DÒNG SÔNG ĐÃ CHẾT SỐ 1
Một chi lưu của Sông Chùa.
1-Theo dòng lịch sử.
Người ngày nay sống trên đất của thành phố Tuy Hòa có mấy ai biết có một dòng
sông, DòngSông ĐãChết, Sông Dinh, chết trong lòng người sau năm 1954 là năm
Tuy Hòa thay da đổi thịt để trở thành tĩnh lị lần đầu tiên. Thời Pháp Thuộc thủ phủ của tĩnh ở Sông Cầu. Thời xa
xưa thủ phủ là ThànhCũ TuyAn(tôi đưa ra giả thuyết tên của nó là DinhPhoan,
HộiAn hay HộiPhú, mời xem ThànhCũ TuyAn). ChínNăm KhángChiến, UBKCHC của
ViệtMinh ở PhúYên dời địa điểm liên tục để tránh máy bay của quân LiênHiệpPháp
nên tĩnh không có thủ phủ. Đất của Thành Phố Tuy Hòa ngày đó gọi là xã HòaAn.
Sự ra đời của tĩnh lị lần này, vào năm 1954, gắn liền
với sự ra đời nền CọngHòa ở MiềnNam ViệtNam và sự ra đời trường TrungHọc NguyễnHuệ.
Xa hơn, vào năm 1826, nơi đây chỉ có 2 làng là làng PhúCâu
và làng BảoTháp. Vào lần cải tổ hành chính đó, dưới triều MinhMạng, lần đầu
tiên tổng ở PhúYên có tên riêng thay vì gọi chung chung là tổng thượng, tổng
trung, tổng hạ và hạ bạc như thời GiaLong và như các đời trước. Tên 3 tổng của
huyện Đồng Xuân(HĐX) bây giờ là tổng XuânĐài, tổng XuânSơn và tổng XuânVinh.
Tên 4 tổng của huyện TuyHòa(HTH) là tổng HòaBình, HòaĐa, HòaLạc và HòaMỹ. Bây
giờ làng PhúCâu được giải thích nói nguyên là phường Câu thôn thuộc hạ bạc của HĐX.
Làng BảoTháp nói nguyên là BảoTháp xã thuộc tổng trung HĐX(Địa Bạ tĩnh Phú Yên).
Theo bảng địa bạ thì thấy trước đó làng ĐôngPhước thuộc tổng trung HĐX còn các
làng như VĩnhPhú, PhúÂn, Đông Lộc thuộc tổng thượng HĐX. Ngay tới trước năm 1826 thuộc triều Minh
Mạng, HĐX vẫn còn chạy thẳng tới bờ Bắc sông Đà Rằng. Do đó tôi đưa ra giả
thuyết thời chưa có phủ PhúYên, huyện TuyViễn của phủ HoàiNhân chạy tới bờ Bắc
sông ĐàRằng. Bên bờ Nam là đất của ChiêmThành hay ít ra cũng là đất hãy còn
đang tranh chấp với ChiêmThành.
Sông PhanĐịnh có 3 đoàn cá sấu cản trở Lý ThườngKiệt
đánh bắt ChếCủ năm 1069 đời LýThánhTông,
giáp địa giới phủ HoàiNhơn như trong ĐịaLýChí của NguyễnTrãi đời nhà Lê
đã ghi, là sông BànThạch chứ không nghi ngờ gì nữa mà ĐạiNam NhấtThống
Chí(ĐNNTC) đánh dấu hỏi. Sống vào đời Lê, NT hiểu sông PhanĐịnh giáp phủ HoàiNhân
nghe họp lý. Đây là lần đầu tiên(1069) người Việt đặt chân lên đất Phú Yên. Tại
sao vào đề(dựng đặt và diên cách đất Phú Yên) sách này(ĐNNTC) nói đất Bà
Đài-ĐàLãng của ChiêmThành bị LêThánhTôn đánh chiếm đặt làm huyện TuyViễn, lấy
núi ThạchBi làm giới hạn mà đến phần nói về sông BànThạch lại không dám xác
nhận sông này là sông PhanĐịnh giáp giới với phủ Hoài Nhân? HoàngXuânHãn trong
sách LýThườngKiệt nói về trận năm 1069 thì cho sông PhanĐịnh là sông TuMao ở
Nam thành ĐồBàn hay là sông Kron Biynh ở PhanRang trên đường truy bắt ChếCủ.
Sông BànThạch có vẻ hợp lý hơn.
Thực tế biên
giới ngăn chia ĐạiViệt với ChiêmThành không phải là cái đèo(đèo Cù Mông) mà là
cái sông, sông ĐàRằng. Sông ĐàRằng và dãy ĐạiLãnh mới là thành trì vững chắc
cho dân Chiêm. Đến năm 1611 VănPhong(VP) mới chọc thủng được phòng tuyến sông
ĐàRằng(đánh lấy đất lập phủ Phú Yên với 2 huyện là ĐồngXuân và TuyHòa). Tên
huyện TuyHòa mới xuất hiện(năm 1611). Và mãi đến năm 1653 Hùng Lộc(HL) mới phá
được phòng tuyến rặng Đại Lãnh, lập ở phía bên kia 1 dinh mới là dinh Thái
khang. Trước năm 1611 bờ bắc sông ĐàRằng thuộc huyện TuyViễn, phủ HoàiNhân? Nhiều
tác giả ngày nay nói VP và HL đều là người gốc Chiêm. Chúa Nguyễn phải nhờ
người gốc Chiêm mới chọc thủng được 2 phòng tuyến lâu tới 140 năm(1471-1611) và
lâu tới 182 năm(1471-1653). Rồi chúa
Nguyễn Phúc Nguyên có sự cai trị mềm dẻo cởi mở khoan hòa đối với người Âu,
người ChiêmThành và người ChânLạp nên dựng được XứĐàngTrong giàu có hùng mạnh
làm tiền đề cho cuộc NamTiến trong mấy đời sau từ đất này(Phú Yên), cùng 1 lúc
tiến vào ChânLạp(bắt đầu năm 1620) và vào ChiêmThành(1653).
