![]() |
| Nhờ bản đồ có dung lượng lớn zoom to ra xem rõ các chi tiết địa hình giúp 1 lần nữa xem xét sự mất còn |
![]() |
| Bản đồ số 7: đường biên giới cũ và mới ở trên nền bản đồ AMS |
![]() |
| Đường biên giới mới ở phía Đông |
![]() |
| Đường biên giới mới ở phía Tây |
![]() |
| Trái núi đá sừng sững ở phía Tây tạo bức tường đá cao trên 500m |
![]() |
| Google map chụp nghiêng |
1-LỜI GỚI THIỆU. Năm 1999 Hiệp Định Biên Gới Vệt-Trung ra đời. Khoảng sau năm 2000 nổi lên dư luận chuyện Vệt
Nam mất đất ở biên giới. Nhiều bài vết về sự mất mát ở thác Bản Giốc và ở ải
Nam Quan. Đúng sai không biết đâu mà lường vì tài liệu chứng minh không những
nghèo nàn về lượng và cả về phẩm. Các bức ảnh cũ chụp hình Ải Nam Quan, các bản
đồ cũ thời Pháp Thuộc được đưa ra. Các biên bản cắm mốc thời Pháp-Thanh như Biên
Bản Số 4(Procès verbal N04 ngày 7-4-1896), biên bản ký 15-12-1890 và
21-4-1891 liệt kê tên các cột móc đoạn
thứ nhất từ Móng Cái tới biên giới Quảng Đông-Quảng Tây và đoạn thứ 2 từ Bình
Nhi, nhật ký “Sur les frontières du Tonkin” của P. Neis được viện dẫn và nhiều
văn bản khác cũng được trích ra nhưng tất cả không làm rõ ràng gì. Hấp dẫn nhất
và cũng không có giá trị thuyết phục gì nhiều về các bức ảnh về Km0 chụp ở nhiều
vị trí cho thấy nó bị di dời về Nam.
Không biết bên nào, VN hay TQ, đưa ra chuyện
Km0. Truyền miệng nói là Phạm Văn Đồng(PVĐ) trồng 1 cây si để đánh dấu cột móc
số 18 ở trước cổng Nam Quan. Những bức ảnh chụp Km0 được đưa ra. Lúc đầu thấy đề
“Km0-HỮU NGHỊ QUAN”. Ảnh chụp năm 2000 cho thấy cột móc Km0 đề chữ HỮU NGHỊ, mất chữ
QUAN. Rồi các hình chụp năm 2005 cho thấy cây cổ thụ ở phía sau cột Km0 bị chặt bỏ. Tếp theo người ta thấy cột Km0 đứng trơ
vơ trước 2 miệng hầm đen ngỏm đen ngòm nhìn vào 1 quảng trường có bia đề Nam
Cương Quốc Môn và nhà hải quan của TQ bề thế. Rồi cột móc mới 1116/1117
được dựng lên thay Km0. Bây giờ nghiệm lại mới hay ra là chiến dịch định hướng
dư luận để năm 1999 hiệp định biên giới được ký thì TQ tiến hành xây dựng đường
cao tốc 322, đục 1 cái hầm đôi xuyên qua quả đồi phía Đông Ải Nam Quan, chiếm
luôn ½ đồi ĐôngNam
để lập 1 quảng trường ở giữa
2 đồi Đông và đồi ĐôngNam. Dư luận nói về sự mất còn lắng xuống và người ta thầm
bảo nhau cứ chờ nhà nước công bố bản đồ và văn bản về hiệp định biên gới mới biết
thực hư. Cuối cùng bản đồ có các móc giới
mới cũng được đưa ra nhưng dung lượng quá nhỏ. Hình các cột móc cắm chi chít làm
không nom rõ chi tiết địa hình. Nếu zoom lớn lên thì hình ảnh mờ không giúp hiểu
biết thêm gì ráo. Người ta cũng mù tịt như trước đây nhìn vào bản đồ Charpès
1894 hay bản đồ 249C…hay nhìn vào các bức ảnh cổ chụp Ải Nam Quan. Rồi Nghị Định
Thư 2009 mô tả các cột móc cũng được lan truyền.
Gần đây bộ bản đồ Army Map Services(AMS) xuất bản năm 1964 của
Quân Đội Mỹ được lan truyền. AMS vẽ trên căn bản bản đồ Services Geographque de
L’Indochine(SGI) của Sở Địa Dư Đông Dương xuất bản thập niên 1950 với tỉ lệ
1/25000. AMS có tỉ lệ 1/50000 và ảnh đện tử có dung lượng lớn nên có thể zoom
mà xem rõ các chi tiết địa hình. Trên đường biên giới trong bản đồ AMS còn ghi
số các cột móc thời Pháp Thanh ví dụ cột 16, 17, 18, cột 19... Đây là dịp để
xem xét lại chuyện cắm móc ở biên giới, chuyện mất còn đất đai . Dư luận lại
xôn xao với các bài viết về biên giới mới-cũ.
2-CHUYỆN BIÊN GỚI MỚI-CŨ.
2.1-Cách chồng đường biên giới mới với các cọc
móc mới lên bản đồ AMS. Nghĩ rằng bản đồ AMS, gọi tắt là AMS, là bản đồ thể hiện
được biên gới thời Pháp-Thanh. AMS có tỉ lệ nhỏ và dung lượng lớn nên có thể
zoom lớn để xem chi tiết địa hình có đúng như mô tả trong các văn bản hay
không. Đường biên giới mới mà “rập khuôn”(chồng lên) được trên nền AMS thì ta
có dịp so sánh có mất còn đất ở biên gới hay là không. Nhưng tọa độ của các cột
móc mới theo Nghị Định Thư 2009 lại được xác định theo hệ WGS-84 khác với AMS vẽ
theo hệ trắc địa Indian 1960 với tọa độ tính từ móc chuẩn ở Ấn Độ dẫn sang VN.
Tác giả Dương Danh Huy, Phạm Quang Tuấn và Phan Văn Song trên trang boxitvn
blogspost.com nói giải quyết chuyện này đơn giản vì có phần mềm dùng những công
thức chính xác cho việc chuyển đổi tọa độ. Các tác giả nói họ kiểm tra kết quả
so với kết quả của Cục Tình Báo Địa Không Gian Quốc Gia của Mỹ dùng phương pháp
này thì sai số chỉ vài mét thôi.
Họ dùng phần mềm chuyển tọa
độ cột móc như Nghị Định Thư năm 2009 mô tả sang tọa độ hệ trắc địa Indian
1960. Rồi dùng phần mềm chiếu các tọa độ cột móc lên AMS với phép chiếu
Universal Transverse Mercator(UTM) dùng múi 48(tức cùng phép chiếu với AMS) và
dùng cùng tỉ lệ AMS. Cuối cùng chồng bản đồ bộ cột móc mới lên bản đồ AMS bằng
những phép chiếu tuyến tính. Tác giả nói thêm là nên dùng thông tin về địa hình
để rà soát lại. Sai số sẽ giảm thiểu.
2.2-Áp dụng kỷ thuật trên vào trường họp đường
biên giới ở Ải Nam Quan. Trong bài viết
đăng trên Dân Luận hai tác giả Phạm Quang Tuấn và Phan Văn Song thực hiện công
trình đưa đường biên giới mới lên nền bản đồ AMS ở Đồng Đăng rồi so sánh biên
giới mới/cũ.
Trước hết chuyển tọa độ của
các cột móc ở quanh Ải Nam Quan như Nghị Định Thư(NĐT) 2009 mô tả thuộc hệ WGS-84
sang tọa độ thuộc hệ trắc địa Indian 1960 cùng tỉ lệ với bản đồ AMS.
Rồi đặt 1 lớp(layer) bộ tọa độ
cột móc(thể hiện bằng các hình vông màu
xanh) lên nền bản đồ AMS ở ĐồngĐăng. Zoom
lớn bản đồ AMS. Xem xét địa hình mà AMS thể hiện có đúng với địa hình mà NĐT mô
tả hay là không. Trước khi đối chiếu địa hình trên AMS thể hiện với địa hình mô
tả trong NĐT, hãy nắm ý nghĩa các thuật ngữ sau đây: (AMS vẽ theo phép chiếu UTM. Đường Kinh/vĩ cũng dùng
làm đường kẽ ô “vuông” cho bản đồ. Mỗi ô là 1Km2. Khoảng cách các
vòng cao độ chính là 100m(in đậm). Khoảng cách các vòng cao độ phụ là 20m. Căn
cứ vào đó để xác định các cự ly và cao độ các chi tiết địa hình như sông suối,
núi đồi. Đường phân thủy là đường đỉnh chia nước chảy đôi đường về bên này và
về bên kia vào 2 dòng nước chạy theo ở 2 bên nó. Đường dòng nước chảy theo gọi
là đường đáy. Đường đỉnh được nhận diện ở chỗ có thể hiện dòng nước. Chỗ không
có dòng nước thì gọi là đường sống núi và đường khe núi. Sống núi và khe núi
được thể hiện bằng tập hợp các vòng cao độ hình chữ V. Sống núi được nhận diện trên bảng đồ
nhờ các vòng cao độ hình chữ V mà đỉnh nhọn chúc xuống hướng tới vòng cao độ có trị số
nhỏ
hơn. Ngược lại ngay bên cạnh đó là khe núi được thể hiện bỡi các vòng cao độ hình chữ
V mà đỉnh nhọn ngước lên hướng tới vòng cao độ có trị số lớn hơn.
Đường băng qua các vòng cao độ có trị số khác nhau biểu thị dốc núi.
