Phần Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong sách Hồng Đức Bản Đồ
THIÊN NAM TỨ CHÍ LỘ
ĐỒ THƯ
(cũng do ĐỖ
BÁ biên soạn)
Trang 66 của sách Hồng Đức Bản Đồ do
Bộ Giáo Dục SaiGon xuất bản năm 1962: Nguyên
văn Hán Nôm và dịch âm: Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư Dẫn…vi thành quan môn tỏa.
Trang 67 dịch nghĩa: Lời dẫn những bản đồ về đường lộ trong sách
Thiên Nam Tứ Chí. Trời đất mở mang ra, tự đã có giới hạn rồi: Hình trời thì
tròn, nghiêng về phía Tây Bắc vì núi non đặt ở đấy; hình đất thì vuông, khuyết ở Đông Nam vì nơi đó chứa
nước. Cho nên ngay chính giữa là nước Tàu, 4 góc là 4 nước rợ. Phía Đông Nam
văn minh rạng rỡ nhất ngang đồng với nước Tàu. Phía Tây Bắc un đúc được sức mạnh
mẽ, khác với nước Tàu vì địa thế ra vậy. Đất An Nam ta ở về phía Nam nước Tàu,
đi ven theo về phía Đông, hình thể như cái đai áo, trên thì rộng, dưới thì hẹp.
Đất khởi lên từ núi Côn Luân, tách ra từ sông Hắc Thủy phía Đông Nam làm ranh
giới, đến khoảng núi Ngũ Lĩnh. Mạch núi phân làm 3 để nối nhau vào nước ta. Mạch
trên thì có giòng sông Xích Thủy chảy vào sông Thao(Sông Hồng?). Mạch giữa thì cao chênh
vênh đột ngột, từ ngọn Thiểu Tổ của dãy Tiểu Côn Lôn ở Quảng Tây mà đến, dáng
nghiêng nghiêng kéo mãi ra xa, rồi dựng lên ngọn núi Tam Đảo, đây là vùng đất
Thái Nguyên, Kinh Bắc tiếp với các xứ Sơn Nam, Hải Dương. Mạch phía tả, phần đầu
là 1 nhóm núi chấn ngang bọc quanh co ngàn dặm, đến châu Khâm, châu Niệm làm
như cữa thành đóng kín lại.
Trang 68: Nguyên
văn Hán Nôm và dịch âm. Trang 69 dịch nghĩa: Phần eo lại cao vút tận mây, có 1 nhánh gọi là Đèo Khẻo vô số những ngọn
núi sừng sững bọc lấy thành, có núi An Tử, ngọn Khiên Phụ Lãnh nhô vọt lên, chạy
về phía Tây đến núi Cổ Phao gồm thu sông Lục Đầu chảy vòng. Vùng ấy là xứ Lạng
Sơn, Ang Quảng và Hải Dương.
Mạch phía hữu dẫn qua Ai
Lao, ngọn cao vút tận trời, trùng trùng lớp lớp, tiếng nước chảy vang dậy như
tiếng trống thùng thùng, cheo leo gập gềnh hàng ngàn dặm, đến nước Chiêm Thành
làm thành quách. Phần ở giữa từ phía Nam chạy lên phía Bắc có ngọn Tản viên cao
vút, các núi khác vây quanh như những cây căm giụm đầu vào đùm bánh xe. Các con
sông đều qui tụ chảy về đó. Ấy là vùng những xứ
Tuyên Quang, Hưng Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam.
Ba mạch ấy đầu có núi có sông có đường bộ đường thủy. Từ trước đến
nay chưa lập thành bản đồ, để tiện việc qua lại, chúng tôi nhân việc vẽ sơ lược
những con đường ở bổn gốc mà gom lại làm thành những bản đồ của sách Thiên Nam
Tứ Chí để có thể nằm ở nhà xem mà như đi chu du khắp mọi nơi vậy. Nho sinh
trúng thức họ Đỗ
Bá, tự Đạo Phủ ở Bích Triều biên soạn.