Dân NamChiêmThành thật anh hùng. Phòng tuyến giữ vững
được tới 2 thế kỷ chống ĐạiViệt! Có những chứng cớ để tin vào đầu thế kỷ 17,
buổi bình minh dựng nghiệp chúa Nguyễn, một phần đất Nam đèo CùMông hãy còn
thuộc ChiêmThành. Cả ĐNNTC lẫn LiệtTruyện đều nói LVC đánh ThànhHồ năm 1578
nhưng không dẫn chứng tài liệu nào. Thực sự ta biết LVC trấn nhậm huyện TuyViễn,
an biên trấn vào năm 1597 do từng được thái úy Trưởng quốc công TrịnhTùng phái
đi đánh giặc nhiều phen có công được thưởng chức tước vào năm 1596 và thưởng
cho coi huyện TuyViễn năm 1597(2 bản văn ký năm 1596 và năm 1597 còn lưu giữ ở
miếu thờ LVC). Văn bản viết bằng mẫu tự HánNôm khó xác định “an biên” là danh
từ hay tính từ. Rất dễ lầm “an biên trấn” với TrấnBiên là một danh từ chỉ
PhúYên và BiênHòa sau này. Chính chỗ đó mà lầm LVC làm quan ở huyện TuyViễn thuộc
phủ HoàiNhân(người của Bình Định) với làm quan ở PhúYên(tới thời chúa Nguyễn,
PhúYên mới trở thành TrấnBiên. LVC không phải quan TrấnBiên mà là quan an biên
trấn ở biên giới phía Nam!). LVC là danh nhân Bình Định hay Phú Yên, cần xét
lại? Lầm lẫn tai hại. Lầm lẫn trở thành thành kiến khó thay đổi mấy trăm năm về
sau! Văn bản nói sai LVC đi bình định xứ Nam đèo Cù Mông năm 1597. Sai đi là
1 chuyện còn thực hiện văn bản thành công là chuyện khác. Đến năm 1611 Văn
Phong phải còn đánh để lấy đất để lập ra phủ PhúYên với 2 huyện ĐồngXuân và TuyHòa!
Bằng chứng kế tiếp là tài liệu của người Âu. Giáo sĩ
Borri nói khoảng năm 1620 chúa chỉ cai trị QuảngNam(Caciam) còn quảng
Nghĩa(Baubon) và NướcMặn (Qui Nhơn) còn thuộc quyền của cha vợ sứ thần mà chúa
phái đi ChânLạp tên là Zegro(nhiều tác giả cho họ là người gốc ChiêmThành). Một
số bản đồ người Âu vẽ cũng thể hiện việc đó. Năm 1635 người HàLan tên là Blaeu
vẽ 1 con sông dài rất rõ đoán là sông ĐàRằng ngày nay với ghi chú Champa ở phía
Bắc con sông ấy. Năm 1594 một bản đồ của người HàLan cũng vẽ rõ 1 con sông như
vậy với ghi chú Poulo Cambi, Varella, Champa ở Bắc 1 con sông dài. Đối chiếu
với ghi chú của nhiều bản đồ do người Âu vẽ, ta đoán được Poulo Cambi là Cù Lao
Xanh ở Qui Nhơn, Varella là Mũi Điện, và con sông đó là sông ĐàRằng. Vùng đất
sông ĐàRằng hãy còn thuộc ChiêmThành(Champa) cho tới những thời điểm người Âu
vào XứĐàngTrong đầu thế kỷ thứ 17.
Như vậy dựng đặt đất PhúYên chỉ bắt đầu từ đời chúa
NguyễnPhúcNguyên chứ không phải từ đời LVC dưới triều Lê-Mạt. Công dựng đặt là
công của Chúa NguyễnPhúcNguyên với người dưới quyền là VănPhong, HùngLộc và con
rể của chúa là NguyễnHữuVinh hay NguyễnCảnhVinh gốc gác nhà Mạc,
MạcCảnhHuống(mời xem ThànhCũ TuyAn). Công giữ vững biên giới cho ĐạiViệt thời
nội chiến trầm kha(1509-1600) là công của LVC ở huyện TuyViễn, phủ HoàiNhân(quân
công nhiều hơn công khai phá). Quân công của 1 trấn biên quan(danh từ chung)
giữ gìn biên giới(an biên trấn). Không biết lị sở huyện TuyViễn ở đâu, trong
phần đất bên Bắc hay bên Nam
đèo CùMông(mời xem Thân Thế LVC và Những Tồn Nghi ).