Các vòng cao độ càng khít nhau thể hiện độ dốc càng cao. Khoảng giữa cùng 1
vòng cao độ là khoảng bằng phẳng vì cùng cao độ. Trái núi hay dãy núi được thể hiện bỡi các vòng cao độ
đồng tâm. Càng vào trung tâm trị số càng lớn. Giữa 2 vòng cao độ trị số khác
nhau có thể có 1 vòng tròn nhỏ thể hiện 1 điểm cao độ hay 1 cái đồi nhỏ. Yên ngựa
là chỗ trũng giữa 2 trái núi tiếp xúc nhau(2 chân sống núi gặp nhau) hay chỗ lồi
lên ở nơi 2 khe núi gặp nhau). Yên ngựa biểu thị 1 cái đèo thường dùng làm cữa
khẩu. Kết quả:
Giữ đúng tọa độ như trong
Nghị Định Thư(NĐT) chiếu lên nền bản đồ AMS. Ta có bản đồ số 1: Đường Biên Gới Mới(ĐBGM)
dời về phía Nam 200m ở trên QL1. Kiểm tra các cột 1101, 1102,1110,
1113,
1120,
1124,
1126,
1129
thấy không qua đỉnh núi như NĐT mô tả. Và ĐBGM không qua cao điểm 364m ở
giữa cột 1118
và 1119
như Nghị Định Thư mô tả. Vậy bản đồ này không chính xác. Bây giờ di chuyển bộ cột
móc trên nền bản đồ AMS để cột Km0(giữa cột 1116 và 1117)
nằm trên đường biên giới của AMS ta có bản đồ số 2.
Bản đồ 2: Trên bản đồ này
không có cột móc nào ở trên đỉnh núi như NĐT mô tả. Và giữa cột 1125
và 1126
không có suối
nào chảy qua như NĐT mô tả. Kết luận bản đồ này không chính xác. Và kết luận
ĐBGM không ở trên đường biên cũ(AMS thể
hiện bỡi đường màu đen có đánh dấu cột móc số 16, 17, 18 và 19). Xê dịch bộ cột móc trên nền AMS 100m về phía Nam trên QL1 theo như đồn
đại TQ ũi cột 18 để dời đi 100m.Ta có bản đồ 3.
Bản đồ 3: trên bản đồ 3 chỉ
có cột 1120
và 1124 mới
ở trên đỉnh núi như NĐT mô tả. Bản đồ này bị loại đi, không chấp nhận được. Di
chuyển từng chục mét một cho đến khi tối đa các cột móc ở vị trí mà ở đó, trên nền AMS,
có địa hình giống như NĐT mô tả. Ta có bản đồ số 4.
Bản đồ số 4: Trên bản đồ này
các cột 1095,
1101,
1102,
1110,
1113,
1124
đều ở trên đỉnh núi như NĐT mô tả. ĐBGM cũng qua đỉnh 364m ở gữa cột 1118
và 1119
như NĐT mô tả. AMS không thể hiện 1 đỉnh ở cột 1120 như NĐT mô tả nhưng bản
đồ 29 trong công báo 642-649 có thể hiện 1 đỉnh núi ở đây. Cột 1125
và 1126
nằm ở 2 bên suối như NĐT mô tả. Chỉ có 2 cột 1126 và 1129 không
ở trên đỉnh núi. Hai tác giả nói có lẽ ở xa(xa
ải Nam Quan) nên đo đạc không chính xác
hay có nhưng AMS không thể hiện như trường họp ở cột 1120. Hai tác giả này kết
luận bản đồ số 4 thể hiện chính xác các cột móc mới ở trên nền bản đồ AMS. Địa
hình mô tả trong NĐT giống địa hình AMS thể hiện. Hai tác giả lại lấy đường
biên gới mới(ĐBGM)
từ bản đồ của NĐT được chuyển đổi sang hệ tọa độ theo hệ trắc địa Indian 1960
như AMS rồi chồng lên bộ tọa độ các cọc mốc mới trong bản đồ số 4 thì thấy
ĐBGM chồng khít lên các cột móc mới và ta có bản đồ số 7 thể hiện ĐBGM trên nền
bản đồ AMS. Sau đây là đoạn mô tả ĐBGM của NĐT. Ta thấy nó trùng họp với địa
hình trên AMS.
Từ cột 1095 ở trên đỉnh núi(536,71m), ĐBGM theo đường thẳng hướng Nam
đến cọc 1196
đặt tại thung lũng(Trên
AMS thấy nó ở chân 1 trái núi ghi cao độ là 583m và có đánh dấu điểm trắc địa
hình hình tam gác. Có con đường mòn băng qua dãy núi).
Đoạn cột 1101: ĐBG từ cột 1101 đặt trên đỉnh
núi(483,41m)
theo đường thẳng
hướng Nam
đến cọc 1102(a)
đặt trên đỉnh
núi(483,23m)(trên AMS thấy thể hiện vòng cao độ 400m ở về phía
Đông núi). Rồi ĐBG theo đường thẳng hướng TâyNam đến cột 1102/1(b)
đặt trên dốc
núi, ĐBG đi tiếp hướng Nam-ĐôngNam tới cột 1102/2(c) đặt trên sống núi,
ĐBG đi tiếp theo đường thẳng hướng Nam, cắt đường mòn rồi đến điểm có độ cao 470m,
sau đó theo đường sống núi hướng chung TâyNam đến cột 1103(d)
đặt trên yên
ngựa(AMS thể hiện rõ địa hình ở đây
giống như NĐT mô tả trên đây. Đoạn a-b là dốc núi hướng TâyNam-ĐôngBắc. Đoạn b-c đúng là sống núi ở phía Tây 1 khe núi.
Khe này chạy từ đường mòn ở Lung Huai lên trái núi cao trên 400m ở
TâyBắc. Đường mòn đó chạy từ cổng làng
lũng Yao(Nghiêu) đến cột móc 16. Đoạn c-d cũng là sống núi mé ĐôngNam trái núi
có hình tam giác ở phía Bắc cột 16 trên bản đồ AMS. Đúng cột 1103
nằm trên yên ngựa là nơi trái núi hình tam giác nói trên tiếp nối với trái núi ở
phía Nam có hình bầu rượu đầu hướng lên phía Bắc. Đây là trái núi cuối cùng của
dãy núi từ cổng làng Lũng Nghiêu chạy tới đây. Yên ngựa là 1 cái ải nhỏ có đường
mòn từ Khù Da đến Lũng Huai trên bản đồ AMS. Ở đây có cột 16).
Đoạn sau cột 1103: Từ cột 1103 ĐBG theo sống núi, đi về hướng Nam đến
cột 1103/1
ở trên sống
núi(371,35m). Theo sống núi hướng Đông-ĐôngBắc tới điểm cao độ 382m ở trên đỉnh núi. Đi theo hướng Đông đến cột 1103/2 ở dốc núi(347,15m),
cạnh đường cái . Theo đường sống núi hướng ĐôngBắc đến điểm cao độ 361m. Theo
đường thẳng hướng ĐôngNam đến mốc 1104 ở phía Tây đường cái (311,3m).
Theo đường thẳng hướng Đông cắt đường cái đến cột 1105 ở phía Đông đường
cái(312,24m). Theo đường thẳng hướng Đông đến
mốc 1106 trên
sống núi(359,5m)(Theo mô tả thì các cọc
từ 1103/1 đến 1125 ở sườn phía Đông núi hình “củ khoai”và đường cái ở phía Tây
đường mòn trong AMS. AMS không thể hiện đỉnh núi 382m)
Đoạn cột 1107: Từ cột 1106
đặt trên sống
núi(359,5m)
ĐBGM theo đường sống
núi hướng chung là hướng Nam đến cột 1107 đặt trên sống núi(349m) cạnh đường mòn. ĐBG tiếp theo
đường thẳng hướng Đông-ĐôngBắc đến cột 1108 đặt trên sống núi(418,39m).
ĐBG lại theo đường sống núi hướng chung ĐôngNam đến cột 1109
đặt trên yên ngựa(369,28m)(Đây là đường
biên bao quanh đầm lầy trồng lúa sâu hơn 300m ở phía Tây dãy núi đá chạy đến ĐồngĐăng
thì chấm dứt. Bờ đầm thể hiện bỡi vòng cao độ có ghi trị số 300m. Hướng đi của
ĐBG thể hiện đúng như địa hình thể hiện trên bản đồ AMS. Phía Nam đầm có trái
núi hình bầu dục hướng ĐôngNam-TâyBắc thể hiện bỡi 2 vòng cao độ đồng tâm. Vòng
trong in đậm là vòng 400m. Trái núi ở cột 1110 thể hiện bỡi 6
vòng cao độ. Vòng trong cùng in đậm là vòng 400m. Giữa 2 trái núi này là yên ngựa)
Đoạn cột 1110: ĐBG theo đường
sống
núi hướng chung Đông-ĐôngNam
đến cột 1110
đặt trên đỉnh
núi(412,29m)
rồi theo đường thẳng hướng ĐôngBắc đến điểm có độ cao 436m, tiếp theo đường sống núi
hướng chung Bắc-ĐôngBắc
đến cột 1111
đặt trên yên
ngựa(407,72m).
