thời VNCH chúng tôi có cái  may và hưởng được tự do cụ thể ở chỗ đó. Chỗ trường tư cưu mang hứng lấy bất cứ “đứa” nào muốn đi học kể cả “đứa” to đùng vợ con thê nhi tùm lum, từng học lớp 5 lớp 6 Việt Minh cũng được vào đây học. Tạp ở đầu vào chứ đầu ra thì nghiêm chỉnh. Các kỳ thi quốc gia tinh chế lại chúng tôi. Chỉ “đứa” thật sự có học có kiến thức mới lọt qua và được lên cấp trên. Có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp(THĐIC) thì mới được học lớp Đệ Tam, có bằng Tú Tài I mới được học lớp Đệ Nhất và có bằng Tú Tài II mới được ghi danh vào đại học. Kể thêm 1 trường họp nguồn gốc học sinh trường tư tạp nham và việc “nhảy lớp” ngoạn mục nữa. Một học sinh cùng học lớp Đệ Thất với tôi nhưng không chịu lên lớp Đệ Lục mà lại thi vào lớp Đệ Thất trường Nguyễn Huệ. So với tôi thì tuột xuống 2 lớp. Một học sinh khác gốc gác từ Tiểu Học đi lên. Phải đậu bằng Tiểu Học rồi mới được thi vào lớp Đệ Thất trường công. Năm ấy anh ta đậu thủ khoa kỳ thi tuyển và học chung lớp với anh bạn của tôi vừa kể cách tụi tui 2 lớp. Bị thách đố toán Đệ Tứ khó hay dễ ẹt mà anh chàng cựu thủ khoa nói trên đang học Đệ Ngũ lén nộp đơn làm thí sinh tự do thi đậu ngay bằng THĐIC! Bị kỷ luật, anh chàng phải vào trường tư Bồ Đề để tiếp tục việc học. “Toán Đệ Tam cũng dễ ẹt! và chương trình Đệ Tam na ná giống Đệ Ngũ.” Anh ta nói rồi tiếp tục bỏ Đệ Tam, vào học khơi khơi lớp Đệ Nhị trường Bồ Đề thử chơi và kết quả cũng đậu tuốt Tú Tài I. Hứng khởi đi 1 cái lèo cùng tụi tui vào Nha Trang học lớp Đệ Nhất. Không đi theo hệ chánh thống, không được trường Nguyễn Huệ chuyển hồ sơ nên anh phải vào trường tư Bá Ninh mới mở lớp Đệ Nhất mà Học. Nhảy 2 bực, anh ta bắt gặp chúng tui. Tú Tài II cũng đậu tuốt luốt để rồi cùng chúng tôi ghi danh vào Đại Học niên khóa 1963-1964. Ngày nay thì không lạ lùng gì thấy anh chàng nhỏ hơn tụi tui 2 lớp nhưng lại hợp lớp chung, sinh hoạt chung với tụi tui.