2-Địa
lý hình thể toàn vùng và vị trí Sông Dinh. Thời chưa có đập Đồng Cam, đất cực Nam của HĐX, bờ bắc sông ĐàRằng, là
đất cằn cỗi hẻo lánh xa xôi. Phía Tây thì rừng rú. Phía Đông là động cát hoang
vu. Ngay làng PhúÂn đã thuộc tổng Thượng HĐX, làng ĐôngPhước thuộc tổng Trung HĐX,
làng PhúCâu thuộc hạ bạc HĐX là những nơi hẻo lánh ven sông, bãi. Nơi đó chính
quyền đặt tấn sở(đồn cữa khẩu). Thủ sở(đồn biên phòng ở thượng nguồn) thì đóng
ở ThạchThành.
Từ miếu LVC trở lên phía TâyNam các địa danh toàn là
tên rừng rú: CẩmSơn, HạnhLâm, NgọcSơn, NgọcLãnh, NhoLâm, MậuLâm và là những
làng thuộc tổng thượng hay tổng trung huyện ĐồngXuân. Chính việc chọn châu thổ
sông Cái(sông Kỳ Lộ) làm thủ phủ thời sơ khai nói lên miền viễn biên HĐX, ngay
bên bờ Bắc sông Đà Rằng, là vùng sâu vùng xa nghèo khó(tổng Thượng!).
Buổi xa xưa đất nay là thành phố TuyHòa chỉ có làng PhúCâu và xã BảoTháp. Đó là điểm tận
cùng của 1 giải nối. Giải nối là thuật ngữ khoa địa chất, khoa nghiên cứu hiện
tượng địa chất diễn ra trên bề mặt vỏ trái đất. Khoa này nói bồi đắp duyên hải
là hiện tượng chất trầm tích duyên hải có xu hướng bồi đắp nối giải duyên hải
với đảo gần bờ thành giải nối như giải nối ĐàNẵng với đảo TiênChà(Trà) hay giải
nối PhươngMai nối núi RổĐó và KhổngLộ ở cữa QuiNhơn với đất Liền. Chất trầm
tích ở đây là cát. Hàng năm gió mùa ĐôngBắc thổi cát dọc duyên hải tiến về phía
Nam
nối động cát ở chân núi ChópChài với núi BửuTháp. Núi này trước đó chỉ là 1 đảo
nằm án ngữ trước 1 cái vũng tạm gọi là “vũng Tuy Hòa”, nay là đồng bằng Bắc-Nam
thủy nông Đồng Cam. Hiện tượng giải duyên hải và giải nối duyên hải là hiện
tượng hoạt động địa chất rất phổ biến ở duyên hải miền Trung Việt Nam , kiểu
Truông Nhà Hồ-phá Tam Giang.
Chuyện lấp cữa, phá cữa thường xảy ra. Ở Huế cữa Eo nhiều lần bị lấp. Nước của sông Bồ
và sông Hương phá cữa ThuậnAn để thông ra biển. Ở HoàiNhân(nhà Nguyên ở Trung
Hoa gọi là ĐạiChâu của ChiêmThành) cũng vậy. CữaCách Thử(cảng NướcMặn) bị lấp,
cữa QuiNhơn khai thông. Một trang web dẫn sách kinh TếĐạiĐiển TựLục và Nguyên
sử nói ChiêmThành cảng ở phía Bắc. Bên cạnh có 5 cảng nhỏ thông với ĐạiChâu. TạChí
ĐạiTrường cũng có ý tưởng tương tự và gọi là cảng NướcMặn và nói LýThường Kiệt
đổ bộ năm 1069 lên cữa QuiNhơn là HoàngXuânHãn nghĩ sai lầm. Đổ bộ xảy ra ở
phía Bắc đầm ThịNại. Lúc đó cữa CáchThử chưa bị lấp và là nơi thành ThịNại tọa
lạc.
Trở lại trường họp ở TuyHòa. Vào năm 1954 người ta vẫn
còn thấy hình ảnh giải cát, gọi à sa động(giải sơ cấp hay thứ nhất), chạy từ
sân bay ChópChài tới nhà 18 gian(khoảng nhà ga và nhà Thờ). Giải chỉ chạy tới
ngả ba đường LêLợi-QuốcLộ 1 là hết. Nơi đây dựng lên cây xăng ChungVĩnhThái năm
1954. Đồng ruộng hãy còn ăn sát tới ty công chánh ở phía bên kia(phía Tây) tĩnh
đường cũ(bây giờ là UBNDTP). Tĩnh đường năm 1960 dời đến giải cát thứ 2 hay thứ
cấp ở gần cữa sông ĐàRằng hiện tại. Đường LêTrungKiên(LTK) chạy quanh chân núi
Nhạn(BửuTháp) đến ngả 3 đường TrầnHưngĐạo-LTK hãy còn là ranh giới với
đồng ruộng. Đường xe lửa và Quốc Lộ được
nâng cao chót vót để băng qua cánh đồng ấy, tạo thành 2 cái hố sâu hoắm. Sau
này đường Tản Đà(chỗ rạp hát Diên Hồng) vượt qua chia cắt chúng thành 4 cái hố
chỉ được san lấp sau năm 1975. Trước năm 1975, đường TrầnHưngĐạo chỉ chạy tới
đường LTK là hết, không băng qua 2 cái hố kia. Xế về phía bắc, phía Đông giải
nối, ruộng cũng ăn sát vào giải nối làm cho đoạn đường Lê Lợi từ ngả tư LêTrungKiên
tới ngả tư PhanĐìnhPhùng dốc chúi mũi. Nhà thờ ở trên đỉnh giải cát hẹp này(chỗ
đó người Pháp xây dựng bungalow). Qúa phía Đông nhà thờ và chỗ nhà hát nhân
dân(ngày xưa là đồn binh Pháp) một chút thì thụp ngay xuống tới đám ruộng. Giải
cát hẹp nên nhà ga phải nâng 1 đoạn đường rất cao đi về hướng ĐôngBắc trên đồng
ruộng xóm Đường, phía Tây đường Lê Thành Phương để làm đường trở đầu cho xe
lửa.