ĐBG đi tiếp theo sống núi hướng chung là hướng Bắc đến điểm có cao độ 430m rồi
theo đường thẳng hướng ĐôngNam đến cột 1112 đặt trên yên ngựa(404,38m)
cạnh đường mòn. ĐBG tiếp tục đi theo đường
thẳng hướng ĐôngNam
đến điểm có độ cao 430m rồi theo đường sống núi hướng chung Bắc-ĐôngBắc đến
cột 1113. Địa
hình NĐT mô tả giống địa hình trên AMS thể hiện(ĐôngBắc đầm lầy có 1 trái núi nhỏ thể hiện bỡi 3 vòng
cao độ đồng tâm. Vòng ngoài cùng in đậm là vòng cao độ 400m. Phía Nam trái núi có điểm cao
độ 436m
thể hiện bỡi 1 vòng nhỏ in đậm nét. Phía ĐôngBắc của núi nhỏ có 1 chỗ trũng
hình tam giác. Phía Nam chỗ trũng là cao điểm 430m thể hiện bỡi 1 vòng hình bầu dục
in đậm nét và 1 vòng tròn nhỏ ở trong. Phía ĐôngBắc chỗ trũng là cao điểm 430 thể
hiện bỡi ½ vòng tròn đậm nét(vòng cao độ 400m) và 1 vòng tròn nhỏ ở bên trong.
Yên ngựa thứ nhất là chỗ khe núi ở giữa trái núi nhỏ với cao điểm hình bầu dục
tiếp cận với chỗ trũng hình tam gác. Yên ngựa thứ 2 ở khe núi thứ 3 gặp chỗ
trũng).
Đoạn cột 1113: Cột 1113
đặt trên đỉnh
núi(462,77m).
Từ đây ĐBG theo đường thẳng hướng ĐôngBắc đến cột 1114 đặt trên dốc núi(390,14m),
kế tiếp theo đường thẳng hướng Đông đến cột 1114/1 ở trên dốc núi(360,47m).
Lại theo đường thẳng hướng Bắc đến cột 1114/2 đặt trên dốc núi(347,79m); đi tiếp theo đường thẳng
hướng Bắc
đến cột 1114/3
đặt trên dốc núi(376,79m).
ĐBG đi tiếp theo đường thẳng hướng Tây-TâyBắc đến cột 1114/4 đặt trên dốc núi(397,11m), lại theo đường thẳng hướng Bắc đến
cột 1115
đặt trên sống núi(421,69m).ĐBG
đi tếp theo đường sống núi hướng chung Đông-ĐôngNam qua điểm cao độ 359m, đến
điểm cao độ 334m
rồi theo đường thẳng hướng Đông đến cột 1116 có gắn quốc huy đặt
trên sườn núi
phiá Tây đường cái từ cữa khẩu Hữu Nghị đi Hữu Nghị Quan(Trái núi ở cột 1113 ở trên VCĐ 340m dang ra như hình móc câu
hướng về Nam, chỗ gần cột 17. Một vòng tròn nhỏ thể hiện cao độ 460m.
Phía Nam dốc núi mà cột 1114 và 1114/1 tọa lạc là khe núi và sống núi chạy lên
trái núi nói trên. Các cột 1114/2 , 1114/3 và 1114/4 phụ đều ở dưới vòng cao độ 400m. Cột
1114/2
ở thấp nhất. Đến cột 1115 , ĐBG mới lấy lại độ cao 400m, ở chỗ VCĐ 420 dang dài về phía Tây thể hiện 1 chỗ bằng phẳng
và ở trên đỉnh sống núi thứ 2 ở phía Nam Ải Nam Quan. ĐBG theo sống núi này đi
về Đông. Một vòng cao độ hình tròn ở gữa vòng cao độ 340 và 360m. Có phải điểm
cao 359m?
đểm cao độ 334m
không thấy thể hiện trên AMS).
Đoạn cột 1117: Cột 1117
có gắn quốc huy đặt trên sườn núi phía Đông đường cái từ cữa Hữu Nghị đi Hữu
Nghị Quan.Từ cột 1117 ĐBG theo đường thẳng hướng Đông-ĐôngBắc
đến cột 1118
đặt trên sườn
núi(320,63m),
lại theo đường sống
núi hướng chung là hướng Nam qua điểm cao độ 364m đến cột 1119 đặt trên sống
núi(350,96m).
ĐBG đi tiếp theo đường sống núi hướng chung là hướng Đông đến cột 1120 đặt trên đỉnh
núi(320,91m),
tiếp tục đi theo đường thẳng hướng Đông đến cột
1121
có gắn quốc huy đặt trên dốc núi(294,96m). ĐBG đi tếp theo đường thẳng hướng Đông cắt
qua 1 con suối và đường sắt đến cột 1122 có gắn quốc huy đặt ở phía Đông đường sắt(294,33m). (Cột
1118 và
1119
ở 2 bên đỉnh núi có đánh dấu trị số 371m trên AMS. Tại cột 1120 bản đồ AMS không thể
hiện 1 đỉnh núi. Cột 1121 ở gữa vòng cao độ 280m và vòng cao độ
300m. Cột 1122 nếu cũng ở gữa 2 vòng cao độ đó thì phải ở phía ĐôngNam trong bản đồ AMS, chỗ vòng cao
độ 300m ở phía Đông dãn ra xa đường 280m về phía ĐôngBắc).
Đoạn cột 1123: Từ 1122,
ĐBG theo đường thẳng hướng Đông đến cao điểm 315m(a) rồi theo đường sống núi
hướng chung Bắc-ĐôngBắc
đến cột 1123
đặt trên sống
núi(354,12m),
rồi theo đường sống
núi hướng chung Đông-ĐôngBắc
qua cao điểm 368m(b)
đến cột 1124
đặt trên đỉnh
núi Co Mìn(403,68m).
ĐBG tếp tục đi theo đường thẳng hướng ĐôngBắc, cắt qua 1 đường mòn đến cột 1125
đặt trên dốc
núi(368,86m);
tiếp tục ĐBG theo đường thẳng hướng ĐôngBắc, cắt 1 con suối đến cột 1126
đặt trên đỉnh
núi(360,80m)
(Cao điểm a ở trên vòng cao 300m và cao điểm b ở trên
vòng cao độ 360m không thấy thể hiện trên AMS. Đỉnh núi Co Mìn hình cái răng mà
chân hướng xuống phía Nam. Vòng tròn cao độ in đậm 400m thể hiện đỉnh núi. ĐôngNam núi
Co Min là 2 trái núi lớn có đỉnh cao hơn 400m ở 2 bên suối giới hạn thấp nhất 2 bỡi vòng
cao độ 340m.
Chỗ cột 1125
giới hạn thấp nhất bỡi 2 vòng cao độ 360m. Đường mòn chạy trên đỉnh núi
phía Tây. Cột 1125 ở trên dốc của núi phía
Tây này. Cột 1126 ở trên núi phía Đông. Không thấy AMS thể
hiện đỉnh núi này(360,80m), tức ở trên bờ suối).
Đoạn cột 1126: Từ cột 1126,
ĐBG đi theo đường thẳng hướng ĐôngBắc cắt qua khe đến cột 1127 đặt trên sống núi(430,25),
tếp tục đi theo đường sống núi hướng chung Bắc-ĐôngBắc đến mốc 1128 đặt trên đỉnh núi(610,97m), đi tiếp theo đường sống núi hướng chung Bắc-ĐôngBắc
đến cột 1129
đặt trên đỉnh núi(612,69m), đi tếp theo đường thẳng hướng Bắc-ĐôngBắc
đến cột 1130 đặt trên sống núi(550,78m) (ĐBG cắt qua khe
theo sống núi phía Đông. Cột 1128 trùng với cọc 20 cũ. Phía trên là nhánh ĐôngBắc,
phía dưới là nhánh TâyNam. Cả 2 nhánh ĐBG cũ đều ở trên đường đỉnh của dãy núi.
Phía Đông của chúng là 2 khe núi. Khe núi phía Nam bây giờ thuộc TQ).
Có sự trùng họp chi tiết địa
hình mô tả trong NĐT với chi tiết địa hình thấy trên AMS tại từng cột móc mới
“in” trên nền bản đồ AMS. Nhiều trường họp nghiệm đúng như vậy. Rõ ràng đường
biên gới mới coi như được kẽ đúng lên trên nền AMS. Để củng cố độ xác tín của bản
đồ 7 hai tác gả nói trên đưa ra bản đồ nhỏ với tỉ lệ 1/10 000 ở góc phải của bản
đồ 29 trong công báo số 642-649. Bản đồ mô tả chi tiết các cột từ 1103
đến 1108
và bản đồ mô tả các cột từ 1116 đến 1121 trùng khớp với đường
biên trong bản đồ 7(xem hình số 7, 7a và
7b)
2.2-Đường biên giới mà AMS thể hiện có thể
tin là đường biên giới cũ thời Pháp-Thanh hay không? AMS
có nhều thiếu sót như sai số do dẫn mốc từ Ân Độ qua 1 số nước rồi mới tới VN.
Nhưng sai sót chỉ là sai số hệ thống. AMS lấy dữ liệu của SGI nên có thể tin được
đường biên trên AMS là đường biên thời Pháp-Thanh dù AMS có thể có thiếu sót như
trị số cao độ chưa được kiểm lại. Ví dụ trị số cao độ x729 in chữ số
màu đỏ(được kiểm lại rồi thì in màu đen); cọc số 18 theo biên bản cắm móc
Pháp-Thanh thì được mô tả ở trên đường cái quan nhưng AMS lại vẽ ở vòng cao độ
400m trên đường biên gới. Sai trái này do khi AMS vẽ lại từ SGI tự ý sửa. Vẽ ở
cao độ 400m là để đối xứng với cọc 19 ở
trên đồi phía Đông cao 360m mà thôi. Sai về cao độ nhưng vĩ độ thì vẫn giữ đúng
văn bản vì chạy thẳng từ đường cái quan lên. Trên bản đồ AMS còn ghi “approximate alignment”, tức trị số chưa chính xác và v.v…Nhưng tổng quát thì ta tin AMS đã thể
hiện đúng đường biên giới thời Pháp-Thanh.