Trang 70: Nguyên
văn Hán Nôm và dịch âm. Trang 71 dịch nghĩa: Biên tập sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư quyển thứ nhất. Từ Thăng Long tới nước Chiêm
Thành. Thứ tự các đường bộ, quán xá, cầu, bến đò. Thứ tự các đường thủy, sông
ngòi, kinh, cảng. Thứ tự các đường biển, cữa biển, sâu cạn.
Trang 73: Bản đồ đi từ Kinh Thành(số 36). Hàng A chữ
Hán Nôm: Bộ hành nhật thứ. Bộ hành cát
hành. Tảo phát kinh thành, nhất nhật túc quán Lễ; nhị nhật túc quán Cót; tam nhật…
Các hàng kế tiếp B, C, D, ghi chú các địa danh với đường Thiên Lý. Trang 72:
dịch âm hàng A của bản đồ trang 73: Bộ
hành nhật thứ…Bộ hành binh tiến... Dịch nghĩa hàng A: Thứ tự kể theo ngày đi bộ: Đi bộ lựa ngày tốt mà đi. Sáng sớm khởi hành
từ kinh thành(ghi
chú số 36 và theo lộ trình có chấm đỏ. Phía bên tay Phải là sông Nhĩ Hà), đi một
ngày trọ ở quán Lễ;
đi 2 ngày trọ ở quán Cốt, đi 3 ngày trọ ở quán Cát; đi 4 ngày trọ ở quán Vạn; đi
5 ngày trọ ở quán Bò Tục; đi 6 ngày trọ ở quán Hoàng Mai; đi 7 ngày trọ ở quán Sò; đi 8
ngày trọ ở chợ Vĩnh;
đi 9 ngày trọ ở cầu Nhà; đi 10 ngày trọ ở quán Lạc; đi
11 ngày trọ ở quán Khe Lau; đi 12 ngày trọ ở chợ Phù Lưu; đi 15 ngày rưỡi trọ ở Lũ Đăng.
Lại có đường đi 10 ngày trọ ở quán Lỗi, 12 ngày trọ ở cầu Luân, 13 ngày trọ ở Cương Gián.
Tiến
binh bằng đường bộ: Đi 1 ngày trú ở quán Ngoài Làng, đi 2 ngày trú ở quán Sảo, đi
3 ngày trú ở cầu Châu, 4 ngày trú ở quán Cót, 5 ngày trú quán Lầy, 6 ngày trú quán Ám, 7
ngày trú quán Ván,
8 ngày trú quán Ngả
Năm, 9 ngày trú ở cầu Đốn, 10 ngày trú quán Thanh, 11 ngày trú quán Thông,
12 ngày trú quán Bầu, 13 ngày trú ở cầu Nê, 14 ngày trú ở Ngả Tư, 15 ngày trú ở đò Liêu, 16
ngày trú ở cầu Cờ,
17 ngày trú ở cầu…Phần chú thích bản đồ trang 173
Trang 74: Bản đồ từ Điệp Sơn đi về Nam. Hàng A chữ Hán Nôm: Hộ; thập bát nhật xá quán Hạ; thập cửu nhật xá doanh Cầu; nhị…Các
hàng kế tiếp B,
C,D, E ghi chú các địa danh với đường Thiên Lý. Trang 75: Dịch âm hàng A trên bản đồ trang 74: Hộ; thập bát nhật xá quán Hạ…Thủy trình nhật
thứ…Thủy đạo binh thuyền…Dịch nghĩa: Hộ;
đi 18 ngày trú quán Hạ, 19 ngày trú ở doanh Cầu,
20 ngày đường núi trú ở Khe Gạo; đi đường chánh trú ở mũi Dao; đi
21 ngày đường núi trú ở Sùng Ái; đi đường chánh trú ở xã An Bài.