Hồi mới mở, không biết trường Bồ Đề có mấy lớp Đệ Thất, mấy lớp Đệ Lục. Có lớp Đệ Ngũ hay không thì không nhớ rõ nhưng chắc chắn không có lớp Đệ Tứ. Trường thì chỉ có tầng trệt. Văn phòng thì ở đầu phía Tây. Nơi đây thầy Huỳnh Diệu và Nguyễn Bá Quát thử dạy 1 lớp đệ Tứ kiểu như dạy cua ngày nay để luyện học sinh thi lấy bằng THĐIC. Bây giờ có cố  gắng moi trí nhớ của mấy người trên 70 tuổi thì cũng không chắc chắn khai rõ ai học lớp mấy. Có người nhớ rõ vào học lớp nào nhưng có người thì không. Sau khi sàn lọc lời kể, đại loại có thể kể như thế này: Vào lớp Đệ Thất thì có học sinh tên Huỳnh Bá Củng, Trương Đình Thanh, Trần Trọng Cẩn, Nguyễn Son, Nguyễn Bông, Lâm Mỹ Phú, Nguyễn Hiền(Bắc di cư)…vào lớp Đệ Lục có tên Nguyễn Ngọc Mãi, Nguyễn Ngọc Chinh, Bùi Văn Nhàn, Phạm Tâm Tưởng, Lê Văn Thạnh. Anh này học qua loa lớp Đệ Lục rồi nghỉ, bỏ lớp vào Sai Gòn lên lớp Đệ Tứ, thi đậu ngon ơ các bằng THĐIC rồi Tú I, Tú II, vào Dược Khoa rồi ra Dược Sĩ. Một lần nữa cho thấy học sinh Bồ Đề buổi ban đầu có nguồn gốc trình độ tạp nham. Chung Ngọc Mùi(tức Chung thị Mùi), Phạm thị Hương, Nguyễn thị Chánh. Có 2 tên Đức. “Đức Nem”nhà ở gần chợ Dinh phường Ba(Huỳnh Văn Đức) và “Đức” Vịt Đực(Huỳnh Vi Đức). Lương Công Tải không biết vào học lớp nào. Trần Sách, Đặng Ngọc Sung, Đặng Ngọc Sinh, Nguyễn Mông có nhà ở chân Núi Nhạn. Không biết vào lớp nào thì có Nguyễn Tài Soa. Nguyễn Chí Nguyện, Trương Đình Chi, Trần Mạnh Du đều là người Bắc di cư cả, Trần Thôn, Trần Văn Lý. Có lẽ vào học lớp Đệ Ngũ thì có tên học sinh Trần Tuấn, Trần Thinh, Lê Ngọc Kha, Huỳnh Lựu, Phan Ngọc Lịch, Trần Cẩm Tú, Võ Văn Duật. Trần Công Huân thì bảo lên lớp Đệ Tứ thì tao mới vào học chung với mày. Tới niên khóa 1959-60 trường Bồ Đề mới có lớp Đệ Tứ chính thức đưa gà của mình ra quân tham gia thi cử THĐIC chính thức. Năm ấy là năm đầu tiên kỳ thi THĐIC mở ra ở ngay tại tĩnh nhà. Chỉ có khoảng  6, 7 tên đậu mà nhà trường mừng húm, tung lên tờ rơi quản cáo trường lớp và từ đó trường nổi tiếng tong vùng. Một số học sinh học trung học ở thời Việt Minh lớn tuổi lục tục kéo ra học trường Bồ Đề với ước mong có 1 cái bằng cấp để đổi đời vào nếp sống nhàn hạ đời công chức. Hồi đó công chức không giàu có gì nhưng sống rất ung dung nhàn hạ ai ai cũng ham hố. Lương chỉ một ngàn tám trăm đồng mà đủ vợ lẫn con sống thư thái. Gương ông Phan Xịa, Trần Thinh, Lê Ngọc Kha đổi đời ngoạn mục. Không biết kỳ II học sinh trường Bồ Đề có ai đậu thêm nữa hay không. Sáu tên trúng khoa năm đó là Trương Đình Thanh, Huỳnh Bá Củng, Trần Sách, Nguyễn Ngọc Mãi, Võ Đồng Tâm, Mai Đăng Kim thì được tuyển thẳng vào học lớp Đệ Tam mới mở ở trường Nguyễn Huệ. Năm này đánh dấu năm Phú Yên có trường Cấp III đầu tiên.
 Giáo sư, hồi đó dạy trung học thì được gọi là giáo sư, thì cũng chẳng gin(origine). Chủ lực ban đầu là Thầy Huỳnh Diệu, Huỳnh Tô, Nguyễn Bá Quát từng dạy trường trung học thời Việt Minh dạy chính yếu. Thầy có bằng Tú Tài thì chỉ có tên là thầy Can làm ở Tòa Án Phú Yên được mời sang, Bác Sĩ Lai, trưởng ty y tế Phú Yên cũng chỉ đứng tên danh sách GS để xin mở trường mà thôi. Về sau thì có thầy Võ Thuấn dạy sinh ngữ. Thầy Khảng, thầy Hợi nguyên là giáo viên đời Tây, đời Việt Minh nay ra làm thầy giám thị.