Hai tác giả trên đưa ra tấm ảnh
chụp một chỗ trũng nằm trước Ải Nam Quan cho thấy cổng nhỏ Ải Nam Quan thấy ở
xa xa và ở về phía VN. Đem so địa hình trong ảnh này với địa hình AMS thể thiện
thì thấy giống nhau, địa hình trên thực địa và địa hình trên bản đồ giống nhau!
Đó là chỗ trũng giới hạn trong vòng cao độ 300m. Vòng cao độ 300m này từ “lũng” có suối và đường
sắt ở phía đồi Đông và đồi ĐôngNam của ải chạy thọt vào khoảng giữa 2 đồi đó.
Chỗ trũng đó nay là quảng trường với bia đề Nam Cương Quốc Môn. Có phải nơi đây(chỗ trũng thấy trong bức ảnh) có 1 con suối chảy quanh chân đồi rồi đổ nước ra suối
cặp kè với đường sắt ở phía Đông mà P. Neis đề cập trong “Sur les frontiers du Tonkin”? P. Neis nói phải đoàn nhà Thanh muốn ĐBG ít nhất vài thước đất
trống ở trước ải(ils veulent au moins quelques mètres de terrain inculte
situe’en avant). Cuối cùng ĐBG được thỏa thuận sẽ chạy theo con suối
chảy qua chân đồi Ải Nam Quan, ở khoảng 150m trước cổng đó(la frontière
suivra le ruisseau qui passe au pied des collines de la Porte de Chine, à cent
cinquante mètres environ en avant de cette porte). Và có phải nơi đây có suối Phi Phanh, nơi cha con Phi
khanh-Nguyễn Trãi chia tay khi Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Tầu? Chỗ
trũng đó nằm giữa đồi Đông và đồi ĐôngNam của ải được AMS thể hiện bỡi vòng cao
độ 300m
nói ở trên(trong bài viết dễn tả quá
trình đàm phán đi đến hiệp ước Pháp-Thanh nói khi nhân viên “hậu nhiệm” tới chỗ
Ải Nam Quan thấy nơi đây không có con suối như nhật ký của người tiền nhiệm
Neis mô tả. Người ta sợ Neis lầm Nam Quan với 1 cữa ải khác. Nhưng quanh đây cũng
không có cái ải nào có con suối. Gỉa thiết đưa ra vì là mùa cạn nên không thấy
suối. Sử Việt thì nói có suối Phi Khanh. Về địa hình ta khẳng định nơi đây có
suối vì là nơi tận cùng của 2 vòng cao độ 320m và 300m. Phải có đường nước chảy
ra suối ở đường sắt).
Bằng chứng thứ 2 là địa hình
mà biên bản số 4(Proces Verbal N04 ngày 4-7-1886) lưu trử tại Văn Khố
Đông Dương ở Aix-en-Provence mô tả địa hình ở các cọc số 18, 17, 16 đi qua nghiệm
đúng địa hình mà AMS thể hiện. Biên bản viết: “bắt đầu từ điểm ở 100m phía trước cổng Nam Quan, trên đường Nam Quan đến Đồng
Đăng, đường biên giới leo lên về
phía Tây cho tới đỉnh núi đá trên đó
có cái đồn tọa lạc(sur lequel est situe’ le fort) được đánh dấu điểm A trên
giấy(croquis) đính kèm, từ đồn đó nó theo
cao độ bức tường đá(le haut de la muraille rocheuse) trông xuống con đường
Đồng Đăng cho đến điểm được đánh dấu B trên giấy. Điểm
B này ở nơi mà con đường mòn, tách ra từ con đường Đồng Đăng đến Nam Quan,
dẫn đến làng Lung Ngieu, cắt bức
tường đá. Kế tiếp nó đi theo chính con đường mòn này cho tới cổng làng Lung Ngieu. Bắt đầu từ cổng
đó nó trở lại lấy độ cao của núi
đá(reprend le haut des rochers) bao quanh thung lũng làng Lũng Ngiêu để đi đến
điểm đánh dấu C.
Từ điểm C nó hướng về Tây cho đến cổng Kida.). Biên bản ký ngày 15-12-1890 và ngày 21-4-1891 mô tả
các cọc mốc giới đoạn thứ 3 từ Nam Quan đến Bình Nhi, một lần nữa nói lên địa
hình của các cột móc tương ứng gống địa hình mà AMS thể hiện. “Cọc thứ nhất(cọc18) ở trên đường NamQuan-ĐồngĐăng về phía Nam
cữa ải 100m(1er borne: sur le chemin de Nam Quan à Dong Dang à 100m au S de la
porte); cột thứ 2(cọc 17) ở 1 đèo
nhỏ cắt sống lưng dãy núi đá và ở trên đường mòn đi từ đường ĐồngĐăng đến làng
LungNgao(2è borne: au petit col coupant la crête rocheuse sur le sentier allant
de la route de Dong Dang à Nam Quan au village de Lung Ngao. Lộng Diêu弄搖.). Cọc
thứ 3(cọc 16) ở 250m phía Tây làng Lung Ngao trên đường
mòn đi đến Khua-Da(3è borne: à 250 m à l’O du village de Lung-Ngao sur le sentier
allant à Khua-Da(AMS ghi là Khù Da)); cột thứ 4(cột 15) ở cữa
khẩu Bo-Sa(4è borne: à la porte de Bo-Sa Ải. Bố Sa). Tóm lại địa hình mà các văn bản mô tả thì như thế này: Từ
cọc 18,
đường biên gới(ĐBG) leo lên bức tường đá(muraille rocheuse) thẳng tới 1 cái đồn
ở trên đỉnh. Từ đồn, theo đỉnh của bức tường đá, ĐBG đi đến nơi con
đường tách ra khỏi đường ĐôngĐăng-NamQuan cắt bức tường đá thành 1 cái đèo
nhỏ(cọc 17).
Rồi ĐBG đi theo con
đường này vào làng Lũng Nghiêu cho tới cổng làng. Từ cổng làng ĐBG lại lấy độ cao
núi đá(rochers) bao quanh thung lũng làng Lũng nghiêu để đi đến cọc 16 cách
cổng làng 250m
về phía Tây. Địa hình giống như AMS thể hiện
(AMS
thể hiện địa hình y như thế nên kết luận
đường biên giới mà AMS thể hiện là đường biên giới thời Phap-Thanh. Đúng phía
Tây Nam Quan là bức tường đá(muraille rocheuse).
Dãy núi đá ở phía Tây ải chạy từ Bắc xuống Nam trong 5 ô vuông(5km) từ đường kẽ
ô vuông 33 đến 29. Hai km(từ đường kẽ 32
tới 30) các đường vòng cao độ ở sườn phía Đông của dãy núi nằm khít nhau thể
hiện độ dốc cao. Sườn cao 240m(Từ vòng cao độ 320m,
320…400 , 420…500, 520
, 540, 560m)
và dốc. Vậy đúng là bức tường chứ
còn gì? Một bức tường đá(muraille rocheuse). Trên đỉnh(điểm A) vòng cao độ 560m dang
rộng ra thành 1 khoảng bằng phẳng(cùng cao độ). Một cái đồn (situe’ le fort)có thể dựng lên ở đây.
Tiếp theo đi về phía Nam, các VCĐ có trị số giảm dần(540,
520,
500,
480,
460,
440m).
AMS thể hiện 1 sống núi(la crête rocheuse)(các vòng cao độ hình
chữ V mũi chúc xuống).
Tới
điểm B
vòng cao độ 440m dang ra về phía Đông tạo hình như cái
móc câu và dang ra về phía Tây tạo hình như cổ cò. Giữa có vòng cao độ hình bầu
dục nhỏ thể hiện đỉnh núi cao 462m(vị trí cọc 1113 ngày nay). Tiếp theo
là VCĐ 420m bao quanh vòng 440m.
Vòng 420m này cũng dang ra tạo 1 độ dốc thoai
thoải. Cuối cùng là VCĐ 400m(nét đậm) bao quanh hình thành chân trái
núi phía Nam. Cũng ở tại điểm B, về phía Đông, bức tường đá(muraille rocheuse)
có 1 sống núi chạy từ đường cái quan(VCĐ 300m) lên đỉnh(VCĐ 440m). Bên cạnh, về phía
Bắc, là khe núi chạy từ VCĐ 300m lên tới VCĐ 440m.
Phía Tây cũng có 1 khe núi từ VCĐ 400, 420, 440m.
Hai khe núi Đông Tây giáp lại hình thành 1 yên ngựa tạo ra đèo nhỏ(petit
col)
cắt bức tường đá(cột 17). Từ trái núi(460m) ở phía Nam nói trên,
dãy núi đá chia 2 nhánh. Nhánh chạy xuống Nam, thấp dần, tới Đồng Đăng(mảng màu
trắng) thì chấm dứt. Nhánh chạy về Tây bao
thung lũng làng lũng nghiêu rồi chạy tới điểm C.