Giải cát hoang vu người xưa gọi là rừng hay động. Phía
bắc ngả 3 TrầnHưngĐao-LTK, chỗ ty công
chánh, nay là đài truyền hình và trụ sở Thủy Nông Đồng Cam là nơi an táng danh
tướng MaiTiếnVạn của NguyễnVương Ánh trên chiến trường PhúYên trong cuộc nội
chiến với TâySơn, cuộc nội chiến giành giật 2 cái thành chiến lược là
ThànhDiênKhánh và thành QuiNhơn với ý tưởng 2 bên là ai sẽ thắng ai!(mời xem
Mai Tiến Vạn-Công Thần Nhà Nguyễn). Khi đập ĐồngCam
đi vào hoạt động khoảng năm 1929-1930 vùng TuyHòa mới trở nên trù phú. Pháp cho
xây dinh thự lâu đài trên đỉnh giải nối này từ nhà ga tới tĩnh đường cũ. Mộ
MaiTiếnVạn bị bốc đi cải tán ở chỗ xóm nhỏ sát bức tường phía Nam ViệnBảoTàng
PhúYên, đường NguyễnTháiHọc. Bài vị thờ ông ở đình BìnhHòa(ngả tư DuyTân-Lê
Lợi) nói như vậy và nói chỗ tán trước gọi là sa động.
Trước thời Pháp thuộc khu phồn vinh là khu chợ Dinh
ở giữa đình phường 3 và đình Năng
Tịnh(phường 1) với con đường phủ cũ(PhanĐìnhPhùng). Thời CọngHòa khu trù phú là
NgảNăm và đường TrầnHưngĐạo. Còn thời PhápThuộc dinh cơ xây cất trên đỉnh giải
nối từ nhà ga trở vào. Một di tích của người Pháp để lại nơi đây là mộ của ông Tây Julles Armand Trilleau(surveillant
des T.P. en retraite) được tán ở chân núi Nhạn, chỗ chân con đường bắt đầu trèo
lên núi. Năm 2011 mộ được di dời để kiến thiết đường lên núi được hoành tráng
hơn.
Về phía Đông giải cát chính này(giải sơ cấp) có nhiều
giải phụ(giải thứ cấp) ngắn dài thòi ra thụt vào ngăn với nhau tạo ra nhiều
“lạch nước” mà đồng Vườn Trầu ở phía Đông sân bay ChópChài là 1 cái lạch dài
nhất và sâu hoắm, vào năm 1954 nước hãy còn tù đọng làm ngứa ngáy chân tay. Cấu
trúc này nay vẫn còn thấy ở địa thế thôn NinhTịnh thuộc xã NăngTịnh ngày
xưa(phường 7 và 8), cấu trúc gồm nhiều giải cát thò ra thụt vào.
Trước khi bị tấn công bỡi giải nối do tác dụng của gió
là chính thì trầm tích duyên hải do tác nhân dòng nước cũng đã làm cho vùng
biển giữa núi Nhạn và núi Chóp Chài(thuộc xã AnToàn và NăngTịnh triều Minh
Mạng) ngày xưa nhô lên đây đó những khoảnh đất
cao thành ruộng vườn đan xen với vũng cạn. Hai làng được lập ra quanh chân
núi Tháp và ở cữa sông ĐàRằng như nói ở trên. Trên thửa đất mới bồi có nhiều
luồng lạch. Một con sông nhỏ, đúng hơn là 1 đoạn lạch thành hình mà sau này cư
dân có lẽ dân của phủ lị Tuy Hòa gọi là sông
Dinh(thời Phú Yên có 4 đơn vị thay vì có 2 huyện như các thời trước: phủ
Tuy Hòa, phủ Tuy An, huyện Đồng Xuân và huyện Sơn Hòa). Bấy giờ nơi đây(phủ Tuy
Hòa) mới bắt đầu trù phú nhưng tĩnh lị vẫn chưa dời về đây(còn ở Sông Cầu). Trước
năm 1826 thủ phủ HTH ở PhúThứ phía Nam sông ĐàRằng. Năm 1826 lần đầu tiên HTH
có thêm 1 tổng ở bên bờ Bắc của sông Đà là tổng HòaBình. Phủ lị được dời về bên
nầy. Phủ lị đóng ở làng ĐôngPhước. Có lẽ sau đó phủ lị dời về làng BảoTháp(góc
ĐôngNam ngả tư PhanĐìnhPhùng-Lê Lợi) và khi đó có danh xưng chợ Dinh ở phía
ĐôngNam chân núi Nhạn.
3-Sông
Dinh. Đúng là 1 đoạn sông chảy trong
đất xưa của thành phố Tuy Hòa mà hạ khẩu thì ở làng Phú Câu(cữa sông Đà Rằng),
và ở trước mặt đình Phú Câu còn thượng khẩu tiếp nước sông chùa ở gần chợ Dinh
và ở trước mặt đình Phường 3. Sông Dinh cũng chảy trước mặt đình Bình Hòa(chỗ
gọi là Ao Sông Dinh).