Thứ tự kể theo
ngày đi bằng đường thủy: từ bến Vọng
Lâu, khởi hành sớm đi 1 ngày đậu ở Phủ Linh, 2 ngày đậu ở Vân Sàng,
3 ngày đậu ở Thần
Phù, 4 ngày đậu ở Gái Lo, 5 ngày đậu ở cầu Khương, 6 ngày đậu ở vũng Hinh, 7
ngày đậu ở chợ Bạng,
8 ngày đậu tuần Cữa
Kiền, 9 ngày đậu ở vạn Phần, 10 ngày đậu ở cầu Cấm, 11 ngày đậu ở Phúc Châu,
12 ngày đậu ở chợ Sơn, 13 ngày đậu ở Nhượng Bạng, 14 ngày đậu ở doanh Tháp, 15
ngày đậu ở Thiển
cảng. Có mưa thì không giữ đúng hạn kỳ trên.
Đường
thủy của binh thuyền: Từ kinh đô mà đi 1 ngày đến bãi Bông, đi
2 ngày đến bãi Tức
Mặc, 3 ngày đến Thiên Phái, 4 ngày đến Thần Phù, 5 ngày đến vạn Xích Thẩm,
6 ngày đến vạn Tốt,
7 ngày đến Bố Vệ,
8 ngày đến vũng Hinh,
9 ngày đến chợ Bạng,
10 ngày đến. Phần chú thích bản đồ trang 74
Trang 77: Bảng đồ tr 77. Hàng A: Chữ
Hán Nôm: Cữa kiền thập nhất nhật tháp cầu
Chiêm thập nhị nhật tháp Bến Đạo…Các hàng kế tiếp B, C, D, E, F ghi chú các địa danh. Trang
76 dịch
âm hàng A bản đồ trang 77: Cữa kiền…Dĩ Đại
Chiêm môn cư Dậu vị, trực chỉ…Dịch nghĩa: Cữa Kiền, đi 11 ngày đến cầu Chiêm, 12 ngày đến bến Dao, 13 ngày đến cầu
Cấm, 14 ngày đến Vĩnh(ghi chú nói là cầu Vĩnh), 15 ngày đến cầu Ngạn, 16 ngày đến
cầu Nại, 17 ngày đến cầu Lạc, 18 ngày đến doanh Trạm, 19 ngày đến doanh Cầu. nếu
gặp cữa sông cữa biển nông cạn và mưa gió thì không giữ đúng thời hạn trên.
Vượt theo đường biển, dùng thuyền bườm to và
thương thuyền 4 chiếc, thuyền lớn và thuyền chắc đều có thể dùng đi được. Ban
ngày ở xa nom theo Kế Sơn, ban đêm thì xem sao và trăng. Lại dùng máy đo bóng mặt
trời mà đo. Nếu từ cữa Lạc vượt biển mà vào thì
phải đi trong mùa Thu hay mùa Đông, để ra thì phải đi trong mùa Xuân hay mùa Hạ
thì được luồng gió Bấc; lúc ấy lấy cữa Lạc đặt vào vị Cấn[ Đông Bắc] (24 hướng là
Tý: chính bắc, Qúy Sửu Cấn Dần
Giáp Mẹo: chính Đông, Ất Thìn Tốn Tị Bính Ngọ: Chính Nam, Đinh Mùi Khôn
Thân Canh Dậu: Chính Tây, Tân Tuất Càn Hợi Nhâm. Bắc còn gọi là Khảm, Đông là Chấn, Nam là Ly, Tây là Đoài) và
nhắm thẳng phương Khôn[Tây Nam] đi nửa ngày thì đến biện Sơn. Lấy biện Sơn đặt
vào vị Nhâm[Bắc] và nhắm thẳng phương Bính[Nam], qua nửa ngày thì đến cữa Hội
Thống. Lấy cữa Hội Thống đặt vào vị Kiền[ Tây Bắc] và nhắm thẳng phương Tốn[Đông
Nam], đi 1 ngày thì đến cữa Bố Chính(chú
thích gọi là cữa Thanh). Lấy
cữa Bố Chính đặt vào vị Tân[Tây], nhắm thẳng phương Ất[Đông], đi 1 ngày thì đến
cữa Tư Khách, đặt vào vị Canh[Tây], nhắm thẳng phương Giáp[Đông], đi 1 ngày thì đến cữa Đại
Chiêm, đặt vào vị Dậu[Tây], và nhắm thẳng…Phần ghi chú địa danh bản đồ trang 77.