Tại
điểm C
bản đồ AMS thể hiện 1 đèo(cột 16). Ở phía Nam các VCĐ 300,
320,
340
hình thành trái núi hình bầu rượu hướng lên Bắc, Phía Bắc các vòng cao độ 340, 360, 380
hình thành trái núi hình tam gác. Đỉnh tam giác phía Bắc có 2 vòng tròn cao độ
đồng tâm thể hiện cao điểm 470m(vòng ngoài in đậm là VCĐ 400m). Giữa 2 núi là nơi
gặp nhau 2 khe núi. Khe phía Nam do các VCĐ 320, 340 và khe phía Bắc do VCĐ 340 ở phía Bắc. Giữa 2 VCĐ 340 hình thành một yên ngựa, đèo Ki Da Ai(Ki Da
Ai, ghi chú trên bản đồ trong nhật ký của Neis). Phía Bắc yên ngựa, trong
“lũng” Lung Huai cũng có 2 khe núi. Khe phía Đông núi hình tam giác thể
hiện bỡi các VCĐ 340, 360, 380
lên VCĐ 400m
thuộc núi mà các cọc 1101 và 1102 tọa lạc. Sống núi phía
Tây khe này có cọc 1102/2. Phía ĐôngBắc hình thành khe núi do
các VCĐ 340, 360, 380,
lên VCĐ 400m
thuộc dãy núi ở cổng làng Lung Nghiêu. AMS cũng thể hiện con đường mòn(le sentier allant à Khua-Da) từ cổng làng Lũng Yao(Nghiêu)
theo khe núi đi xuống rồi băng qua đèo đi về Khù Da(AMS). Biên bản Pháp-Thanh
viết: “lại lấy độ cao của núi đá(reprend le haut des rochers) bao quanh(contournent
le cirque)thung lũng làng Lũng Ngiêu để đi đến điểm đánh dấu C.” Cụm từ “lại
lấy độ cao” làm ta lầm là
đường biên giới lên núi. Trên AMS cho ta thấy ĐBG theo sống núi ở phía Đông khe
núi nói trên để xuống dốc rồi băng qua 2 trái núi tới điểm C. Thung lũng làng Lũng
Nghiêu thể hiện bỡi các mảng nhỏ màu trắng. Vậy có phải bản đồ AMS phản ảnh đúng
địa hình mà các biên bản của hiệp định cắm móc Pháp-Thanh mô tả?
Có
1 điều là cự ly 250m từ cổng làng Lũng Nghiêu đến cột 16 là không đúng vì cự li đó thấy trên AMS chiếm 1 cạnh ô
vuông tức dài 1km. Trở lại bản đồ Charpès năm 1894 thì thấy cách 250m là đúng. Bản
đồ Charpès thể hiện các núi ở phía Tây bằng hình nổi và đậm màu che lấp các
vòng cao độ. Nhưng ở phía Đông thể hiện địa hình rõ ràng. Nhất là có vẽ 1 con
đường mòn chạy theo suối ở phía Đông vòng qua chỗ trũng giữa đồi Đông và đồi ĐôngNam
của ải rồi băng qua đường cái quan để đi vào làng Lũng Nghiêu như mô tả ở trên.
Đồi ĐôngNam và dãy đồi ĐôngNam cũng thể hiện rõ ràng. Một chi tiết cũng nên ghi
ra. Nhánh suối chạy dọc dãy đồi phía Đông của Ải Nam Quan lại vẽ
nối vào nhánh suối phía Tây dãy núi TâyNam-ĐôngBắc trên đó có cọc 20. Do đó mất khoảng suối
cặp với đường sắt ở phía Đông đồi ĐôngNam).
Bản đồ SGI có thể vẽ khác hơn bản đồ Charpès 1894 cho nên
AMS vẽ theo có hơi khác 1 chút. Năm thực hiện bản đồ Charpès 1894 gần với năm ký hiệp định về biên giới
Pháp-Thanh nên đường biên giới trên bản đồ Charpès phản ảnh đúng hơn.
3-CHUYỆN MẤT CÒN. Trước khi đề cập tới chuyện mất còn nên bàn chuyện cột móc
19 bị di dời.
3.1-Bàn về cột móc 19 cũ bi di dời. Biên bản cắm mốc
15-12-1890 đoạn thứ 2 ChiMa-NamQuan viết: “Cọc
thứ 24(theo thứ tự cắm móc đoạn BìnhNhi-NamQuan
là cọc 19)
ở trên đỉnh núi
đối dện đồn Kouei Tao Khôn Long Ải”(24e borne: sur le sommet placé face du fort chinois de
Kouei-Tao Khôn Long Ải 坤隆 ). Các tác giả bàn về sự mất còn Ải Nam Quan
trước đây cho cột 19 ở trên cái đồi có xây công sự. Nay nói cột 1118
cắm đúng chỗ cột 19 cũ. Nhưng cột 1118 hiện nay ở
chân
của 1 cái đồi mà đỉnh không có công sự nào. Họ kết luận cọc 19 cũ đã bị dời
xuống phía Nam, được cắm ở chân của 1
cái đồi nay cột 1118 tọa lạc mà đỉnh không có xây công sự.
Tác gả Mai Thái Lĩnh nói đường biên
giới cũ từ cọc 18 chạy thẳng xuống phía Đông gặp cọc 19. Tác giả Trương Anh
Tuấn(TAT) thì nói nó hơi chếch xuống ĐôngNam. Trong bài MẤT ẢI NAM QUAN Phần 3,
tôi có ý như TAT. Hồi đó tôi chưa tiếp cận bộ bản đồ AMS. Tôi không rõ địa hình
nơi đây nên cho cái đồn mà đồi cắm cọc 19 đối diện, là đồn Kouei-Tao Khôn Long
Ải, cái ải nhỏ(petit col) ở đểm B(cọc 17) nói ở trên. Tôi tin ải nhỏ đó là ải Khôn Long.
Đồn ở điểm A
nằm phía Tây cọc 18 là 1 cái đồn khác.
Nhưng địa hình thấy được trên AMS
cho ta kết luận là ở điểm B không thể dựng được 1 cái đồn mặc dầu ở đây có 1
cái ải, cữa ngõ để đường mòn tách ra từ đường ĐồngĐăng-NamQuan đi vào Lũng Nghiêu
ở cao độ 400m.
Tại điểm A mới
có khoảng bằng phẳng rộng và cao để dựng đồn, do vòng cao độ 560m
dang rộng ra. Ra khỏi khoảng rộng đó các vòng cao độ lại nằm khít với nhau,
tiếp tục có trị số nhỏ dần thể hiện sống núi. ĐBG bắt đầu xuống dốc(xem đoạn
2.2 mô tả rất chi tiết).
Chính từ “ải” trong cụm từ “Kouei Tao Khôn Long Ải” làm tôi lầm đồn
đó ở điểm B.
Và chính ý kiến của Trương Anh Tuấn nói đường biên giới cọc 18 đến cọc 19 lệch
về ĐôngNam làm tôi lầm đồi cắm mốc 19 đối diện với cọc 17! Mà như vậy thì lệch đi
tới 1km(1 ô vuông)! Không thể chấp nhận được. Rốt cục kết luận cọc 19 ở trên
đồi phía Đông Ải Nam Quan cao 360m đối diện với điểm A, thì họp lý.
Các tác giả ngày nay không đồng tình
với viên chức nhà nước và viên chức có liên quan đến hiệp định cắm mốc năm 1999
nói cọc 1118
cắm đúng chỗ cọc 19 cũ. Họ lập luận là cọc 1118 không ở trên đỉnh núi như hiệp định Pháp-Thanh
nói(sur le sommet). Ngày nay cọc 1118 và
1119 ở 2 bên điểm cao 364m. Và đồi cắm cọc 1118 không có xây công sự.
Về công sự xây trên đỉnh
núi. Không biết căn cứ vào đâu mà các tác giả phản bác nói trên cho rằng cọc 19 ở
trên đồi mà đỉnh có xây công sự. Bằng chứng họ đưa ra là các bức ảnh chụp các đồi
có hình ảnh công sự ở trên đỉnh mà họ cho là đồi có cọc 19 cũ. Do đó trong bài MẤT ẢI NAM QUAN Phần 3, tôi lầm lẫn cho công sự của Pháp
đang xây(blockhaus francais en contruction) là công sự ở trên đồi ĐôngNam(371m). Trên bản đồ Charpès 1894 ghi
không rõ hàng chữ: “blockhaus francais
en contruction”.
Nay nhờ bản đồ AMS có dung lượng lớn giúp tôi zoom lớn lên xem địa hình mới
phân biệt có 2 nơi có xây công sự. Một công sự(blockhaus
francais en contruction) xây trên đồi phía Đông Ải Nam Quan(360m) như
bản đồ Charpès 1894 thể hiện. Một công sự khác ở cao điểm 320m phía ĐôngNam của đồi ĐôngNam(371m).
AMS ghi chú “fort”.
Cao điểm này rất dễ lầm lẫn đây là cái đồi có công sự. Đồn này ở dưới thấp
ngang bằng cao độ cọc 1118 và cao độ Ải Nam Quan(320m). Đỉnh đồi ĐôngNam có đánh dấu
điểm trắc địa hình tam gác và trị số cao độ 371m
Tập hợp tất các thông tin trên đây
đủ kết luận cột 19 cũ ở trên đồi phía Đông Ải Nam Quan và ở độ cao 360m.
Đồi này là đồi có đỉnh kép. Ngoài thông tin nói trên, logic trong sự cắm móc
không cho phép cắm cọc 19 ở vị trí 1118.
3.2- Logic trong việc chọn nơi làm ải và phân định
đường biên giới cũ.
Ải Nam Quan từng tồn tại tới mấy trăm năm ắt phải ở
nơi đắc địa, hợp với tự nhiên. Nguyễn Du tới đây tức cảnh sinh tình hạ bút vịnh
1 bài thơ “Trấn Nam Quan” để đời. “Lý
Trần cựu sự yểu nam tầm/Tam bách niên lai trực đáo câm( kim)/Lưỡng quốc bình
phân cô lũy diện/Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm/Địa thiên mỗi vị
truyền văn ngộ/Thiên cận tài tri giáng trạch thâm/Đế khuyết hồi đầu bích vân
biểu/Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”Nguyễn Du đi sứ năm 1813, đời Gia Long. Bài
này đăng trong Bắc Hành Tạp Lục. Địa hình đúng là 2 nước chia nhau bình đẳng
một mặt ải cô liêu. Một ải quan hùng trấn giữa núi rừng hùng vĩ bao la. Trong nhật
ký“Sur les frontières du Tonkin” P.