Sông chùa phát nguyên từ Thành Hồ chảy dọc theo chân
dãy núi phía Tây và Tây Bắc cánh đồng bờ Bắc sông Đà Rằng. Nó gom nước dư thừa
từ cánh đồng và nước suối nguồn từ trên núi chảy xuống. Đến chân núi ChópChài
thì đổi hướng về phía Nam
theo gải nối, rồi bao quanh mặt Nam
núi Nhạn mà đổ ra biển chung với cữa của sông ĐàRằng.
SôngDinh trong ký ức tuổi thơ thế hệ học sinh trung
học 1954. Thế hệ trước là thế hệ học sinh trung học LươngVănChánh. Trước năm
1945 PhúYên chưa có nền TrungHọc. Phải ra QuiNhơn học trung học. Tháng 8 năm
1945 ViệtMinh cướp chính quyền chính phủ hoàng gia TrầnTrọngKim. ViệtMinh ở PhúYên
lập ra nền trung học. Trường trung học có tên là trường LươngVănChánh(trường
tĩnh), tồn tại một vài niên khóa khoảng 1945-1949(còn ảnh hưởng thế hệ trước
đó, thế hệ trung học College de QuiNhơn và chương trình giáo dục HoàngXuânHãn
của chính phủ TrầnTrọngKim, còn giữ danh xưng NhấtNiên, NhịNiên, TamNiên,
TứNiên). Sau đó VM cải tổ giáo dục. Không còn trường trung học hợp nhất mà phân
tán rải rác thành nhiều trường TrungHọc(trường cấp 2) có danh xưng riêng theo
tên huyện trú đóng để tránh máy bay tấn công. Lúc này, thời bài phong đả thực
đang lên, nên người ta không chuộng lấy tên vua quan đặt tên trường. Tên LVC,
tên ông xã Hai, xã Ba, chánh Hai, chánh Ba, ông này ông kia đều khuyến khích bỏ
tuốt luốt. Tên trường bây giờ gọi là Cấp 2 LòTre, Cấp 2 HòaThịnh...Chương trình
học cũng khác hoắc, khác chương trình HXH. Trường cấp 2 rút xuống còn 3 năm và
gọi là lớp 5, 6 và lớp 7. Năm 1954 phần lớn thế hệ học sinh này tập kết đi ra
Bắc. Trường LươngVănChánh cũng mất hút theo, còn lại là thế hệ học sinh cấp 2
năm 1954.
Thế rồi trường TrungHọc NguyễnHuệ với nền CọngHòa ở
MiềnNam VN ra đời trong môi trường thanh bình của buổi bình minh cùng với sự
lớn lên của thị TuyHòa, tĩnh lị mới của PY. Tiếp theo sau là sự ra đời 1 số
trường tư mà trường BồĐề TuyHòa là 1 trường lớn. Thế hệ này mang trong ký ức
nhiều hình ảnh phố phường TuyHòa trong buổi bình minh đó. Trên DiễnĐàn
CựuHọcSinh TrungHọc PhúYên có nhiều tác giả ghi lại hình ảnh TuyHòa NămXưa, đầu
đời VNCH. Các tác giả đều là người mới đến, theo cha mẹ anh em đến TuyHòa làm
việc. Nhưng chẳng có tác giả nào người bản địa ghi lại hình ảnh TuyHòa vào thời
kỳ này. Tôi băng khoăng muốn viết nhưng không lấy được nguồn cảm hứng nào. Nhân
nhớ lại địa danh AoSôngDinh tôi nảy ý viết về TuyHòa vào thời điểm 1954.
Viết về con Sông Dinh, con sông đã chết. Nền CọngHòa cũng đã chết. Moi lại hình ảnh
con sông thì tưởng tượng ra được khung cảnh TuyHòa, tĩnh lị PhúYên, thời bình
minh. Sông Dinh đi từ chợ Dinh, ngang qua bên hông trường BồĐề, đến khu
TrạiTiếpCư tiếp người Bắc di cư ở phía TâyBắc chợ TuyHòa. Trại ở gần cụm trường
Nam/Nữ Tiểu Học Cũ-Nguyễn Huệ Cũ. Rồi sông chảy phía sau chợ TH và phía sau trường
NguyễnHuệMới. Nhắc đến nó chắc các bạn không khỏi chạnh lòng, sống lại với
những hình ảnh cũ ngày xưa. Mong bài viết đem lại cho các bạn cùng trang lứa
mua vui được 1 vài trống canh.
Đường đi đến
Trường. Đến trường NguyễnHuệCũ học
sinh dân phường nhất theo con đường làng, nay vẫn còn là 1 con hẻm, xiên xiên
theo hướng ĐôngBắc chạy cắt đường LêThánhTôn tại địa điểm nay là quán Phú bán
bún bò huế, tiếp tục đi ngang qua sân vận động cũ có nhà máy nước đá TânXuân,
tiếp đến cắt đường LêLợi tại điểm gần nhà thầy HoàngVănTrí có tiệm gara
Motolux, tiếp tục đi ra cắt đường NguyễnHuệ mà ngày xưa gọi là đường số 6 tại
điểm phía dưới nhà mục sư tin lành(nay là trường KimĐồng), rồi xuôi đường đến
trường NguyễnHuệ: con đường tuổi thơ qua lại bao lần của những chàng trai đồng
phục áo trắng quần xanh và nàng complet áo dài trắng quần trắng. Thứ 2 đầu tuần
đồng phục trắng(nam sinh) và áo dài xanh màu thiên thanh, quần trắng(nữ sinh).