Trường sở thì được dựng lên ở khu đất phía sau chùa phường Ba, thuộc góc Tây Nam khu quy họach trung tâm thị xã mới vừa phát hoang san lấp trên hệ gò đống còn ngổn ngang mồ mả đang bốc dở. Góc Đông Nam nhiều mồ. Góc Tây Bắc lắm mả. Góc Đông Bắc ao sâu ruộng cả đang được đổ cát để xây cất các nhà lồng chợ Trung Tâm. Chạy dọc phía Tây chùa và trường hãy còn vết tích của 1 con sông đã chết: Sông Dinh. Thượng khẩu Sông Dinh ở trước đình Phường Ba mở ra để hứng nước sông Chùa và để thuyền bè vào cập bến chợ Dinh. Góc Tây Bắc ngả tư sông Dinh với đường Nguyễn Công Trứ là nhà đèn thời Pháp Thuộc. Đoạn chảy qua phía Tây trường Bồ Đề hãy còn sâu hoắm. Giờ ra chơi bọn nhóc con học sinh chúng tôi thường tìm thú vui thi ném đất đá và máy bay giấy xếp qua hàng rào kẽm gai vào đoạn sông chết này. Sông băng qua đường Trần Hưng Đạo  rồi men theo tuyến sau này là đường Lê Thánh Tôn xuống khu phía sau chợ Trung Tâm đến Ao Sông Dinh ở trước đình phường Năm. Đó là vết tích sót lại còn rõ nét thứ 2 của con sông Dinh đã chết. Con đường làng từ đường Nguyễn Công Trứ ra tới chỗ giữa ty Thông Tin cũ và ty Bưu Điện cũ rồi men theo tuyến sau này là đường Duy Tân băng qua Ao Sông Dinh. Đàn anh trung học trọ học ở phường Tư và phường Sáu thường hay giúp cõng em bé đàng em tiểu học qua ao này để đến trường Nam(khu Bắc Di Cư) và trường nữ tiểu học nằm kế cận trường Nguyễn Huệ cũ. Chảy lòng vòng qua đoạn phía sau trường Nguyễn Huệ Mới và nhà thương để rồi sông Dinh đổ nước vào sông Chùa ở hạ khẩu trước đình Phú Câu. Đường Trần Hưng Đạo mới mở chỉ là con đường đất nối dài đường số 2 đổ dốc qua ngả năm tới khu chợ trung tâm thì dứt. Trước khi có đoạn nối dài này thì chỉ có ngả tư thôi, ngả tư Phan Đình Phùng, tức đường Phủ Cũ cắt đường số 2 và đường Nguyễn Công Trứ.