Neis mô tả Cữa Khẩu TQ ở đáy 1 hẻm núi(gorge) Không sâu lắm, những quả đồi dốc
đứng “phủ đầu” qua nó(ải) chỉ chừng 50 đến 60m cao(La
Porte de Chine est située au fond d'une gorge peu profonde, les collines
escarpées qui la surplombent n'ont guère que cinquante à soixante mètres de
hauteur). Cụm từ “hẻm núi không sâu
lắm” “cao chừng 50-60m” làm mất
vẻ hùng vĩ mà Nguyễn Du(ND) cảm nhận. Nhưng đến cụm từ “quả đồi dốc đứng “phủ đầu”qua nó” mà P. Neis mô tả Cữa Khẩu TQ, ta thấy Ải Nam Quan lấy lại nét hùng
vĩ của nó như dưới mắt của ND mấy trăm năm trước. 50 đến 60m là nói đến dãy đồi ở phía Đông và ĐôngNam ải
tính từ vòng cao độ 300m làm nền. Còn bức tường đá ở phía Tây thì thật chớn chở cao 240m
tính từ vòng cao độ 320m làm nền. Cao hơn cao ốc 60 tầng! Không cần tính bằng con số, chỉ
nhìn các bức ảnh cổ mà Tây nó chụp Ải Nam Quan ta cũng đủ cảm nhận nét hùng vĩ
của ải. Zoom lớn AMS ta cũng nhận ra nét độc đáo của ải. Địa hình hùng vĩ đúng
như địa hình mà AMS thể hiện(xem lại đoạn 2.2). Logic mà xét thì ải phải đặt
nơi đây, nơi núi non hùng vĩ hiểm yếu. Ở đoạn 2.2 ta thấy AMS thể hiện địa hình
như thế. Nơi đây là chỗ nút thắt của thung lũng. Bức tường đá chìa ra 1 sống
núi thọc sát cạnh sườn núi đất bên đối diện.
Và cũng logic mà nói chính nơi đây
là vị trí dựng ải đúng nghĩa của nó vì nơi đây là 1 yên ngựa, 1 cái đèo. Ải Nam Quan là nơi
giáp giới giữa 2 khe núi Nam và Bắc. Địa hình thung lũng Đồng Đăng khác hoắc
thung lũng Bằng Tường, biên cương như được “định tại Thiên Thư”, nơi rạch đôi
sơn hà 1 cách không lầm lẫn. Khe phía Nam thấp hơn, rộng rãi hơn chạy từ thung lũng Đồng
Đăng(màu trắng rộng lớn) tới vòng cao độ(VCĐ) 260m(VCĐ
cuối cùng của dãy núi đá ở phía Đồng Đăng).
Thung lũng tiếp tục chạy đến VCĐ 280m rồi tới 300m ở chân đồi ĐôngNam(371m),
sau cùng lên tới VCĐ 320m là tới ải. Khe phía Bắc hẹp hơn và cao hơn
bắt đầu từ VCĐ 320m ở đầu dãy núi đá về phía Bắc kẽ ô vuông
33 một tí, tiếp theo lên dốc đến VCĐ 340m, 360m. Ở đây là 1 yên ngựa ở giữa 2 VCĐ 360m BắcNam ngang với giữa
kẽ ô vuông 33-32. Khe lại xuống dốc từ VCĐ 360m đến VCĐ 340m.
Cứ thế khe phía Bắc cứ giữ độ cao 340m. Chỉ khi gần tới Ải Nam Quan mới xuất
hiện 1 khe trũng dài và hẹp(màu
trắng) thuộc
VCĐ 320m
tiêp xúc VCĐ 320m phía Nam thuộc ĐồngĐăng như nói trên. Hai
VCĐ 320m
của 2 khe núi Nam Bắc của 2 lân bang gặp nhau tạo 1 yên ngựa một cách tự nhiên
chia 2 vùng địa lý, 1 cái đèo. Vậy nơi đây dựng ải thì họp lý, hợp với lẽ tực
nhiên.
Tính chất logic cắm móc cũng thấy
diễn ra suốt dọc tuyến biên giới thời Pháp-Thanh. Thường người ta dùng đường
phân thủy phân nước chảy đôi đường để làm ranh cho 1 vùng địa lý hay dùng sông
suối làm ranh gới để chia đôi bờ. người ta cũng còn dùng đường đi để phân giới
hạn. Mở đường người ta chọn tuyến đường đáy. Đường đi thỉnh thoảng vượt qua
rặng núi ở chỗ cái đèo. Đèo là yên ngựa, tức chỗ trũng giữa 2 chân sống núi
tiếp xúc với nhau và cũng là đỉnh giữa 2 khe núi tiếp giáp nhau. Đèo có thể dùng
làm cữa khẩu. Đường biên giới cũ vạch theo nguyên tắc đó. Đường biên giới cũ và mới có 3 chỗ trùng nhau:
cọc 1095,
1103(trùng
với cọc 16), 1113(trùng với cọc 17), 1128(trùng với cọc 20) và 1129
Từ điểm A là điểm cao nhất của bức
tường đá(560m) đến cọc 17, lấy sống núi cao trên 500m làm ranh, phân thủy nước chảy
về Tây vào thung lũng làng Lũng Nghiêu ở trên cao độ 400m và chảy về Đông vào thung lũng
ĐồngĐăng cao dưới 320m. Ngoài địa hình cữa ải là 1 yên ngựa, khoảng
rộng và bằng phẳng cao nhất vùng ở điểm A là điểm cao nhất cũng lấy làm giới
hạn là họp lý. Vì “Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện”,
nên bức tường đá từ điểm A đến cọc 17 ở cao độ trên 500m phải bình đẳng chia cho nhau.
Binh sĩ biên phòng của 2 lân quốc đều được đứng ở đây bình đẳng mà thưởng ngoạn
cảnh đất trời sông nước bao la “Nhất quan hùng trấn
vạn sơn tâm”, tài sản thượng đế đã ban bao đời cho con cháu của
2 lân ban! Trên đỉnh, tại điểm A, VCĐ 560m dang rộng ra đủ chia xẻ cho 2 bên lập đồn
biên phòng hữu nghị cùng canh phòng biên cương cho 2 lân quốc. Đoạn ĐBG từ chân
bức tường đá, ở cọc 18, chạy
lên đây cũng hợp lý. Binh sĩ 2 bên chia xẻ 1 sống núi. Bên này có thể trông
được về phía bên kia(“bình phân cô lũy
diện”). Trong các bức
ảnh chụp thời Pháp thuộc thấy rõ “bình
phân cô lũy diện.” Hai bên cổng Nam Quan có 2 bức tường thành có lỗ châu
mai nằm trên sống núi đó. Rõ ràng trong ảnh thấy đồn binh TQ ở mặt Bắc bức
tường thành. Cọc 18 cũng còn cắm đúng ở vị trí yên ngựa thuộc VCĐ 320m. Ngày nay
đường biên chạy ở bên dưới vòng cao độ 400m của bức tường đá và ở đường sống núi thứ 2,
chỗ đồi ĐôngNam. Biên phòng VN bị che khuất tầm nhìn ở trong cái tâm trạng bực
bội vì thiếu cái tự do của người không được đứng ở trên cao điểm để tự do ngắm
nhìn đất trời, giang sơn mà tổ tiên khổ công mới có được.
Đường biên giới(ĐBG) theo đường mòn
tách ra từ đường ĐồngĐăng-NamQuan qua đèo nhỏ, tiếp tục đến cổng làng Lũng Nghiêu
vẫn còn ở trên cao độ 400m. Ngoặc theo hướng TâyNam đi trên sống núi và trên 2
trái núi ở phía Tây phần còn lại của dãy núi đá(PCLCDNĐ) chạy từ NamQuan đến ĐồngĐăng.
Họp lý vì đây là nhánh núi rẽ sang TâyNam bao thung lũng làng Lũng Nghiêu thuộc TQ, để đầm
lầy ở phía Tây PCLCDNĐ và PCLCDNĐ cho lãnh thổ ĐồngĐăng. Ở đây cũng phân thủy
nước chia đôi đường về thung lũng làng Lũng Nghiêu và về thung lũng ĐồngĐăng.
Yên ngựa ở cọc 16 phân biệt tự nhiên phía Tây thuộc
thung lũng ĐồngĐăng thấp hơn VCĐ 320m và phía Đông thuộc Lũng Huai cao hơn VCĐ
340m
nằm trong thung lũng làng Lũng Nghiêu.
Đường biên giới(ĐBG) ở phía Tây.
Bắt đầu từ cọc 1195 ĐBG ở trên đường phân thủy thuộc cao độ 500m-400m
chia nước về Tây chảy vào chi lưu Hữu Ngạn của công Kỳ Cùng và nước chảy về
Đông vào thung lũng Bằng Tường. Chi lưu nói trên phát từ 2 nguồn ở ĐôngBắc và ĐôngNam
Ải Nam Quan rồi họp lưu ở ĐồngĐăng. Một sự phân chia biên cương họp lý.
Đoạn phía Đông Ải Nam Quan. Từ cổng Ải Nam Quan,
ĐBG chạy thẳng lên đỉnh đồi phía Đông cao 360m(cọc 19). Tiếp tục
ĐBG xuống đồi băng qua suối và đường sắt rồi leo lên dốc núi qua các VCĐ 320,
340,
360,
380
nhập vào dãy núi ĐôngBắc với các đỉnh từ 400m và tăng dần. Tới cọc 20 thì độ cao đạt được 500m. Qua cọc 20 cao độ lên tới 600m. Đường
phân thủy phân nước chảy vào 2 nhánh suối phía Đông và phía Tây ở 2 bên dãy núi
cao này. Phía Nam và phía Bắc cọc 20 mỗi bên có 1 khe núi nằm sát ĐBG về phía Đông. ĐBG
cứ thế theo đường phân thủy mà đi.