Một con đường làng nữa cũng theo hướng song song với đường làng ở trên xuất
phát từ rạp ĐạiNam ở chợ Dinh(đình phường 3) cắt đường TrầnHưngĐạo(THĐ) ở ngả
tư NguyễnTháiHọc-THĐ, tiếp chạy ra cắt đường LêThánhTôn tại điểm phía Đông nhà
đèn (nhà máy điện) gần nhà cô Khâm, chị của bạn TrầnThị MỹKhảm, rồi đến trường NguyễnHuệ. Đó là những con
đường xưa chúng em đi. Bọn thích ở gần trường thì chen nhau ở xóm gò đầy cây
gai bàn chải ở mé Bắc đường số 6, bên kia trường Nguyễn Huệ cũ. Gò đống đó dùng
làm nơi “bức cỏ” cho dân thị xã vì thời bấy giờ chưa có nhà xí tự hoại phổ
thông.
Bọn ở phường 6 thì vượt qua đám ruộng, nay là chân cầu
Hùng Vương, theo mép gò khu vực trường
NamTiểuHọc Mới và phía Bắc khu công chức đến AoSôngDinh. Bọn này bắt gặp bọn từ
phường 4 băng qua mép gò ở phía Đông chợ TuyHòa, ngang ty ThôngTin và ty
BưuĐiện, cũng tính lội qua AoSôngDinh(đình phường Năm) để đến khu vực trường
NguyễnHuệ Cũ và Nam Nữ Tiểu Học Cũ. Ao ở ngay ngả tư đường LêLợi-DuyTân. Bước
lên bờ thì tới đình BìnhHòa, nơi thờ danh tướng MaiTiếnVạn, rồi men theo xóm mà
lên khu tiếp cư ở góc ĐôngBắc ngả tư đường Lê Lợi-Nguyễn Trãi. Có một điểm tiếp
cư thứ 2 nữa ở đầu sân bay Chóp Chài, gần trường thánh Juse, bấy giờ gọi là
Trại Bò. Tất cả đều là đường làng. Đường làng trong tiết mới vào thu se se lạnh
ẩm ướt “lá ngoài đường rụng nhiều và trên
không có những đám mây bàng bạc” mà các thế hệ học sinh nhớ muôn đời: “Hôm nay tôi đi học”.
Diện mạo
thành phố năm 1954. Vào năm 1826,
triều MinhMạng, nơi này chỉ có 2 làng Phú Câu và Bảo Tháp. Trước thời Pháp
thuộc nơi đây mở mang được khu chợ Dinh và phủ cũ(ngả tư LêLợi-PhanĐìnhPhùng).
Người Pháp đến đây xây dựng lâu đài(bungalow) trên giải cát cao từ nhà ga trở
vào. Đến năm 1954 thị xã vươn lên tầm cao tĩnh lị. Qui hoạch được lập ra. Buổi
ban đầu nhà cữa giới hạn từ đường LêLợi tới bờ sông chùa và quanh chân núi Nhạn.
Trục chính là đường NguyễnCôngTrứ và trục ngắn hơn là đường PhủCũ(Phan Đình
Phùng). Nói như vậy chứ thực ra phía Bắc và Phía Nam đường Lê Lợi nối dài hãy còn
nhiều vườn hoang và ruộng.
Chính quyền bắt đầu qui hoạch thị xã thành tĩnh lị.
Qui hoạch đầu tiên là chọn điểm lập chợ TuyHòa, tức khu trung tâm thương Mại.
Theo quán tính chính quyền chọn khu Kho
Dầu ở phường 6 là nơi bến bãi như ngày xưa chọn khu chợ Dinh tại thượng
khẩu SôngDinh. KhoDầu là khu đất công tuy rộng rãi nhưng quá thấp. KhoDầu vào
năm 1953-54 Pháp đổ bộ lên chiếm làm nơi đóng quân vì vậy sau này chỗ đó thành
trại gia binh. Danh từ TrạiGái được sinh ra. Gia binh lập ra nhà thờ ĐồngTiến ở
phường Sáu cho gia đình binh sĩ theo thiên chúa giáo. Nơi này còn có tên là
ChợCá. Sau đó chính quyền lại không chọn nơi đây lập chợ mà chọn nơi khác thuận
lợi hơn. Qui hoạch các công trình công cộng người ta chọn gò đống. Gò đống có 2
cái lợi là đất cao và không phải đền bù cho dân. Không thể lấy không của dân
nên qui hoạch tránh khu đông dân. Những gò đống sau đây được chọn: khu chợ Tuy Hòa. Từ trường Bồ Đề băng xéo qua khu gò ở phía
Tây và Đông đường Nguyễn Trãi và phía Bắc đường TrầnHưngĐạo tới đường DuyTân.
Phía Đông đường DuyTân cũng là 1 gò đống qui hoạch làm khu công chức, ty ThôngTin, ty BưuĐiện.
Ty KhíTượng và các ban ngành của tòa hành chánh tĩnh
thì ở trên động cát từ đầu sân bay ChópChài tới đường LêLợi, giải nối số 1. Có
cái nhà gọi là nhà 18 gian chứa các
ban ngành của tòa hành chánh tĩnh ở trên giải cát này. Đối diện khu công chức,
bên phía Nam
đường TrầnHưngĐạo cũng là 1 gò đống nữa. Gò đống được qui hoạch làm ty Ngân Khố và trường Nam Tiểu Học
Mới. Phía Đông trường NamTiểuHọc
Mới, bên kia đám ruộng là đất làng được qui hoạch làm ty CanhNông. Tất cả dãy gò đống nói trên nằm bên hữu ngạn con SôngDinh.