Trang 78: Bản đồ Thanh Hóa. Hàng A nguyên văn chữ Hán Nôm: Mão phương nhất nhật tức tựu Ô Lô môn…Các hàng khác ghi chú các địa
danh. Trang 79 dịch âm hàng A bản đồ
trang 78: Mão phương, nhất nhật tức tựu…Thần
Phù môn hải ngoại…Kính Vây tối trường…Cữa Chào hữu cự…bảo hải trung tâm như
hồ trì…Dịch nghĩa: ..phương Mão[Đông], đi
1 ngày thì đến cữa Ô Lô. Từ cữa đó đến cữa Phổ Trì của Chiêm Thành đều nằm về
phương Chấn[Đông Nam] làm đích. Cữa Thần Phù ở ngoài biển về bên hữu có một ngọn
đá nhỏ và nhọn gọi là núi Chiếc Đũa. Xưa vua Lê Thánh Tông đi tuần thú đến đấy
đã tức cảnh khắc bài thơ rằng:(không trích bài thơ).
Cữa Thần Phù, Từ Thức đã đi
chơi đến đây gặp tiên gọi là cữa Tiên Hôn, bên cữa có động Từ Thức, hai nơi rất
thanh tịnh sâu kín, con cờ của tiên và bàn cờ bằng đá đều còn đủ.
Kính Vây dài hơn hết đi 2
ngày mới qua khỏi; chợ Thấp phần nhiều bán những vật như cối đá, chày đá, neo
đá, đá tán cột nhà.
Cữa Chào có 3 đợt sóng to, hễ có nghe tiếng người
trên thuyền thì dậy lên từ dưới nước hình như gò núi xô ngang mà lật úp thuyền
người, dậy lên 3 đợt rồi mới hết. Ở ngoài biển huyện Ngọc Sơn có 1 hòn núi, dựng
đứng lên giữa biển như hình chữ ất, bao quanh phần biển vào trong lòng như ao hồ...Phần
ghi chú các địa danh bản đồ trang 78.Trang 81: Bảng đồ Nam Thanh Hóa. Hàng A nguyên văn chữ Hán Nôm: Phong lãng bất nhập kham dung trú hải…Các hàng khác ghi chú các địa danh bản đồ trang 81. Trang 80 dịch âm: …phong lãng bất nhập…Khe Bà Mười…Quyền hải môn…Kinh dậu…An Bài xã…như biều thậm đa. Dịch nghĩa: …gió và sóng không vào được, có thể chứa các tàu biển tránh gió, tên gọi là Biện Sơn có quan tuần cảnh xem xét. Khe Bà Mười, khe Cát, khe Luân khô cạn hơn hết, trên bờ cây cỏ um tùm lộn xộn. Từ cữa kinh Nắng đến cữa Xước là sông nhỏ, nhỏ mà sâu, bờ lại rộng, một con sông thông được 2 cảng. Cữa Quyền và cữa Hiền đều còn có dấu vết, nhưng thuyền không thể ra vào. Hai bên cữa Bích không có núi làm giới hạn, nước cạn thì cữa biển khó ra vào. Kinh Dâu và cữa Thai lại dài. Cữa Quyền lại ngắn. Cữa Thai thì cá và muối phần nhiều rất tốt, chợ thì có 2 kỳ, ngày mùng 2 và mùng 6, nhưng mỗi ngày cũng có nhóm. Xã An Bài có nhiều hải sâm, kinh Mè thì cảng bằng không có chướng ngại, dáng quanh co, như cái khánh, như trái bầu rất nhiều. Phần ghi chú các địa danh bản đồ trang 81