Phía Nam Ải Nam Quan là dãy
đồi bắt đầu từ đồi ĐôngNam(371m) chạy theo hướng ĐôngBắc-TâyNam với cao độ giảm
dần. Dãy đồi kẹp giữa đường cái quan ở phía Tây và suối với đường sắt ở phía
Đông chạy cho tới Đồng Đăng. Đồi phía Đông Ải Nam Quan(360m) ngăn cách đồi ĐôngNam(371m) bỡi
“lũng” giới hạn trong vòng cao độ 300m từ đường xe lửa chạy thọt vào. Không thể nào
cột 19
đang ở vùng cắm móc(abornement) thuộc đoạn
cắm móc từ Chi Ma tới Nam Quan(2è section
de ChiMa à NamQuan) đang ở trên đường
phân thủy dãy núi ĐôngBắc lại đem cắm vào đồi ĐôngNam cách xa tới 300m!
Nhờ bản đồ AMS thể hiện địa hình rõ ràng
và chính xác ta thấy tiền nhân phân định biên giới ở đây rất logic. Bằng Tường ở
trên cao(340-400m). ĐồngĐăng ở dưới thấp(300m). Chỗ Ải Nam Quan có 3 đèo ngăn
cách. Đèo ở Ải Nam Quan thấp nhất(320m), đèo Ki Da Ai(340m). Đèo nhỏ(petit col)
cao nhất(440m). Nhà phân định biên giới ngày xưa đóng 3 cọc hết sức tự nhiên và
logic là cọc 18, cọc 16 và cọc 17. Cớ sao móc giới ngày nay vô lý dời đi. Người
thế kỷ 21 logic hơn hay cảm tính hơn.
3.3-Chuyện mất còn. Hiệp định về biên giới năm 1999 ra đời. TQ dọn đường rồi
khởi sự xây dựng đường cao tốc 322(ĐCT) sau năm 1999 là năm hiệp định được ký kết. ĐCT
chuôi xuống hầm xuyên qua 1 quả đồi ở Ải
Nam Quan. Mạng truyền thông lan truyền nhiều bài viết về sự mất Ải Nam Quan và
mất đất ở biên giới. Vì chẳng rõ ràng gì cả nên các bài viết thiên về số lượng
hơn chất lượng. Xu hướng nói mất nhiều đất để qui kết bán đất v. v. Chắt lọc
lại, thấy có một số tác giả có kiến thức khoa học, lịch sử, văn hóa, kinh tế,
chiến lược nói mất mát chất lượng quan trọng hơn. Bản đồ số 7 của 2 tác giả nói
trên thỏa mãn những gì Nghị Định Thư 2009 mô tả về các cọc móc mới, những gì mà
biên bản cắm móc Pháp-Thanh mô tả các cọc móc cũ và những gì về địa hình mà bản
đồ AMS thể hiện. Có thể nói bản đồ đó thể hiện ĐBG hiện nay ở Ải Nam Quan chính
xác nhất. Bản đồ số 7 hiển thị cả 2 ĐBG mới/cũ. Theo đó ta thấy diện tích đất
mất chẳng bao nhiêu so với mất mát về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chiến lược với
cái giá không thể nào bù đắp được.
Đoạn Ải Nam Quan.
Hai tác giả trên nói Ải Nam Quan là 1 ải kép gồm 2 chỗ thung lũng thắt lại. Một
ở chỗ cột 18 cũ và 1 ở chỗ cột Km0, ngang chân đồi ĐôngNam cao 371m. Ở
đây cũng có sống núi từ bức tường đá ép sát cạnh sườn đồi ĐôngNam. Giữa chân
đồi ĐôngNam và đồi phía Đông Aỉ Nam Quan là chỗ trũng thuộc VCĐ 300m ăn
thông ra đường sắt và con suối. Nay TQ mở cữa hầm phía Nam đường cao tốc vào chỗ
trũng này, đồng thời dựng quãng trường với bia đề Nam Cương Quốc Môn ở đây.
Nghị Định Thư 2009 phân biệt ” “cữa khẩu Hữu Nghị” và “Hữu Nghị Quan” khi mô tả cọc 1116
và 1117(đặt trên sườn núi,
phía Tây đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị Quan (Trung
Quốc). Bây giờ đứng ở cữa khẩu Hữu Nghị thì
chẳng còn thấy Ải Nam Quan ở đâu cả vì bị sống núi thứ 2 che khuất tầm nhìn mà
chỉ thấy 2 cữa hầm đen ngòm ở bên tay Phải. Mất di tích Ải Nam Quan mới là mất
mát to lớn. Câu “Nam Quan cho đến Cà Mau
là nhà Việt Nam”sẽ chết trong tâm tư ở các thế hệ tiếp theo. Bài thơ “Trấn
Nam Quan” cũng chết theo. Chẳng có giáo viên khoa văn nào dám trích giảng cho
môn đồ của mình cái hay ẩn chứa trong bài “Trấn Nam Quan” của nhà thơ siêu hạng
Nguyễn Du. Chẳng lẽ loại bài này ra khỏi phần thơ văn chữ Hán của tác giả bất
hủ này trong sách giáo khoa và văn học?
Đây là nơi có con suối in dấu lịch
sử. Neis nói trong nhật ký là phái đoàn Thanh Triều nằn nì cho được cọc móc
được cắm về phía Nam với ý muốn trước 1 kiến trúc về phong thủy phải có khoảng
trống như cái thềm, cái sân chẳng hạng(au moins quelques mètres de terrain
inculte). Yêu cầu được thỏa mãn. Cọc 18
được cắm tại 1 con suối chảy qua các chân đồi(viết
số nhiều) cữa khẩu Trung Hoa 150m(la frontière
suivra le ruisseau qui passe au pied des collines de la Porte de Chine, à cent cinquante mètres
environ en avant de cette porte). Chẳng
phải suối đó ở trong vòng cao độ 300m xen giữa đồi ĐôngNam và đồi Đông của Ải nam
Quan?
Ngày nay hậu duệ phái đoàn đàm phán
cắm móc Thanh Triều cũng được thỏa mãn biên cương tới đây hả?
Chẳng logic gì mà cũng được chia
phần. Yên núi đang ở VCĐ 320m dời về chỗ trũng thuộc vòng cao độ 300m
hoàn toàn ở trong lãnh thổ Đồng Đăng! Đây là 1 đắc địa. Muốn đi vào ải người ta
theo 3 ngả thể hiện bỡi các con đường mòn trên bản đồ Charpès 1894: đường mòn
theo con suối ở phía ĐôngBắc sang, đường
từ Đồng Đăng theo đường sắt đi lên rồi rẽ vào và 3 là theo đường cái quan ở
phía Tây dãy đồi đi lên. Vì là ải kép nên ngày xưa lính biên phòng Đại Việt có
2 tuyến phòng thủ. Phòng thủ ở sống núi thứ nhất qua cữa Ải Nam Quan thất bại
thì lùi về nút chặn thứ 2 với sống núi thứ 2. Chiếm chỗ trũng nói trên, ngày
nay TQ thoải mái hơn trong không gian sau nút thắt thứ 1và rộng đường xây hậu
cần cho biên ải mới ở nút thứ 2. TQ ngày xưa chịu chật hẹp trong khe núi ở mặt
bắc cữa quan(vùng màu trắng thuộc vùng cao độ
320m), nay thêm chỗ trũng trong vòng cao độ
300
này nữa thà hồ mà xây dinh cơ, nhà hậu cần phục vụ du lịch(tham quan 1 di tích lịch sử lâu hàng ngàn năm!) và quốc phòng. Cứ nhìn vào nút gao thông hiện đại của cao
tốc 322 ở phía Bắc đồi phía Đông Ải Nam Quan thì thấy ý đồ kinh tế quốc phòng của
TQ.
Cũng vì dời ĐBG về nút thắt thứ 2 mà
TQ có dịp chiếm đồi ĐôngNam(371m). Đây là ngọn chủ sơn của dãy đồi thấp dần chạy
về ĐồngĐăng. Đứng trên đó họ không những kiểm soát 2 đường tiến quân từ
ĐôngĐăng theo đường sắt và QL1 lên ải mà còn trông chừng được cả cánh quân tiến
theo đường mòn dọc suối phía ĐôngBắc nữa.
Cũng vì cữa khẩu dời về đây mà TQ ép
dời ĐBG phía Tây trên bức tường đá ở cao độ trên 500m tự nhiên dời xuống dưới vòng
cao độ 400m(cọc
1114,
1114/1,
1114/2,
1114/3,
1114/4
và 1115)
cướp đi tầm nhìn của binh sĩ biên phòng VN như nói trên kia, làm họ mất cơ hội
quan sát bên kia biên giới!
Đoạn ĐôngBắc Ải Nam Quan. Từ đồi phía Đông cắm cọc 19, ĐBG cũ xuống núi, băng qua suối và đường
sắt rồi lên dốc qua các VCĐ 300, 320, 340, 360, 380 rồi tới đỉnh 400(núi Co Mìn), nhập vào đường đỉnh
cao độ 400m hướng về ĐôngBắc, cao dần qua các VCĐ 420, 440, 460, 480, 500, 520, 540, 560, 580, 600. Tới cọc 20 thì ở
cao độ 610m.
Logic tự nhiên theo luật đường phân thủy. Hai bên cứ thế mà tôn trọng thi hành
chẳng bày đặt đóng lắm cọc để làm gì vì trong lòng người xưa chẳng có ẩn ý, chẳng có mưu
đồ muốn lấn hơn! Đoạn từ cọc 1123 đến cọc 1126 ĐBG mới gần
trùng với ĐBG cũ.