Năm 1957 trường Bồ Đề được cất xong nhưng chưa đưa vào xử dụng. Có 2 lớp Đệ Thất hay 1 Lục 1 Thất gì đó. Bọn học sinh chúng tôi phải vào tiền sảnh chùa phường 3 mà học. Không biết trường lên lầu năm nào để có thêm văn phòng mà gắn cái logo lá Bồ Đề và kế tiếp về phía Tây là cái nhà preau lợp tôn để học sinh vui chơi. Cũng không biết năm nào cánh bên tả được xây lên. Bây giờ thì văn phòng nẳm ở giữa dãy. Hình dáng trường Bồ Đề 1 trệt 1 lầu ngày nay hao hao giống bộ mặt ngày xưa không có gì thay đổi lắm. Dù trụ chỉ có 3 niên khóa Thất, Ngũ và Tứ nhưng dấu ấn Trường Bồ Đề in đậm nét trong ký ức của tôi. Hình ảnh hoang sơ bề bộn ngổn ngang của khu mới qui hoạch chung quanh trường mới mở cữa in đậm trong ký ức. Nơi này mổ mả bốc dỡ dở dang. Nơi kia đang thi công công trình xây cất. Nơi khác xe tải cát san lấp mặt bằng. Bên đối diện trường, người ta mở đàn trai lớn cầu an cho các vong hồn bị xua đuổi để lấy đất cho người sống  xây dựng khu trung tâm. Tối đến không khí trở nên hoang vắng lạ lùng và linh cảm có hồn ma bay chới với kêu than. Chắc dần dần âm hồn cũng thông cảm. Vì đại cuộc tương lai tĩnh nhà mà âm hồn nhường chỗ  nơi đây để lập tĩnh lỵ mới thay cho tĩnh lị đời Tây ở Sông Cầu. Thời Việt Minh thì Ủy Ban Tĩnh này đây mai đó để tránh máy bay Pháp bỏ bom. Con dân thì không có tĩnh lị. Cách bài trí thờ phượng và kinh cầu trai đàn làm không khí xung quanh trở nên linh thiêng huyền bí. Thêm vào đó miếu Âm Hồn thờ Nguyễn Thái Học ở cuối chợ trung Tâm cũng được dựng lên làm tăng thêm không khí ma quái linh thiêng. Có 1 lần con trút lớn đi xuyên qua thành phố làm tóc mái đổ nát nhà cữa. Người ta đồn luồng gió Âm Hồn đã đi từ tĩnh đường mới ở bờ biển, qua miếu thờ Nguyễn Thái Học vào thành phố. Không khí linh thiêng hấp  dẫn bọn học sinh chúng tôi tham gia phong trào cầu cơ. Hồi đó đồn rằng ván hòm bị bốc mộ linh thiêng lắm. Nhất là ván đáy hòm. Đẽo ván thành hình trái tim rồi đóng 3 cái đinh sắt lên đó thì thành con cơ. Bọn học sinh kéo nhau tìm ván hòm để làm con cơ và có khi thức sáng đêm ở nơi vắng vẻ nhất, ma quái linh thiêng nhất để cầu cơ. Ba người, mỗi người đặt 1 ngón tay lên cái đinh trên con cơ. Cơ thì nằm trên tờ giấy có 24 chữ cái. Hai bên có chữ GIÁNG và THĂNG. Đốt nhang lên với bát nước lã rồi đọc lời cầu. Khi hồn nhập vào cơ thì cơ nhúc nhích xê dịch, chỉ vào chữ Giáng. Người chủ lễ hỏi. Cơ sẽ đáp bằng cách chỉ vào chữ cái để người xem ráp vần mà biết hồn là ai và hồn trả lời có nghĩa là gì. Cứ thế mà biết cô nào yêu cậu nào. Tương lai tình yêu ra sao và thi đậu rớt như thể nào. Chơi chán chê thì cơ chỉ vào chữ Thăng. Cả bọn đành phủi đít đi về. Một trò chơi làm giới học sinh chúng tôi say đắm mê man. Đàn cầu an của chính quyền thì lập bên đối diện trường Bồ Đề, ở bên kia đường Trần Hưng Đạo và xế về phía Đông. Khu đất sau đó cất lên trụ sở xã châu thành. Người đứng đầu xã gọi là ông Xã Phường.
