Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

HỒNG ĐỨC BẢN ĐỒ-Tập 1


"Đường biên giới do lịch sđể lại" rõ ràng cho thấy có  Ải Nam Quan nằm tại biên giới trong bản đĐại Việt.


HỒNG ĐỨC BẢN ĐỒ.
Tóm lược phiên bản Bộ Quốc Gia Gáo Dục
Saigon-1962
1-Tóm lược Lời Giới Thiệu của Trương Bửu Lâm.
Sử và Địa là 2 môn liên quan với nhau. Sách về loại này thì có sách Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) ra đời năm 1865 đời Tự Đức. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí(LTHCLC) của Phan Huy Chú(1782-1840) có 5 quyển đầu là Địa Dư Chí. Viết về 2 trấn Thuận Hóa-Quảng Nam thì có Phủ Biên Tạp Lục(PBTL) của Lê Qúi Đôn(1726-1784) lúc ông làm Hiệp Trấn năm 1776. Nguyễn Trãi(1380-1442) viết Địa  Dư Chí(ĐDC) hay Annam Vũ Cống(viết theo kiểu thiên Vũ Cống). Hồng Đức Bản Đồ(HĐBĐ) là sách tập họp của nhiều tác giả viết ở những thời điểm khác nhau. Hồng Đức Bản Đồ do Bộ Quốc Gia Giáo Dục-Saigon 1962 gồm có 6 phần.
Phần 1(trang2-53) gồm 3 bản đồ toàn cả nước vào cuối đời Hồng Đức. 13 địa đồ của 13 thừa tuyên và 1 bản đồ Trung Đô. Trang đầu đề ngày 6-4 năm Hồng Đức 21(1490). Trang cuối đề  Nho sĩ trúng thức họ Đỗ bá, tự Đạo Phủ ở Bích Triều (Thanh Giang) biên tập
Phần 2(trang 54-65). Đoạn văn chép lại Giao Châu Chí, An Nam Chí Lược và Giao Chỉ Đại Tam nói 3 đường đi Giao Chỉ không biết trích ở đâu, chắc là tác phẩm đời Minh.
Phần 3(trang 64-137). Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT) do Đỗ Bá soạn vẽ lại đường đi từ Thăng Long đến Chiêm Thành, đến châu Khâm và Niệm ở Quảng Đông, từ phủ Phụng Thiên đến Quảng Tây Vân Nam và sau cùng từ kinh thành đến Bắc Quan(Lạng Sơn).
Phần 4(trang 138-167). Bình Nam Đồ(BNĐ) gồm 15 địa đồ do Đoan quận công(Nguyễn Hoàng) vẽ dâng lên. Địa đồ vẽ lại đường đi từ Chiêm Thành đến biên giới Cao Miên, có ghi thêm chỉ dẫn hành trình. Trang đầu đề năm Giáp Ngọ(1594). (Năm 1592 TrịnhTùng(TT) lấy được ĐôngĐô, bình định được  đất Bắc. Năm 1593 NguyễnHoàng(NH) theo về. Năm 1594 TT lo bình định biên giới phía Nam, cho NH vẽ bản đồ BìnhNamĐồ thì họp lý. Việc này phù họp nội dung 2 văn bản ký năm 1596 và 1597 còn lưu giữ ở miếu LươngVănChánh(LVC) ở PhúYên. Văn bản ký 1596 phong chức tước thưởng công quan biên phòng LVC ở huyện TuyViễn và băn bản ký năm 1597 sai LVC đi khai hoang lập ấp ở các xứ CùMông, BàĐài, BàDiễn, BàNiêu. Trước đó TT cũng làm việc tương tự. Năm 1572 TT diệt được LêCậpĐệ và vua LêAnhTông, lập vua LêThếTông. Bình định được biên giới phía Bắc, TT lo bình định biên giới phía nam. Năm 1578 sai LVC đánh vào ThànhHồ. Năm 1774(GiapNgọ) , 180 năm sau, Bùi Thế Đạt cũng vẽ Giáp Ngọ Bình Nam đồ để đi đánh chúa   Nguyễn. )
Phần 5(trang 168-173) do quan trấn thủ Hưng Hóa vẽ và vài hàng giới thiệu nước Đại Man ở TâyNam nước ta. Đại Man Nam giáp Xiêm La, Chiêm Thành, Bắc tiếp với nội địa Vân Nam  Qúi Châu. Đó là Lão Qua Miến Điện xưa. Lời chỉ dẫn đó đề ngày 14-9 năm Canh Thân(1800).
Phần 6(trang 175-184). Cao Bằng Phủ Toàn Đồ. Có 3 bản đồ gồm Cao Bằng, Mục Mã trấn doanh, Cao Bằng trấn thành thuộc thừa tuyên Thái Nguyên. Có trang ghi những lời chỉ dẫn về bản đồ Cao Bằng.
Như vậy sách gồm nhiều bộ phận khác nhau nhưng không hiểu tại sao lại được tập trung trong 1 tác phẩm duy nhất dưới nhan đề Hồng Đức Bản Đồ(HĐBĐ).

2-Trương Bửu Lâm (TBL) bàn về Niên Đại của các bản đồ.