Con sông bây giờ chỉ là dãy ruộng sâu gọi là ruộng rộc. Có nơi hãy còn rất sâu
như ở AoSôngDinh, ở phía sau trường NguyễnHuệMới hay ở phía trên trường BồĐề và
ở rạp hát TrầnHưngĐạo. Rạp này ở phía bắc và hảng bia ở phía nam đường TrầnHưngĐạo
thì ở ngay trên lòng sông Dinh. Khi bị lụt ngập ta biết ngay nơi đây là nơi
thấp nhất. Dãy ruộng rộc này ngăn cách khu chợ Tuy Hòa với phía bên kia là vùng
cao làng xóm thuộc khu trại tiếp cư, trường Nam Tiểu Học cũ và xóm dân chúng có
đình Bình Hòa.
Nhận diện
lòng sông. Dùng tập hợp cao độ để
nhận ra nơi nào trũng nơi nào cao để xác định đường đáy và đường đỉnh. Đường đáy sẽ là những dòng sông. Mô tả như
trên đủ để ta nhận ra lòng SôngDinh mà vào thời điểm năm 1954 chỉ còn sót lại
địa danh AoSôngDinh. Cộng vào thực tế vào năm 1954 có nhiều đoạn cho thấy rõ
ràng đó là những đoạn của lòng sông. Từ đó ta có thể nhận diện dòng chảy của
nó. Sông bắt đầu ở thượng khẩu, chỗ chợ
Dinh. Sông chảy ngang trước mặt đình phường 3 đến phía Tây cạnh trường BồĐề.
Vào niên khóa 1957-1958 đứng trong sân trường Bồ Đề nhìn ra phía Tây thấy rõ
đây là 1 con lạch sâu. Sông chảy vòng ra phía đường LêThánhTôn, xuống cắt đường
NguyễnTrãi rồi vòng ra phía sau chợ TuyHòa. Khoảng năm 1959 các nhà lồng chợ
TuyHòa 1 nửa ở trên gò 1 nửa ở dưới ruộng rộc. Rất dễ nhận ra giữa chợ Tuy Hòa(khu
gò đống mới vừa được bốc mộ mà bọn nhóc con chúng tôi đã từng đến để đi lượm
mảnh ván hòm làm con cơ trong trò chơi cầu cơ) và khu xóm bên kia là 1 dòng
sông xưa. Đến AoSôngDinh ở trước mặt đình BìnhHòa, thì diện mạo đúng là 1 dòng
sông. Nơi đây thấp nhất. Ai đã từng lội nước chơi vào lúc lụt ngập thì dễ cảm
nhận nơi đây là nơi thấp nhất. Sông tiếp tục chảy vòng phía sau khu gò lô công
chức và trường NguyễnHuệMới. Khúc này cũng dễ nhận ra nó là 1 lòng sông. Khúc
sông này nằm giữa khu gò đống lô công chức, ty ThôngTin ở phía nam và phía bên
kia(phía bắc) là khu gò có mả ông Du Ký. Bà Du Ký thì được tán ở chân núi ChópChài
còn ông được tán ở nơi đây. Phía Tây mả ông Du Ký là đình BìnhHòa ngó mặt ra
AoSôngDinh. Đúng là 1 nơi phong thủy, có đình có mộ cổ. Sông tiếp tục chảy tới
điểm nay là ngả 3 đường LêLợi-HùngVương, hợp lưu với nguồn nước chảy từ ĐồngVườnTrầu(BầuThượng)
ở phương Bắc tới, rồi chạy vòng ở sau bệnh viện(BầuHạ) để rồi đổ ra cầu VạnKiếp
ở trước mặt đình PhúCâu. Thế là hết hành trình dòng sông Dinh chảy ngang qua
thị xã, qua trước mặt 3 cái đình cổ. Dòng sông nay đã chết. Nền ĐệNhất CọngHòa
cũng chết theo vào ngày 1-11-1963. Tính tới nay được 48 cái giỗ.
Một cái nhìn
cuối cùng. Vào năm 1954 phố xá TuyHòa
hãy còn dáng dấp “tự ngàn xưa.” Nó chỉ là khu dân cư bé tí xíu gồm 1 trục dân
cư(đường NguyễnCôngTrứ) nằm nép mình sát bên bờ Bắc sông Chùa nối khu dân cư
quanh núi Nhạn với khu dân cư nhỏ hơn nằm bên bờ Bắc cữa khẩu sông ĐàRằng quanh
đình PhúCâu. Toàn bộ bờ Nam
sông Dinh bị dãy gò đống tràn ngập khống chế từ trường BồĐề băng xéo qua cuối
đường LêThánhTôn, lan xuống khu chợ TuyHòa, tràn qua khu công chức, lấn sang khu
trường Nam TiểuHọcMới thì chấm dứt. Trục đường PhanĐìnhPhùng thì ngắn chũn. Trục
bắt đầu từ chùa Cát(Bửu Tịnh ngày nay) đến sông Chùa. Trước mặt chùa Cát hãy
còn là con đường làng đi ra xóm Đường(đường LêThànhPhương) lên nối Quốc Lộ A1
mà dân địa phương gọi là ĐườngCáiTrẽ. Đám ruộng giữa con đường và nhà Thờ “ăn”
1 quả bom của quân ĐồngMinh ném quân đội Nhật năm 1945. Một hố to tổ chảng hãy
còn vào năm 1960. Máy bay nhắm phủ cũ và trường TiểuHọc thời Pháp mà ném(góc
ĐôngNam
và ĐôngBắc đường PhanĐìnhPhùng-LêLợi). Nhờ trời
bom lạc qua đây. Trường “Tiểu
Học” này dùng làm nơi mở ra trường TrungHọc LươngVănChánh, trường tĩnh
đầu tiên, năm 1946. Nhưng số mạng cay nghiệt của chúng(phủ cũ và trường) không
để nó tồn tại cho con cháu ngày sau thấy. Thoát khỏi trận ném bom này thì bị
trận tiêu thổ kháng chiến phá tan hoang cùng số phận nhà ga xe lửa và
bungalow(biệt thự của Tây) ở trên giải cát nói trên. Khi tôi vào NhaTrang học ở
trường VõTánh nhìn kiến trúc trường theo kiểu Tây không khỏi không chạnh lòng
thương tiếc cho ngôi trường cấp tĩnh này mà hình ảnh chỉ được bậc đàn anh kể
lại đúng chang như trường VõTánh. Khi Vào SàiGòn nhìn trường Petrus Ký(LêHồngPhong
ngày nay), nhìn 3 dãy nhà tương tự trong khuôn viên trường ĐạiHọc KhoaHọc SàiGòn(ĐHKH
SG) và 2 dãy nhà trong trường ĐạiHọc SưPhạm SaiGòn thấy cùng có kiến trúc tương
tự như trường VõTánh và trường phủ ở TuyHòa. Nghĩ mà tiếc cho ngôi trường xưa
bị tiêu thổ. Dãy nhà ở trường ĐHKH có tay vịn cầu thang làm bằng gỗ còn in
những vết chém chặt mà bọn quân Bình Xuyên để lại năm 1952-53 gì đó cũng làm
tôi xao xuyến. Ôi chiến tranh tàn phá những kiến trúc thuộc về di tích đánh dấu
1 thời đại trong tiến trình lịch sử nước nhà. Chỉ biết bùi ngùi ngâm “Thăng
Long Thành Hoài Cổ”
Đồng Diều, 1-11-2011






2 nhận xét:
Nguyen Tuyet
Apr 2, 2012 1:27 PM
Kính chào ông HBC. tôi thật cảm kích tấm lòng của ông đối với nơi "chôn nhau cắt rốn" PY chúng ta, dù rằng bài viết chỉ tóm tắt những điều cơ bảng không đi vào chi tiết, nhưng cũng làm cho chúng ta hình dung được "hình hài" đất mẹ PY ta, ngày sau hậu dệ chúng ta cũng cảm nhận được quê cha đất tổ PY của mình có từ đâu!
Chính bản thân tôi, tôi đã lên đập Đồng Cam xem lại ngày làm đập thời đó, trừ lại năm sinh ba tôi thì đúng là lúc ba tôi 16 tuổi là ông nội tôi mất, khi đó ông nội tôi là ông chánh tổng"Ng ngọc Lê'" ông quản lý địa hạt từ Phú Hiêp lên tới Hòa Hội là đập ĐC khi khởi công xây đập đó, có một cây lâu năm to phải đốn cây đó để làm mương nước chảy, là mương dẫn nước bây giờ , cây to thì phải là người chức sắc bấm trước cây đó phu phen họ mới dám đốn (vì cây lâu năm ngày xưa họ ngại tin vào linh thiên núi rừng) nghe người lớn nói lại là sau đó khi ông đi ngựa về nhà, nhà lá mái ba gian ở giữa đường Ng thái Học bây giờ, cũng nằm trên đường từ phố cũ chạy qua nhà cô Khâm, cô Khương, cô Khảm mà trong bài có nhắc qua. Khi ông tôi về người hầu vừa dắc ngựa cho ông ông đưa tay hứng, cô tôi thấy lạ hỏi " bẩm thầy, sao không vào nhà mà đưa tay hứng gì vậy" ông trả lời" thầy hứng hoa đẹp quá đang rớt trên tay thầy" cô tôi ngạc nhiên chẳng thấy hoa đâu cả mà sao ông tôi nói vậy! sau đó ba ngày ông nội tôi ngã bệnh mất họ cho là tại ông bấm cây cổ thụ lâu năm đó , tôi đọc bài này tôi cũng hồi tưởng lại một thưở TH còn hoang vu, rừng thấp, những ngày theo anh chặt củi hái chim dú dẻ, học trường lẩm sau nay là ty công an cũ, mỗi lần trời lụt là mới thấy con sông chết chảy như lời tác giả nói, quê hương PY ta đó ai biết những điển tích nào hãy góp vào đây để bài của tác giả HBC thêm thú vị
KÍNH CHÚC ÔNG HBC CÙNG ĐỒNG HƯƠNG BÌNH AN
N-T-TUYẾT
Reply this comment
Ong
Apr 2, 2012 11:18 PM
Cảm ơn bạn. Bài viết muốn mượn chuyện dòng sông Dinh để người đọc lưu ý sự ra đởi trường TH Nguyễn Huệ cùng với sự ra đời nền Cọng Hòa ở Miền Nam Việt Nam và muốn người đọc biết sự hình thành 1 xứ của Đất Phương Nam như thế nào để yêu "chúng nó".
Đăng nhận xét