Đùng 1 cái, ĐBG MỚI băng qua khe, tách khỏi đường biên cũ, đến
cọc 1127!
Rồi ĐBG MỚI
cứ “ung dung,” cứ chịu theo sống núi thấp
hơn phía Đông
mà đi tỉnh queo chẳng“ngại ngùng chi”.
Lùi về Nam vài trăm mét đất chẳng nhằm nhò gì hả? Nghĩ lại thì thấy TQ rất thâm
còn dân ta thì chịu mất mát lớn, mất cứ điểm biên phòng ĐôngBắc, bên cánh Hữu
Ải Nam Quan! Nhìn địa hình AMS thể hiện mà xem. Khe núi từ cọc 1126
đến cọc 1128
là 1 cái hào chiến lược tự nhiên. Sườn phía Tây của khe dốc đứng(các vòng cao độ khít vào nhau). Bên trên là đường đỉnh, nơi lý tưởng xây đồn. Đồn dựa lưng
vào con suối ở phía Tây, được che chở bỡi sườn dốc của 1 khe ở phía Đông và ở
trên cao độ trên 500m. Đồn này chế ngự được con đường chạy dọc theo suối phía
Đông đi về ĐồngĐăng cũng giống như đồn Kouei
Tao Khôn Long Ải ở cánh Tả Ải Nam Quan chế ngự đường NamQuan-ĐồngĐăng.
Đến đây 1 lần nữa TQ loại quân ta chia
xẻ đường đỉnh cao trên 500m chiến lược, mất cơ hội quan sát những gì xảy
ra phía Bắc Ải Nam Quan. Đây là lần thứ 2 sau lần thứ nhất ở Ải Nam Quan, TQ đẩy biên
phòng của ta xuống dưới ranh VCĐ trên 500m. Lần thứ 3 TQ chiếm cao điểm là chiếm đồi ĐôngNam(371m)
Đoạn TâyNam Ải Nam Quan. ĐBG cũ theo đường phân thủy hầu như từ Bắc xuống Nam với
các đỉnh 500m,
400m
tới yên núi cao 340m(cọc
16)
rồi ngoặc lên hướng ĐôngBắc leo lên sống núi bao thung lũng làng Lũng Nghiêu,
theo đường làng Lũng Nghiêu từ cổng làng tới đèo nhỏ(petit col) ở cọc 17 trên cao
độ 440m
bỏ lại ở phía Nam cọc 17 một đầm lầy ở phía Tây và dãy núi đá còn lại ở phía Đông
cho lãnh thổ ĐồngĐăng. Ngược lại ĐBG MỚI bây giờ từ cọc 16 xuống phía Nam, bọc phía Nam đầm lầy nói trên rồi
mới leo lên các cao độ: Đỉnh núi cao 412m(cọc 1110), cao điểm 436m, yên ngựa cao 407m(cọc
1111),
cao điểm 430m,
yên ngựa cao 404m(cọc
1112),
cao điểm 430m,
đỉnh núi cao 462m(1113)
của dãy núi đá phía Nam cọc 17 còn sót lại thuộc Đồng Đăng. Có phải TQ lại một
lần nữa(lần thứ 4)
chiếm cao điểm còn sót lại ở phần cuối cùng của dãy núi đá để gần với ĐồngĐăng
hơn và để khống chế đường còn lại từ ĐồngĐăng đến cữa khẩu Hữu Nghị(Km0)? Du
khách của ta vẫn ở trong tầm quan sát của lính biên phòng TQ trên đường đỉnh 400m. Hậu
cần của đồn biên phòng của họ lại rộng thêm ra gồm Lũng Huai cộng thêm đầm lầy
nữa. Dời cột móc lên các đỉnh 400m(lên
đường phân thủy) tưởng họp lý nhưng thung lũng làng
Lũng Nghiêu thì thuộc TQ kia mà. Biên bản Pháp-Thanh đã từng vết bao(contournent) thung lũng làng Lũng nghiêu(A partir de cette Porte elle
reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung-Ngieu
pour arriver à un point marqué C). Không biết các nhà đàm phán VN đưa
cọc 1101 và
1102 lên
núi cao trên 400m về phía TQ làm chi để họ đưa ĐBG mới xuống phía Nam bao đầm
lầy và sang Đông chiếm các cao điểm trên 400m gần Đồng Đăng hơn và tiếp tục
khống chế phần còn lại đường ĐồngĐăng-NamQuan?
Thay lời kết. Qua
bài viết trên đây ta thấy bản đồ số 7 rất chính xác thể hiện đường biên gới mà NĐT
mô tả. Tức là đường biên giới mới. Địa hình mà bản đồ AMS thể hiện cũng phù họp
với các biên bản cắm móc đường biên giới cũ. Tức là đường biên giới mà AMS thể
hiện cũng là đường biên giới thời Pháp Thanh, đường biên giới cũ.
Trong bản đồ số 7 cả 2 đường biên giới mới cũ cùng định hình trên nền bản đồ
AMS mà các chi tiết địa hình mà nó thể hiện đều phù họp với các văn kiện cắm
móc mới/cũ.
Khi tiếp nhận bộ bản đồ AMS tôi là
người dân đen ít học mà cũng nhận ra giá trị bộ bản đồ và tin tưởng nó thể hiện
chính xác ĐBG cũ. Có thể dùng nó cùng với các văn kiện kèm theo hiệp định
Pháp-Thanh mô tả ĐBG mà tranh luận, đàm phán để giữ nguyên trạng đường biên mà
tiền nhân của 2 bên đã sáng suốt phân định một cách công bằng. Không biết các nhà đàm
phán ngày nay có học hàm tiến sĩ sao không nhận ra để xử dụng nó trong đàm
phán. Chỉ vì là người dân, cho nên tới nay tôi mới tiếp cận nó. Tôi tin trước
đây trong tay quí vị đã có chúng rồi. Quân Đội Nhân Dân VN năm 1980 phát hành 1
bản đồ đã chỉnh sửa năm 1979 giống bản đồ quân đội Hoa Kỳ in năm 1965 lưu trử ở
University of Texas at Autin trên đó các cột móc ở Bản Giốc đánh dấu số thứ tự
y như cũ chỉ thay vào chữ M ở trước: M58, M57, M56, M55, M54 và 53(Mai Thái
Lĩnh).
Như trên nhận định, ĐBG cũ thể
hiện sự cắm móc 1 cách logic, hợp với tự nhiên và thể hiện sự công bằng: “Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện.” Cớ sao
các nhà đàm phán của ta ngày nay không thuyết phục để có nguyên trạng mà lại di
dời các cột móc về phía Nam để VN mất mát to lớn về lịch sử, văn hóa, chiến
lược và kinh tế như nêu ra trên dây?
Trong bài “Sự Thật về Thác Bản Giốc và Nhận Thức Sai Lầm về Chủ Quyền Lịch
Sử” Tiến Sĩ Trần Công Trục nói nguyên tắc đàm phán là căn cứ vào Công ước
1887 và Công ước bổ 1895, cùng các văn kiện kèm theo đã được Công ước và Công
ước bổ sung nói trên xác nhận và quy định, không dùng các tài lệu khác như nhật ký của các thành viên tham gia
cắm móc, sách giáo khoa chẳng hạn. Các nhà phản biện nói Tiến Sĩ né tránh nhật ký nủa Detrie và Famin đề cập
tới cột móc 53 sẽ gây khó khăn cho TQ đàm phán lấy ½ thác 3 tầng. Liệu trong
trường họp ở Ải Nam Quan phái đoàn TQ ngày nay có đưa ra bằng chứng nhật ký của
Neis nói phái đoàn Thanh Triều thỏa thuận với Neis đường biên chạy theo con
suối chảy ở chân các đồi ở Porte de Chine
150m về phía Nam hay không mà hậu duệ của họ(con
cháu Thanh Triều) này nay đạt được ngon ơ cái chỗ
trũng giữa 2 nút chặn chiến lược nói trên đây. Vì nơi đây hiểm yếu nên những
lần đàm phán sau Neis, đường biên được dời lên cắm tại điểm cách ải 100m.
Điều này cũng còn ngược với tổ tiên của 2 lân quốc xem Ải Nam Quan thuộc sở hữu
chung. Mặt bên này thuộc TQ, mặt bên kia thuộc Đại Việt. Lúc đàm phán không có
mặt người Việt. Người Pháp không hiểu về lịch sử văn hóa. Cái gì không hại đến
chiến lược, kinh tế thì “ok”. Người Việt thì không thể như thế được. Mất 1 di
tích về lịch sử và văn hóa là 1 mất mát lớn. Có tác gả nói năm 1945 vua Bảo Đại
hủy các hiệp ước bất bình đẳng ký với Pháp. Tại sao phái đoàn VN ngày nay không
những không dám hủy cái phi lý cắm cọc 18 một trăm mét về phía Nam để trở lại hình ảnh Ải
Nam Quan có thể nói lâu tới hàng ngàn năm trước mà còn lùi tới nút thắt thứ 2
nữa chứ! Liệu sau này có ai khai được DÂN TRÍ, chấn được DÂN KHÍ làm nước nhà được
cường thịnh như Nhật Bổn hay Israel để mà bác bỏ những đòi hỏi phi lý nhằm đòi
lại sự công bằng như 2 nước nói trên đã từng xử sự với lân bang của họ(Phan Châu Trinh:“Khai
dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”)?
Đầu mùa
Đông
2013, Đồng
Diều SG.Q8
Huỳnh Bá
Củng



















0 nhận xét:
Đăng nhận xét