Cái giá của trường Bồ Đề. Trung Học Bồ Đề là trường trung học lớn thứ 2 trong tĩnh sau trường công Nguyễn Huệ anh em. Là em nhưng không thua kém trường anh xa lắm, ra đời chỉ 2 năm sau(1957). Tuy là trường của tôn giáo nhưng không phải đây là nơi chủ yếu để truyền bá Đạo. Giáo  lý chỉ chiếm 1 phần nhỏ trong giáo trình. Chương trình học theo sát chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục và không thiếu giáo sư trường công sang đây giảng dạy. Trường công học cái gì thì ở đây học sinh học cái nấy. Cùng trường Nguyễn Huệ, trường cung cấp nguồn nhân lực hành chánh lẫn quân lực không những cho VNCH mà cho cả phe bên kia vì chế độ học hành không phân biệt lý lịch ở Miền Nam Việt Nam. Nhà nước Việt Nam sau 1975 vẫn còn được thừa hưởng nguồn nhân lực này. Cựu học sinh Bồ Đề, NH không thấy thiếu trong bộ máy của họ.
Chuyện gin(orgine) và lô. Khi nói đến cựu học sinh Trung Học Nguyễn Huệ(CHSTHNH) thì ông bạn Lê Kim Hùng, nhóm đi núi tập thể dục buổi sáng của tụi tui hay ghẹo và hỏi tôi câu “CHSTHNH gin hay lô!” Tôi không giận hờn mặc cảm vì câu nói mà còn thấy thú vị biến câu chọc ghẹo ác ý ấy thành “câu nói yêu” và cảm thấy yêu ông bạn nhiều hơn. Không phải vì do tình cảm từng là đôi bạn đồng môn ở Đại Học Khoa Học SG, môn đồ của thầy Phạm Hoàng Hộ, Trần Kim Thạch, cô Bùi Thị Lạng mà vì cả 2 nhận ra giá trị gin/lô. CHSTHNH gin là loại học suốt từ đầu vào là lớp Đệ Thất tới đầu ra là lớp hết cấp hoặc giả dừng ở lớp Đệ Tứ(trước niên khóa 1959-60), Đệ Nhị(từ niên khóa 1961-62 trở về trước).  Loại lô là loại sang ngang từ trường tư ở bên ngoài hoặc giả vào các lớp Đệ Lục, Ngũ, Tứ hay vào đầu cấp như lớp Đệ Tam(niên khóa 1960-61) hay vào lớp Đệ Nhất(1963-1964). Không lô là vì loại sang ngang không bình thường mà là loại trên sàng được trường tư sàng lọc. Hễ đứa nào giỏi thì “ông” Nguyễn Huệ “chớp lấy” tuyển bổ sung vào trường của ổng. Mà đúng không lô thiệt là vì khi vào trường Nguyễn Huệ họ vẫn nổi lên trên cùng với hàng ngũ lớp giỏi của trường NH. Ra đời họ thành công y như nhau. Gin/lô chỉ do nhìn vào hình thức màu cờ sắc áo. Học sinh NH đồng nhất về tuổi tác, áo quần đồng phục bảnh bao, thi vào thì rất khó, được thầy bà xuất thân chánh qui dạy dỗ. Nhưng qua quá trình dùi mài kinh sử thì không thiếu kẻ rớt đài yếu kém. Vậy gin/lô hãnh diện  mặc cảm làm gì? Hải ngoại có Hội Cựu Học Sinh Trung Học NH sau đổi thành Hội Cựu HS Trung Học PY chắc cũng vì ý tưởng không phân biệt gin/lô đó.  Anh em CHSTHNH gin/lô cũng đều kẻ trước người sau xuất thân cùng trường NH cả nên cùng chung nhau mà chia xẻ.
Trường Bồ Đề là vị cứu tinh, cứu những linh hồn thanh niên buổi đổi gió trở trời giao thừa gió mưa rơi rụng khỏi bị “vong mạng.” Vong mạng(sinh mạng học với hành) để tiến bước khai dân trí, chấn dân khí chung của dân tộc.  Tháng  7 năm 1954 Hiệp Ứơc Geneve được ký kết. Bộ đội và chính quyền VNDCCH  tập kết ra Bắc kéo theo một số học sinh ưu tú thân với chính quyền, bỏ sót số còn lại bơ vơ như đàn vịt vỡ đàn không nơi nương tựa. Một trường trung học được mở ra ở Phú Thứ lấy tên là Trường Nguyễn Huệ vá víu cưu mang họ. Trường đó tiếp thu hệ giáo dục 12 năm của Quốc Gia Việt Nam với tên gọi các lớp là lớp Năm, Bốn, Ba, Nhì, Nhất, Đệ Thất, Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị và Nhất khác hoắc hệ 10 năm của VNDCCH với tên lớp là lớp 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10. Hồi đó ở PY cấp 2 chỉ có 3 lớp là  5 , 6 và 7 so với 4 lớp Thất, Lục, Ngũ, Tứ của hệ QGVN. Hệ Trung Học Đệ Nhất Cấp dài hơi hơn hệ Cấp 2. Thời Việt Minh dân chúng nghĩ học tới lớp 7 là oai lắm rồi. Hiếm có người học tới lớp 8 hay 9 chứ nói chi tới lớp 10. Thế nhưng năm 1954 tiếp xúc với hệ 12 năm, cựu học sinh cấp 2 thời kháng chiến ngơ ngác không biết vào lớp nào cho phù họp trong số 4 lớp Thất Lục Ngũ Tứ. Cho đến khi trường dời về thị xã Tuy Hòa tình trạng cũng còn như thế. Học sinh đậu được bằng tiểu học mới được thi tuyển vào lớp Đệ Thất. Đậu bằng Tiểu Học là oai lắm nên học sinh NH lọai đó là học sinh NH gin. Học sinh  ở vùng kháng chiến xộ ngang vào các lớp Lục, Ngũ, Tứ là thứ lô.
Tình cảnh học sinh lớn tuổi vùng kháng chiến bị bỏ rơi năm 1954 thật đáng thương. Họ tâm sự với tôi, loại hoc sinh nhỏ từ tiểu học đi lên: Ở nhà thì chịu dốt. Ra đi thì không biết cổng nào mà chun. Lòng lo sợ biết bao. Cái lớn tuổi nó cứ cặp kè bên mình. Tiếng Tây tiếng U thì chẳng biết. Ngay lớp Nhất tụi bay thì tụi bay đã học tiếng Tây rồi. Văn học thơ ca thì bây giờ khác hoắc. Biết gì về Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Tự Lực Văn Đoàn. Toán học thì chỉ biết các hình, góc, đường thẳng, đường song song, định lý Thales. Giải phương trình bậc 1, vẽ đồ thị đường thẳng là hết cút. Phương trình bậc 2, lấy căn số bậc 2, parabol, Hyperbol là thứ gì lờ mờ xa lạ. Ôm hôn(định luật Ohm), run(định luật Joule), quát(wat) là gì cũng xa lạ nốt. Tình trạng rối rắm như thế nên bị phân tâm và có cảnh nhảy lộn xộn xọ lớp này nhắm không xong nên qua lớp khác mà đoạn trên kia nói học sinh trường Bồ Đề buổi ban đầu tạp nham là vì thế.
Hệ giáo dục 12 năm ở vùng Quốc Gia tiếp cận với hệ trường Pháp nên được cập nhật. Chương trình mới mẻ, phong phú thông thoáng hơn nhiều gây lo sợ cho học sinh vùng kháng chiến buổi sang ngang nhưng lâu dần họ cũng quen và bắt kịp được. Hệ giáo dục MN xây dựng trên căn bản mà sau này thành triết lý giáo dục là Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng cho nên nó đẻ ra hệ trường tư khá cởi mở cứu vớt được 1 số thanh niên vùng kháng chiến bị bỏ rơi nhưng ham học, làm lại cuộc đời. Bác sĩ Lê Kính, Thầy Nguyễn Đãm, người ở vùng kháng chiến, đậu Cử Nhân Toán đầu tiên, là những người tiêu biểu hưởng nền giáo dục tự do. Nếu cứng nhắc theo chế độ lích lịch, trường lớp bài bản thì họ bị loại khỏi đường học vấn mất rồi. Họ đã đi theo lộ trình trường tư và tự học để đến thành công. Sau khi tập kết, chính quyền vùng kháng chiến để lại lỗ hổng giáo dục ở MN. Sau đó trong cảnh mưa bom gió đạn ở chiến trường MN không có 1 trường trung học nào bài bản, không có ông thầy bà cô nào dẫn học sinh từ phía bên kia về thành tiếp quản 1 trường trung học năm 1975 để ngày ngay có được 1 trường Trung Học Lương Văn Chánh có bề dày 60 năm(1946-2006) cả. Nếu nói có là chuyện ăn gian nói ngược. Trường Bồ Để và hệ thống trường tư khác suốt từ Phú Yên tới Sài Gòn cưu mang số học sinh bị người đi kháng chiến bỏ sót lại tiếp tục việc học bên lề hệ thống trường công. Trường Bồ Đề còn cưu mang số học sinh sau này bị ruổi ro  trượt các kỳ thi hay bị loại giữa chừng ở các trường công nữa. Thấy người ta sang bắt quàng làm họ, người ta gộp trường chuyên Lương Văn Chánh thành lập sau năm 1975 vào các trường cấp 2 thời kháng chiến(3 lớp là 5, 6 và 7) và Trung Học Lương Văn Chánh hồi khởi nghĩa(4 lớp là Nhất Niên, Nhị Niên, Tam Niên, Tứ Niên như qui chế College de Qui Nhơn) lạ hoắc làm 1. Sao người ta không gộp trường Bồ Đề vào trường Lương Văn Chánh nhỉ. Cũng thầy Tô, thầy Diệu, thầy Quát và các học trò cấp 2 thời kháng chiến nửa mùa xọ vào đây tá túc chờ ngày trở vào trường công tiếp tục sự học để có bề dày 60, 70 năm nhỉ? Trường Bồ Đề(TBĐ) xứng danh trường hậu Lương Văn Chánh! TBĐ còn là cứu tinh của thầy cô nữa. TBĐ không phân biệt ai. Có Tú on(un), Tú đơ(deux) thì được vào đây dạy, kiếm sống qua ngày chờ thời, chờ 1 ngày mai tươi sáng.
TBĐ có thành tích và ra đời trong hoàn cảnh như thế nên mượn lời nói lên tình cảm của một cựu học sinh, bạn Trương Đình Thanh(TĐT), dành cho trường làm lời kết cho bài viết. Bạn này tâm sự với tôi là khi vào được nước Nhựt học, bạn cố gắn hết sức để được học đại học danh tiếng là Đại Học Tokyo. Khi làm luận án về chất siêu dẫn để lấy bằng tiến sĩ, ông thầy đỡ đầu patron người Nhật của bạn rất nể nang bạn xuất thân từ Đại Học Khoa học Sài Gòn. Một tay được giải Nobel vật lý đã từng cảm ơn bạn ấy vì đã lấy thông tin về chất siêu dẫn trong luận án của bạn ấy(TĐT). Những sự việc xảy ra xui TĐT thề không vào quốc tịch Nhật để tự hào là công dân Việt Nam. TĐT nói “Tôi rất hãnh diện các trường lớp tôi đã trải qua như trường Bồ Đề, Nguyễn Huệ và Trương Vĩnh Ký.” Bài viết viết vào dịp thầy Phan Thiện Trì, hiệu trưởng sau cùng của trường Bồ Đề niên khóa chót 1974-1975 chuẩn bị làm kỷ yếu về trường Bồ Đề muốn có cái nhìn về những năm tháng đầu tiên ra đời của trường Bồ Đề Tuy Hòa. 
Để biết thêm bộ mặt tĩnh lị buổi sơ khai nền Cọng Hòa mời vào link sau đây xem thêm:





 
Cuối Đông năm Giáp Ngọ(2014)
HBC


0 nhận xét:

Đăng nhận xét