Phần 1 với  bản đồ cả nước và 13 bản đồ của 13 thừa tuyên và 1 bản đồ Trung Đô mà trang đầu ghi 6-4-Hồng Đức 21(tức vào năm 1494.) Có phải đó là Hồng Đức Bản Đồ? Trương Bửu Lâm(TBL) nói thiên Nghệ Văn Chí trong Đại Việt Thông Sử của Lê Qúi Đôn và thiên Văn Tịch Chí  trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thấy có bản đồ tên là Thiên Hạ Bản Đồ(THBĐ) do các quan bộ Hộ qui định lại rõ ràng theo lệnh của vua Lê Thánh Tông. TBL nói không chắc công việc ấy thực hiện vào năm nào. Hiện nay trong Thiên Nam Dư Hạ Tập tàng trử tại Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện ở Hà Nội có 1 phần nhan đề Thiên Hạ Bản Đồ Kỷ Số. Vi ảnh Thiên Nam Dư Hạ Tập lưu trử ở Saigon lại thiếu phần bản đồ đó nên TBL không thể so sánh những trang ấy với phần Hồng Đức Bản Đồ(HĐBĐ) in trong sách này. TBL đặt câu hỏi có phải HĐBĐ là THBĐ? Như vậy sau cải tổ các địa khu hành chánh, vua Lê Thánh Tông ra lệnh quan bộ Hộ gom các chi tiết liên quan đến lãnh thổ bấy giờ để vẽ THBĐ thì những bản đồ chắc hẳn không xa cách lắm với những HĐBĐ. HĐBĐ là THBĐ do bộ Hộ san định.
Phần 2 là các đoạn trích HĐBĐ
Phần 3. Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCL ĐT). Học giả trước đây ghi chép lộ trình được biên soạn vào cuối thế kỷ 17 và đầu 18. Chỉ có 1 học giả không nói bản đồ thực hiện vào năm nào nhưng quả quyết những bản đồ ấy được vẽ theo chi tiết thâu lượm vào cuối thế kỷ 15 khi vua Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành. Đọc kỹ quyển 1 những lộ trình này thì sẽ thấy bản đồ được thực hiện vào cuối thế kỷ 17 hơn đầu thế kỷ 18. Hội An chỉ trở thành cảng cho thuyền buôn nước ngoài đầu thế kỷ 17. Trường họp Động Hải hay Đồng Hới, vẽ lại nhiều lũy. Đắp lũy Thầy chắc chắn không trước năm 1630. Năm 1653 Hùng Lộc lấy đất Chiêm Thành. Nhưng ở đây biên giới tới Phú Yên. Vậy bản đồ vẽ trước năm 1653. TBL thắc  mắc về địa danh như “nam thâm-Nha Trang môn” “Cam Ranh” môn ở bên núi Thạch Bi có hàng chữ “giáp Chiêm Thành giới” trong bản đồ trang 101. TBL nói Không hiểu ra sao cả(núi Thạch Bi, biên gới Chiêm Thành khi vẽ ở Phú Yên khi vẽ ở Thái Khang nên TBL nói không hiểu ra sao cả!) nhưng TBL nói niên đại của  TNTCLĐT ở giữa 1630-1653 có lẽ không trật quá xa(theo tôi vì Thạch Bi làm gới hạn Chiêm-Việt mơ hồ nên buổi đầu(TNTCLĐT) chú thích lầm lẫn ở 2 nơi Phú Yên và ở Thái Khang: Tới năm 1653 người ta vẫn không định rõ trên thực địa Thạch Bi ở đâu cả. Chỉ biết trên sách vở là Thạch Bi làm biên giới Chiêm-Việt, nên khi có phủ Thái Khang người ta vẫn vẽ Thạch Bi ở biên giới Thái Khang-Chiêm Thành! Đến khi bản đồ vẽ trong Bình Nam đồ thì rõ ràng ra. Thạch Bi không được vẽ ở Cam Tinh hải môn thâm giáp giới  ChiêmThành nữa. Bản đồ trang 162. Trong phần HĐBD, thừa tuyên Quảng Nam đáng lẽ vẽ giới hạn tới Cù Mông sơn lại vẽ tới núi Thạch Bi nhưng vẽ sai vị trí huyện Phù Ly và Tuy Viễn. Vị trí Nước Mặn/Nước Ngọt môn và Bà Đài môn cũng sai. Như vậy tới thời Đỗ Bá người ta hiểu biên giới phía Nam rất mù mờ).
Phần 4. Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ(GNNBNĐ) do Đoan quận công vẽ xong rồi dâng lên. Trang đầu đề “do Đoan Quận công dâng lên” nên Giáp Ngọ là năm 1594, QuangHưng 17. Nhưng  bản đồ ở các trang đầu vẽ vùng Đồng Hới thì thấy có lũy Thầy. Vậy niên đại phải sau 1630. Có bản đồ phủ Thái Khang nên niên đại phải sau 1653 là năm Hùng Lộc đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Thái Khang. Năm 1690 phủ Thái Khang đổi tên ra Bình Khang nên niên đại phải ở giữa 1653-1690. Năm Giáp Ngọ đời chúa Hiền(1648-1687) phải là năm 1654(Có phải sau trận Hùng Lộc GNBNĐ được sọan ra? Nhắc lại: Năm 1774 Bùi Thế Đạt cũng vẽ Giáp Ngọ Bình Nam đồ để đi đánh chúa Nguyễn.)
Phần 5 và 6. Niên đại của bản đồ nước Đại Man. Cảnh Thịnh Tân Đồ là bản đồ nước Đại Man có ghi “Hưng Hóa xử thủ thần tiến lãm và Cảnh Thịnh Mậu Ngọ”(1798). Cảnh Thịnh là từ 1792 đến 1801. Năm Canh Thân trong chú giải là năm 1800. Về bản đồ Cao Bằng.  Trang 175-176 ô 1A ghi “Cao Bằng phủ chi đồ” tức là vẽ trước khi Cao Bằng là 1 trấn. năm 1677 Lê Hy Tông bình định được họ Mạc đổi Cao Bằng ra trấn. Trang 183-184 ô 8-9C ghi “ngụy Mạc cựu cư.” Năm 1667 Trịnh Tạc lấy được thành, diệt luôn nhà Mạc. Vậy niên đại của sách ở khoảng 1667-1677.
Trở lại Hồng Đức Bản Đồ. Trương Bửu Lâm (TBL) lấy làm lạ trong bản đồ Trung Đô(phải được vẽ thời Lê Thánh Tông) có ghi “vương phủ(phải được vẽ thời chúa Trịnh) và trong 3 bản đồ cả nước và 13 thừa tuyên có các địa danh mà ông quả quyết đã đổi tên vào triều Anh Tông, Trang Tông, Mạc Phúc nguyên…vì kiêng tên húy. Vậy các bản đồ không được vẽ vào đời Lê Thánh Tông. Tác giả của TNTCLĐT là Đỗ Bá(ĐB). ĐB cũng biên tập các bản đồ Hồng Đức Bản Đồ. ĐB sống ở cuối thế kỷ 17(vua Lê-chúa Trịnh). Trương Bửu Lâm (TBL) nói hoặc ĐB thu thập các tài liệu trước hay sau thời Hồng Đức liên quan đến các phân khu hành chánh để biên chép thành sách HĐBĐ hoặc ĐB sao chép lại các bàn đồ của HĐBĐ thời Hồng Đức rồi đặt tên sách HĐBĐ. Cả 2 đều dẫn đến việc làm bản đồ  vào thời của ông, cuối thế kỷ 17, thời vua Lê-chúa Trịnh.  Khi họa lại các bản đồ, ĐB thêm “vương phủ” vào bản đồ Trung Đô và sửa lại các địa danh cũ nay đã lỗi thời.
 BẢN CHÉP TAY: Trương Bửu Lâm(TBL) giới thiệu về bản chép tay. Có 2 bản vi ảnh của 2 bản chép tay. Bản chép tay của Viễn Đông Học Viện có lẽ chép năm 1800-1807. Sách này soạn ra từ vi ảnh của Đông Dương Văn Khố(Tokyo) cho in lại. Vi ảnh là âm bản nên in ra chữ đen nển trắng. Mỗi trang nguyên văn được kèm theo trang phiên âm hay dịch nghĩa và phiên âm. Ghi thêm cước chú có đối chiếu với Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi, Đại Nam Nhất Thống Chí, Phương Đình Địa Dư Chí. Có phần phụ lục trích Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và Biểu Nhất Lãm…Cuối cùng là lời giới thiệu bằng tiếng Pháp.
PHẦN NỘI DUNG
Trang đầu của sách HĐBĐ.
Trang 2 nguyên văn chữ Hán Nôm: An Nam quốc Trung Đô thập tam thừa tuyên…ngũ thập tam phủ nhất bát thập nhất huyện tứ thập cửu châu…… Trang 3 dịch nghĩa: Nước An Nam kể từ Trung Đô và 13 thừa tuyên có tất cả 53 phủ, 181 huyện, 49 châu: Trung Đổ: 1 phủ, 2 huyện; thừa tuyên Thanh Hoa: 6 phủ, 22 huyện, 4 châu; thừa tuyên Nghệ An: 9 phủ, 25 huyện, 2 châu; thừa tuyên Sơn Nam: 9 phủ, 36 huyện;  thừa tuyên Sơn Tây: 6 phủ, 24 huyện; thừa tuyên Kinh Bắc: 4 phủ, 20 huyện; thừa tuyên Hải Dương: 4 phủ, 18 huyện; thừa tuyên Thái Nguyên: 3 phủ, 9 huyện, 6 châu; thừa tuyên Tuyên Quang: 1 phủ, 1 huyện, 5 châu; thừa tuyên Hưng Hóa: 3 phủ, 4 huyện, 17 châu; thừa tuyên Lạng Sơn: 1 phủ, 7 châu; thừa tuyên An Quảng: 1 phủ, 3 huyện, 4 châu; thừa tuyên Thuận Hóa: 2 phủ, 8 huyện, 4 châu; thừa tuyên Quảng Nam: 3 phủ, 9 huyện.
Hồng Đức năm thứ 21(1490) tháng 4, ngày mùng 6.
BẢN ĐỒ CẢ NƯỚC.
Trang 5 bản đồ cả nước. Trang 4 chú giải bản đồ cả nước. Trang 6: Nguyên văn chữ Hán Nôm: An Nam đồ thuyết…
Trang 7 dịch nghĩa: Nói rõ về bản đồ của nước An Nam. Đất An Nam, phía Tây vượt qua Ai Lao, phía Đông đến bờ biển, phía Nam chận Chiêm Thành, phía Bắc vượt qua  Lưỡng Quảng. Xưa có dấu vết cây trụ đồng đặt tại vùng Phân Mao Lĩnh. Nay cữa qua lại giữa nước ta và nước Tàu ở tại châu Văn Uyên, nơi đó có đài Chiêu Đức và đài Ngưỡng Đức. Nay chỉ chép 13 đạo(đạo thừa tuyên) cùng những núi có tiếng, những sông to. Còn các, phủ châu huyện và xã đều chép đủ trong các bản đồ không cần phải thuật ra tường tận. Người đọc hãy xem đó thì rõ.
Trung Đô: 1 phủ, 2 huyện, 36 phường. Phủ Phụng Thiên: 2 huyện. Huyện Thọ Xương: 18 phường. Huyện Quảng Dức: 18 phường.
TRUNG ĐÔ
Trang 8: ghi chú thích bản đồ Trung Đô. Trang 9 bản đồ Trung Đô.
THANH HOA THỪA TUYÊN.
Trang 10: bản đồ Thanh Hoa thừa tuyên. Trang 11 ghi chú thích. Trang 12 nguyên văn Hán Nôm: thừa tuyên Thanh Hoa lục phủ nhị thập nhị huyện tứ châu… Trang 13 dịch nghĩa: Thừa tuyên Thanh Hoa: 6 phủ, 22 huyện, 4 châu. Phủ Thiệu Thiên: 8 huyện: Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc, Lôi Dương, Đông Sơn, Yên Định, Cẩm Thủy, Quảng Bình, Thạch Thành(rút gọn không chép tên hương, xã, thôn, trang, sách, sở, trại, phường, vạn, nha, động). Phủ Hà Trung: 4 huyện: Hoằng Hóa, Thuần Lộc, Nga Sơn, Tống Sơn. Phủ Tĩnh Gia: 3 huyện: Nông Cống, Quảng Xương, Ngọc Sơn. Phủ Trường Yên: Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang. Phủ Thiên Quang: 3 huyện: Phụng Hóa, Yên Hóa, Lạc Thổ. Phủ Thanh Đô: 1 huyện, 4 châu: Thọ Xuân, châu Da Quang, châu Lương Chính, châu Tàm, châu Sầm.
THỪA TUYÊN NGHỆ AN
Trang 15 nguyên văn chữ Hán Nôm: Nghệ An thừa tuyên cửu phủ nhị thập ngũ huyện nhị châu… Trang 14 dịch nghĩa Thừa tuyên Nghệ An: 9 phủ, 25 huyện, 2 châu. Phủ Đức Quang:  6 huyện: La Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Chân Phúc, Hương Sơn, Thanh Chương. Phủ Diễn Châu: 2 huyện: Đồng Thành, Quỳnh Lưu. Phủ Anh Đô: 2 huyện: Hưng Nguyên, Nam Đường. Phủ Hà Hoa: 2 huyện: Thạch Hà, Kỳ Hoa. Phủ Trà Lân: 4 huyện: Kỳ Sơn, Hội Ninh, Tương Dương, Vĩnh Khang. Phủ Qúi Châu: 2 huyện: Trung Sơn, Thúy Vân. Phủ Ngọc Ma: 1 châu: châu Trịnh Cao. Phủ Lâm An: 1 châu: châu Qui Họp. Phủ Trấn Ninh: 7 huyện: Quang Vinh, Minh Quảng, Cảnh Thuần, Kim Sơn, Thanh Vị, Châu Lang, Trung Thuận. Trang 16 ghi chú bản đồ Nghệ An. Trang 17 bản đồ Nghệ An.
 
SƠN NAM THỪA TUYÊN.
Trang 18 bản đồ Sơn Nam. Trang 19 ghi chú bản đồ Sơn Nam. Trang 20 nguyên văn Hán Nôm: Sơn Nam thừa tuyên cửu phủ tam thập lục huyện… Trang 21 dịch nghĩa: Thừa Tuyên Sơn Nam: 9 phủ, 36 huyện: Phủ Thường Tín: 3 huyện: Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên. Phủ Khóa Châu: 5 huyện: Đông An,Thiên Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Dung. Phủ Ứng Thiên:  4 huyện: Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An. Phủ Lị Nhân: 5 huyện: Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm, Nam Xương, Bình Lục. Phủ Nghĩa Hưng: 4 huyện: Thiên Bổn, Ý An, Vọng Danh, Đại An. Phủ Thiên Trường: 4 huyện: Mỹ Lộc, Thượng Nguyên, Nam Chân Giao Thủy. Phủ Tiên Hưng: 4 huyện: Ngự Thiên, Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Phủ Kiến Xương: 3 huyện: Thư Tì, Vũ Tiên, Chân Định. Phủ Thái Bình: 4 huyện: Quỳnh Khôi, Đông An, Phụ Dực, Thụy Anh.
THỪA TUYÊN SƠN TÂY.
Trang 23: Nguyên văn chữ Hán Nôm: Sơn Tây thừa tuyên lục phủ nhị thập tứ huyện. tĩnh thành tại Minh Nghĩa… Trang 22 dịch nghĩa: Thừa tuyên Sơn Tây: 6 phủ, 24 huyện, tĩnh thành ở tại Minh Nghĩa. Phủ Quốc Oai: 5 huyện: Từ Liêm, Đan Phụng, Phúc Lộc, An Sơn, Thạch Thất. Phủ Tam Đái: 6 huyện: An Lãng, An Lạc, Bạch Hạc, Phù Khang, Lập Thạch, Tiên Phong. Phủ Lâm Thao: 4 huyện: Sơn Vi, Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoa. Phủ Đoan Hùng: 5 huyện: Đông Lan, Tây Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương. Phủ Đà Dương: 2 huyện: Tam Nông, Bất Bạt. Phủ Quảng Oai: 2 huyện: Mỹ Lương, Minh Nghĩa. Trang 24 ghi chú bản đồ Sơn Tây. Trang 25 bản đồ Sơn Tây.
KINH BẮC THỪA TUYÊN.
Trang 26 bản đồ Kinh Bắc. Trang 27 ghi chú bản đồ Kinh Bắc. Trang 28 nguyên văn Hán Nôm: Kinh Bắc thừa tuyên tứ phủ nhị thập huyện… Trang 29 dịch nghĩa: Thừa tuyên Kinh Bắc: 4 phủ, 20 huyện. Phủ Thuận An: 5 huyện: Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định. Phủ Từ Sơn: 5 huyện: Tiên Du, An Phong, Quế Dương, Đông Ngạn, Vũ Ninh. Phủ Bắc Hà: 4 huyện: Tiên Phúc, Hiệp Hòa, Kim Hoa, An Việt. Phủ Lạng Giang: 6 huyện: Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Yên Thế, Lục Ngạn, Bảo Lộc.
THỪA TUYÊN HẢI DƯƠNG.
Tang 31: Nguyên văn Hán Nôm: Hải Dương thừa tuyên tứ phủ thập bát huyện…Trang 30 dịch nghĩa: Thừa tuyên Hải Dương: 4 phủ, 18 huyện: Phủ Thượng Hồng: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giang. Phủ Hạ Hồng: Gia Phúc, Thanh , Tứ Kỳ, Vĩnh Lại. Phủ Nam Sách: Thanh Lâm, Chí Linh, Thanh Hà, Tiên Minh. Phủ Kinh Môn: 7 huyện: Hiệp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, Thủy Đường, An Dương.Trang 32: ghi chú bản đồ Hải Dương. Trang 35: Bản đồ Hải Dương.
THÁI NGUYÊN THỪA TUYÊN.
Trang 34 bản đồ Thái Nguyên. Trang 35: Ghi chú bản đồ Thái Nguyên. Trang 36: Nguyên văn Hán Nôm: Thái Nguyên thừa tuyên tam phủ cửu huyện lục châu…Trang 37: dịch nghĩa: Thừa tuyên Thái Nguyên: 3 phủ, 9 huyện và 6 châu. Phủ Phú Bình: 8 huyện, 1 châu: Phổ An, Đại Từ, Tư Nông, Bình Tuyền, Động Hỉ, Phú Lương, Văn Lãng, châu Định Hóa, huyện Vũ Nhai. Phủ Thông Hóa: 1 huyện, 1 châu: Cẩm Hóa, châu Bạch Thông. Phủ Cao Bằng: 4 châu: Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm, Quảng Uyên.
THỪA TUYÊN TUYÊN QUANG.
Trang 38: ghi chú bản đồ Tuyên Quang. Trang 39: Bản đồ Tuyên Quang và dịch nghĩa: Thừa tuyên Tuyên Quang nhất phủ nhất huyện ngũ châu. Phủ An Bình: Huyện Phúc Yên. Châu Thu Vật, châu Lục An, châu Đại Nam, châu Bình Nguyên, châu Bảo Lạc. 
THỪA TUYÊN HƯNG HÓA.
Trang 40: bản đồ Hưng Hóa và nguyên văn Hán Nôm. Trang 41: Dịch nghĩa: Thừa tuyên Hưng Hóa: 3 phủ, 4 huyện, 17 châu. Phủ Gia Hưng:  1 huyện, 5 châu: Huyện Thanh Xuyên, châu Phù Hoa, Mộc, Mai, Việt, Thuận. Phủ Qui Hóa: 3 huyện, 2 châu: Huyện Trấn An, An Lập, Văn Chấn, châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ. Phủ An Tây: 10 châu: Châu Luân, Lai, Quỳnh Nhai, Chiêu Phổ, Tung Lăng, Tuy Phụ, Hoàng Nham, Họp Phì, Lễ Tuyền, châu Mô. Ghi chú bản đồ Hưng Hóa.
THỪA TUYÊN LẠNG SƠN.
Trang 43 bản đồ Lạng Sơn và nguyên văn Hán Nôm: Lạng Sơn thừa tuyên nhất phủ thất châu… Trang 42: dịch nghĩa: Phủ Trường Khánh: 7 châu: Thất Tuyền, Văn Uyên, Văn Lan, châu Ôn, Thoát Lãng, Lộc Bình, Yên Bác. Ghi chú bản đồ Lạng Sơn.
THỪA TUYÊN AN QUẢNG.
Trang 44 bản đồ An Quảng và nguyên văn Hán Nôm: An Quảng thừa tuyên nhất phủ tam huyện tứ châu…Trang 45: Dịch nghĩa: Phủ Hải Đông: 3 huyện, 4 châu: Hoành Bồ, An Hưng, Hoa Phong, châu Tiên An, Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn. Ghi chú bản đồ An Quảng.
THUẬN HÓA THỪA TUYÊN.
Trang 48: Bản đồ Thuận Hóa. Trang 47 nguyên văn Hán Nôm: Thuận Hóa thừa tuyên nhị phủ bát huyện tứ châu…Trang 46: dịch nghĩa: Thừa tuyên Thuận Hóa: 2 phủ, 8 huyên, 4 châu. Phủ Tiên Bình: 2 huyện, 2 châu: Khang Lộc, Lệ Thủy, châu Minh Linh, Bố Chính. Phủ Triệu Phong: 6 huyện, 2 châu: Vũ Xương, Đan Điền, Hải Lăng, Kim Trà, Tư Vinh, Điện Bàn, châu Thuận Bình, Sa Bôi. Ghi chú bản đồ Thuận Hóa(trang 47 bản đồ Quảng Nam nhưng nguyên văn Hán Nôm nói về Thuận Hóa).
THỪA TUYÊN QUẢNG NAM.
Trang 47: Bản Đồ Quảng Nam(Quảng Nam thừa tuyên sơn xuyên hình thể chi đồ). Trang 48: nguyên văn Hán Nôm: Quảng Nam Thừa Tuyên tam phủ cửu huyện…(nhưng bản đồ ở trang 48 là bản đồ Thuận Hóa Thừa Tuyên sơn xuyên hình thể chi đồ). Trang 49: dịch nghĩa: Phủ Thăng Hoa:  3 huyện: Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang. Phủ Tư Nghĩa: 3 huyện: Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang. Phủ PHủ Hoài Nhân: 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Chú giải bản đồ Quảng Nam.
CÁC ĐOẠN TRÍCH.
Trang 54 nguyên văn và dịch âm “Giao Châu Chí.” Trang 55 dịch  nghĩa đoạn trích: Sách Giao Châu Chí: trong niên hiệu Vĩnh Lạc(1403-1424) nhà Minh, Trương Phụ và Mộc Thạnh đánh Hồ Qúi Ly, việc bình định xong xuôi mới soạn ra sách ấy dâng lên.
Vị trí về thiên văn: theo sách Văn Hiến Thông Bảo(chú giải VHTB là sách của Mã Đoan Lâm đời Nguyên) về vị trí thiên văn nước ta ở kế sao Khiên Ngưu và sao Vụ Nữ mà 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam của nhà Hán đều là đất ấy; theo Đường thư(chú giải: 2 bộ sách sử nhà Đường là Cựu Đường thư và Tân Đường thư) thì lại ở kế sao Thuần Vĩ, chưa biết sách nào nói đúng.
Cương giới và vị trí: Giao Chỉ nay là những đạo Kinh Bắc, Sơn Tây; Cửu Chân nay là những đạo Sơn Nam, Hải Dương; Nhật Nam nay là những đạo Thanh Hoa, Nghệ An. Đông Tây cách nhau 880 dặm. Nam Bắc cách nhau 2300 dặm. Phía Đông thì đến ranh giới cửa biển ở huyện Giao Thủy phủ Phụng Hoá: 320 dặm; phía Tây thì đến Tuyên Ủy ty của Lão Oa ở Vân Nam: 560 dặm; phía Nam đến ranh giới nước Chiêm Thành: 1900 dặm; phía Bắc đến ranh giới huyện Bằng Tường, châu Tư Minh, tĩnh Quảng Tây 400 dặm.
Bốn bên tám hướng: Phía Đông đến biển; phía Tây đến nướcLão Oa; phía   Nam đến biển; phía Bắc đến huyện       Bằng Tường tĩnh Quảng Tây: 470 dặm, phía Đông Nam đến biển; phía Đông Bắc đến châu khâm tĩnh Quảng Đông: 1000 dặm; phía Tây Nam đến nước Chiêm Thành: 2400 dặm; phía Tây bắc đến phủ Thuận An tĩnh Quảng Tây: 1500 dặm; đến Nam Kinh do ngả Quảng Tây đi 12 600 dặm, do ngả Quảng Đông đi 10 065 dặm.
Trang 56: nguyên văn và dịch âm  sách “Chí lược.” Trang 57 dịch nghĩa đoạn trích này:  Sách Chí Lược(ghi chú là An Nam Chí Lược của Lê Tắc) nói rằng trong niên hiệu Nguyên GiaI424-453I của Tống Văn Đế, xuống phương Nam đánh nước Lâm Ấp dựng cái nhật biểu (máy đo bóng mặt trời để đo lường khoảng cách) thì thấy mặt trời ở trong cái nhật biểu về phía Bắc 9 tấc 1 phân thì bóng ngã vào trong nhật biểu về phía Nam 3 tấc 3 phân. Giao Châu cách sông Lạc hơn 7000 dặm, vì núi sông khúc chiết mà khiến ra như thế. Dùng cái nhật biểu đó mà đo đường thẳng thì phải 6000 dặm.
Niên hiệu Khai Nguyên thứ 12  I724I, nhà Đường đo bóng mặt trời của Giao Châu vào tiết hạ chí thì thấy phía Nam cái nhật biểu 3 tấc 3 phân  thì đại khái cũng giống việc đo niên hiệu Nguyên Gia của Tống Văn Đế.
Trong sách luận hành(ghi chú nói sách của Vương Sung đời Đông Hán) có viết rằng quận Nhật Nam cách sông Lạc vạn dặm. Lý Thuyên(ghi chú nói sách Thái Bạch Âm  kinh của Lý Thuyên đời Đường) nói rằng châu An Nam cách Trường An 7250 dặm. Mạnh Quân(ghi chú nói sách Lĩnh Nam Dư Vật Chí đời Đường Hiến Tông) lấy bốn phía mà đo thì An Nam là phần đất cuối cùng của Trung Quốc. Từ Đại La thành ngày nay cho đến kinh đô(chú thích nói Kim Lăng ở Giang Nam) có 115 trạm dịch, tính ra 7700 dặm).
Trang 58: Nguyên văn Hán Nôm và dịch âm: Giao Chỉ đạo tam…Trang 59 dịch nghĩa đoạn trích này: Ba đường đi Giao Chỉ. Một đường do ngã Quảng Tây, một đường do ngã Quảng Đông một đường do ngã Vân Nam. Do ngã Quảng Đông thì dùng thủy quân, từ Phục Ba tướng quân(ghi chú nói Mã Viện) trở về sau dùng đường ấy. Đường Quảng Tây thì nhà Tống dùng. Đường Vân Nam thì nhà Nguyên và triều ta(ghi chú nói chỉ nhà Minh) mới bắt đầu mở ra.
Đường Quảng Tây cũng phân ra làm 3. Một là do châu Bằng Tường mà vào. Hai là do ải Nam Quan, 1 ngày thì đến trạm dịch Pha Lũy ở Văn Uyên(thừa tuyên Lạng Sơn) của Giao [châu] lại qua phía Bắc châu Thoát Lãng(tt Lạng Sơn) một ngày thì đến nha Lạng Sơn, một ngày nữa thì đến đường tắt nguy hiểm ở phía Bắc Ôn Châu(tt Lạng Sơn), nửa ngày thì đến Qủy Môn Quan, một ngày nữa thì đi qua thôn Tân Lệ ở phía Nam châu Ôn, qua 12 con sông một ngày thì đến huyện Bảo Lộc, nửa ngày thì qua sông Xương. Lại một ngày thì đến phía Nam huyện An Việt(phủ Bắc Hà tt Kinh Bắc), trên bờ phía Bắc hạ lưu sông Thị Cầu.
Ba là do phủ Tư Minh đi qua Ma Thiên Lãnh, một ngày thì đến châu Tư Lăng, qua cữa ải Biện Cường, một ngày thì đến phía Tây châu Bình Lộc, lại 1 ngày rưỡi nữa thì đến phủ Lạng Giang(tt Kinh Bắc), nếu do hướng Đông Nam thì đi qua sông Xa Lý. Con sông này những năm đầu Vĩnh Lạc[1403-1424], Hồ Qúy Ly đắp con đê ở đấy chống với quân nhà Minh, sau quân[Minh] đi dò xét biết được chỗ con đê ấy, mới cho phá để độ quân qua sông. Một ngày rưỡi thì đến An Tương, lại 1 ngày rưỡi nữa qua động Hao Quân, đường núi hiểm ác, lại 1 ngày nữa thì đến huyện Phượng Nhỡn(phủ Lạng Giang tt Kinh Bắc), lại chia làm 2 đường: một đường đi 1 ngày thì đến huyện Bảo Lộc, qua phủ Lạng Giang, cũng 1 ngày thì đến bờ phía Bắc sông Thị Cầu ở phía Nam Huyện An Việt. Các ngả cùng với con đường trước họp lại.
Trang 60: nguyên văn chữ Hán Nôm và dịch âm. Trang 61: dịch nghĩa: Ngả từ Long Châu(chỗ hợp lưu sông Bằng Giang/KỳCùng) mà vào thì 1 ngày đến ải Tây Bình, 2 ngày thì đến xã Văn Lang và Bình Gia. Lại chia ra làm 2 đường. Một đường theo châu Văn Lan, 1 ngày trải qua núi phía Bắc huyện Hữu Lũng, đi tắt ra Tây Bình Qủy Môn 40 dặm, đi qua phía trên nguồn sông Xương ngay qua phía Nam Hữu Lũng, ven theo bờ phía Nam mà xuống, 1 ngày thì đến vùng đất bằng huyện Yên Thế, cũng đến huyện Yên Dũng. Lại có 1 đường đi đến bờ phía Bắc sông Thị Cầu ở huyện An Việt, di theo phía Tây xã Bình Gia, 1 ngày rưỡi trải qua đường tắt núi Vũ Nhai 2 ngày thì đến đất bằng huyện Tư Nông, 1 ngày cũng tiến đến bờ phía Bắc thượng lưu sông Thị Cầu ở Bắc huyện An Việt. Sông Thị Cầu ở trong huyện An Việt, phía Nam sông Xương. Các con đường đều bằng phẳng dễ đi, chỗ nào cũng có thể đưa binh qua sông được. Một ngày thì đến phủ Từ Sơn, lại đến những huyện Đông Ngàn, Gia Lâm, độ quân ngang qua sông Phú Lương để vào thành Giao Châu.
Lại có 1 đường do huyện Mông Tự, trải qua bãi Liên Hoa vào cữa Hữu Lũng của Giao Châu, đi xuống động Trình Lan, đi theo bờ bên mặt sông Thao 5 ngày thì đến châu Văn Bàn, lại 5 ngày nữa thì đến huyện Trấn An, 5 ngày nữa thì đến huyện Hạ Hoa, lại 3 ngày thì đến huyện Thanh Ba, lại 3 ngày nữa thì đến thượng lưu sông Thao, phía Bắc là sông Tuyên Quang, phía Nam là sông Đà, từ Hưng Hóa đến sông Tam Kỳ ở Thần Miếu, huyện Bạch Hạc; lại 4 ngày thì đến huyện bạch Hạc, qua sông Phú Lương.
Trang 62: Nguyên văn Hán Nôm và dịch âm. Trang 63 dịch nghĩa: Một con đường từ Hà Dương theo bờ phía Bắc, bởi phía trái của sông Thao, 10 ngày thì đến châu Bình Nguyên, lại 5 ngày nữa thì đến huyện Phúc Yên, lại 1 ngày thì đến phủ Tuyên Quang, lại 1 ngày thì đến phủ Đoan Hùng, lại 5 ngày thì đến Tam Kỳ ở Bạch Hạc nhưng toàn là đường núi nghiêng khó đi. Ngả theo bờ phía hữu mà vào thì địa thế bằng phẳng, đó là con đường lớn vậy.
Nếu do ngả Hải Nam vượt lên mà đi, từ núi Phong Tử thuyền khởi hành, gió Bấc thuận lợi 3 ngày có thể đến phủ Hải Đông của Giao Châu. Nếu theo bờ biển mà đi thì từ núi Ô Lôi trải qua châu Vĩnh Yên 1 ngày thì đến Bạch Long Vĩ, 2 ngày thì đến Ngọc Sơn môn, 3 ngày thì đến châu Vạn Ninh. Từ Vạn Ninh đi 1 ngày thì đến Miếu Sơn, 2 ngày thì đến Đồn Tốt, 3 ngày thì đến phủ Hải Đông. Từ Hải Đông đi 2 ngày thì đến sông Kinh Thục có con đê bằng đá do nhà Trần dựng lên để chống cự quân Nguyên, 1 ngày thì đến cữa biển Bạch Đằng, lại 1 ngày thì đến cữa biển An Dương, lại 1 ngày thì đến cữa biển Đồ Sơn. Lại đi về phía Nam thì đến cữa biển Đa Ngư đều có hải cảng phụ để vào đất Giao Châu. Từ sông Bạch Đằng  mà vào thì phải trải qua 2 huyện Thủy Đường và Đông Triều. Đến Hải Dương lại phải trải qua Chi Linh, đi qua các sông hoàng Kinh và Bình Than.
Trang 64: Nguyên văn chữ Hán Nôm và dịch âm: Kỳ tự An Dương hải khẩu… Trang 65 dịch nghĩa: Ngả từ cữa An Dương mà vào thì phải trải qua huyện An Dương.  Cũng đến những con sông Hoàng Kinh, rồi do theo cõi phía Bắc phủ Thượng Hồng, phủ Nam Sách mà vào. Ngả từ cữa biển Đa Ngư thì trải qua 2 huyện An Lão và Tân Minh, độ binh thẳng qua Tứ Kỳ rồi lên ngược sông Hồng đến Khoái Châu, trải qua Hàm Tử quan mà vào. Phía Nam cữa biển Đa Ngư là cữa biển Thái Bình, con đường do 2 phủ Thái Bình và Tân Hưng cũng trải qua Khoái Châu đến sông Phú Lương ở Bắc Hà mà vào. Đây là đại lược đường biển mà vào vậy. Phía Đông Giao Châu có Hải Dương, Kinh Môn. Phía Nam có các phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Khoái Châu, xa gần đều có hải cảng phụ thông vào lệch nghiêng liên tiếp hàng 100 dặm. Thuyền to không vào được cho nên người Giao Châu phần nhiều làm thuyền đáy bằng để tiện vào các cảng.
Đón xem Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trang 66. Tập 2


0 nhận xét:

Đăng nhận xét