Trang 81: Bảng đồ Nam Thanh Hóa. Hàng A nguyên văn chữ Hán Nôm: Phong lãng bất nhập kham dung trú hải…Các hàng khác ghi chú các địa danh bản đồ trang 81. Trang 80 dịch âm: …phong lãng bất nhập…Khe Bà Mười…Quyền hải môn…Kinh dậu…An Bài xã…như biều thậm đa. Dịch nghĩa: …gió và sóng không vào được, có thể chứa các tàu biển tránh gió, tên gọi là Biện Sơn có quan tuần cảnh xem xét. Khe Bà Mười, khe Cát, khe Luân khô cạn hơn hết, trên bờ cây cỏ um tùm lộn xộn. Từ cữa kinh Nắng đến cữa Xước là sông nhỏ, nhỏ mà sâu, bờ lại rộng, một con sông thông được 2 cảng. Cữa Quyền và cữa Hiền đều còn có dấu vết, nhưng thuyền không thể ra vào. Hai bên cữa Bích không có núi làm giới hạn, nước cạn thì cữa biển khó ra vào. Kinh Dâu và cữa Thai lại dài. Cữa Quyền lại ngắn. Cữa Thai thì cá và muối phần nhiều rất tốt, chợ thì có 2 kỳ, ngày mùng 2 và mùng 6, nhưng mỗi ngày cũng có nhóm. Xã An Bài có nhiều hải sâm, kinh Mè thì cảng bằng không có chướng ngại, dáng quanh co, như cái khánh, như trái bầu rất nhiều. Phần ghi chú đia danh bản đồ trang 82.
Trang 85: (Thừa tuyên Hà Tĩnh. Từ Cữa Hội Thống(Vinh) đến Cữa Nhượng Bạng). Hàng A nguyên văn Hán Nôm: Nghĩa Liệt sơn hữu…. Các hàng khác ghi chú các địa danh bản đồ trang 85. Trang 84 Dịch âm chữ Hán Nôm: Nghĩa Liệt sơn hữu…Núi Khâu hữu nhất sơn…trảo Nha xã…Cầu triển giang…. Dịch nghĩa: Núi Nghĩa Liệt có 1 tòa thành bằng đất hầm, tục gọi là Thành Măng bao la rộng rãi ở trên núi. Xưa tướng nhà Minh là Mộc Thạnh xây lên và giữ ở đấy. Núi Khâu có 1 núi gọi là Chóp Độn và 1 ngọn gọi là Vực Độn, ở trên đấy có vực sâu, có những linh vật như bàn cờ đá và con cờ tiên. Xã Trảo Nha có 1 ngọn núi, trên núi có tháp gọi là Tháp Ngàn. Sông Cầu Triển quanh co khó thông, từ cầu Ngạn mà vào thì phải chèo thuyền ven theo bên Thạch Hà, mà ra thì phải chèo thuyền ven theo bên Thiên Lộc. Có câu tục ngữ rằng: “Vào Thạch Hà ra, Thiên Lộc.
Bản đồ trang 86: Thừa tuyên Nghệ An. Từ Nhượng
Bạng hải môn đến Vũng Áng-Hoành Sơn.
Hàng A nguyên văn Hán Nôm: Nhượng Bạng
môn tả biên hữu quần sơn…Các hàng khác ghi chú các địa danh. Trang 87 dịch âm: Nhượng Bạng môn tả biên…Cầu Tạm Xứ tương truyền…Sơn cước lộ…Trường
Sơn Phù Lâm. Dịch nghĩa: Cữa Nhượng Bạng ở bên Tả có 1 chòm núi dáng
nghiêng ngửa như chim bay. Từ Thiên Tải dừng lại gọi là núi Thiên Cầm. Chỗ Cầu
Tạm, tương truyền xưa có 2 người, một người đàn ông 1 người đàn bà ưa thích
nhau tạm hẹn cùng vui thú ở đây nhưng bị lạc đường vì sông nước cách trở, hờn
duyên không được vầy họp, đều tự tử nơi ấy. Nhân thế gọi núi ông Hương và núi
Bà Xã. Đường núi từ Lũ Đăng đến bến đò Kim Linh đến bến Kim Sơn phải đi 2 canh
rưỡi. Từ Kim Sơn đến Phù Lâm ở Trường Sơn.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét