Địa hình nước Nam Bàn hay Thủy Xá Hỏa Xá
Sách của Nguyễn Đình Chúc và bài báo trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần.
THẠCH BI SƠN-HUYỀN
THOẠI
Cái gì được tôn vinh tô vẽ
thái quá thì mất tính trung thực, trở nên huyền thoại. Ở Phú Yên có 2 sự kiện lịch sử bị người
đời sau thêu dệt trở nên chuyện huyền thoại. Thạch Bi Sơn và thần hoàng Lương
Văn Chánh. Trong lịch sử có sự kiện phân định biên giới Chiêm-Việt sau trận hạ
thành Đồ Bàn và sự kiện quan biên phòng Lương Văn Chánh trấn nhậm huyện Tuy Viễn
phủ Hoài Nhân
trông coi biên giới thừa tuyên Quảng Nam của nhà Lê. Người đời sau tô vẽ thêm
ra làm Đá Bia ở Đèo Cả trở thành cột móc phân chia 2 nước Chiêm-Việt và Tiền Trấn
Biên quan LVC ở phủ Hoài Nhân thừa Tuyên Quảng Nam của nước Đại Việt thành khai
quốc công thần phủ PhúYên của Xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn. Bài này đề cập tới
“Thạch Bi Sơn Huyền Thoại.”
Viết nhân dịp đọc sách “Vũng Rô Đèo Cả Đá Bia” của tác giả Nguyễn
Đình Chúc(NĐC) và bài viết “Bia Miệng và
Sử”đăng trên “Tuổi Trẻ Cuối Tuần.
1-Thạch Bi Sơn Huyền Thoại: Trong sách Vũng Rô Đèo Cả Đá Bia tác giả NĐC dẫn hầu như đầy đủ các tư liệu nói về Thạch Bi, hay Thạch Bi Sơn: “Cao
Biền đánh Lâm Ấp đến núi Đá Bia cắm thần kiếm yếm long mạch và Đá Bia là Đồng
Trụ của Mã Viện.”(Dã sử nhà Đường). Đúng đây
là chuyện huyền thoại về Cao Biền ở Phú Yên. Phú Yên có nghe câu ca dao “Trông ra ngoài mả Cao Biền/Thấy đôi chim nhạn
đang chuyền nhành mai”. Người Giao Châu sùng bái Sĩ Nhiếp rồi đến lượt sùng
bái Cao Biền(CB). Chẳng phải cả 2 từng được người bị trị Giao Châu tôn vinh là
Sĩ Vương và Cao Vương hay sao! Làm gì có chuyện CB đến Phú Yên. Chính sử, Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT), nói năm 605 Lưu Phương nhà Tùy lấy nước Vạn Xuân của
nhà Tiền Lý cùng chia xẻ biên cương với nước Lâm Ấp bỡi cái đèo Ngang, thừa thắng
tràn qua đánh Lâm Ấp, vào kinh đô lấy 18 bộ thần chủ trong miếu đều đúc bằng
vàng, khắc đá ghi công rồi về. Binh sĩ thủng chân 10 phần chết 4 năm phần. Lưu Phương
ốm chết dọc đường. Nhà Tùy cho Khâu Hòa(KH) cai trị Giao Châu, bỏ đất Lâm Ấp. Thế
rồi nhà Tùy mất vào tay nhà Đường. KH lại đầu hàng nhà Đường. Nhà Đường đổi
Giao Châu thành An Nam Đô Hộ phủ(ANĐHP) gồm có 12 châu(Giao Châu thì gồm có 3 quận. Châu lớn hơn quận). Không có châu nào
trong 12 châu của ANĐHP ở phía Nam đèo Ngang cả. Bắc Phương mất quận Nhật Nam từ
đó và địa danh GiaoChâu với 3 quận Giao Chỉ Cửu Chân Nhật Nam biến mất. Nước
Lâm Ấp mạnh lên thành nước Hoàng Vương vào đời Nhà Đường. Có phải đoạn trích ở
trên trái với lịch sử, mang tính chất hết sức là huyền thoại hay là không?
Trích tiếp: “Núi này có 1 chi chạy đến biển, chia 2 dòng nước,
cỏ cây phân rẽ, có 1 hòn đá lớn đầu quay hướng Đông như hình người. Xưa vua Lê
Thánh Tông đi đánh ChiêmThành ngang qua đây, bùi ngùi than thở rằng “từ lúc trời
đất sơ khai đã phân ranh giới…”(Thủy Trình Lục Chí của
Trần Công Hiến). Từ ý này nảy sinh nói có các câu chữ khắc trên Đá Bia:
“Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc
vong/An Nam quá thử tướng tru binh chiết”(theo
tương truyền); “Dĩ Nam Chiêm
Thành/Dĩ Bắc dân triều mệnh Việt”(Non Nước Phú Yên
của Nguyễn Đình Tư). Làm
gì thời Lê Thánh Tông có quốc hiệu “An Nam”? Chỉ là Huyền thoại thôi.
Trích tiếp: “Vua Lê Thánh Tông Nam chinh, mở đất đến
đây, ở trên đỉnh núi có sai mài đá khắc chữ ghi việc chia ranh giới với Chiêm
Thành. Nay bia vẫn còn, nhưng chữ sứt mẻ không nhận ra được.”(Địa Dư Chí của Lê Quang Định)
Nguyễn Đình Chúc(NĐC) dẫn Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu trích dẫn sách Lê
Quang Định, sách Lê Qúi Đôn, Việt sử Tân Biên(VSTB) của Phạm Văn Sơn…Các
sách đó viết về lịch hành quân trận hạ thành Đồ Bàn cho thấy vua Lê không vượt
qua đèo Cù Mông đi xuống phía Nam. NĐC cho chuyện tạc bia là huyền thoại.
Trích tiếp: “Tháng 6 vua hạ chiếu lấy những đất mới của
Chiêm làm thừa tuyên Quảng Nam. Vua còn cho mài cái đỉnh núi cao nhất ngoài bờ
biển giáp địa giới với nước Nam Bàn(Phan Rang) làm thành cái bia định giới hạn,
gọi núi ấy là núi Thạch Bi…”(VSTB). Có thể
đây là sự thật? Thật là vì sau đó vua mới cho tạc bia có lý hơn.
Trích tiếp: “Núi Thạch Bi ở Phú Yên là chỗ tiên triều
phân địa giới với Chiêm Thành, núi đến rất xa, từ đầu nguồn liên lạc đến bờ biển.
Núi này cao hơn các núi khác...”(Phủ Biên Tạp Lục của
Lê Qúi Đôn).
Lại trích nữa: “Phong cho đất tự núi ấy trở về phía Tây, tạc
đỉnh núi lập bia làm địa giới, xoay lưng về phía Bắc, mặt về phía Nam, lâu ngày
dấu chữ đã mòn mất”(Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của
Đào Duy Anh).
Kết luận phân chia biên giới
là chuyện có thật còn móc chia cụ thể là cái gì thì rõ ràng là thứ do người đời
sau vẽ vời chủ quan có khi có chi tiết mâu thuẫn với lịch sử nên không thể chấp
nhận được.
2-Hình ảnh cụ thể Thạch Bi Sơn. Đến khi sách Hồng Đức Bản Đồ(HĐBĐ) ra đời khoảng cuối
thế kỷ 17 thì Thạch Bi và núi Thạch Bi mới được vẽ cụ thể nhưng vị trí vẫn còn
mù mờ, khó hiểu.
2.1-Sách HĐBĐ: là sách tập hợp nhiều tác giả viết ở các thời điểm
khác nhau. Sách có 6 phần. Phần 1 gồm 13 bản đồ của 13 thừa tuyên, 1 bản đồ
Trung Đô và 3 bản đồ cả nước Đại Việt. Trang đầu đề ngày 6-4 năm Hồng Đức 21(1490). Trang cuối đề “Nho sĩ
trúng thức họ Đỗ bá, tự Đạo Phủ ở Bích Triều (Thanh Giang) biên tập.”
Phần 2 là đoạn văn chép lại
Giao Châu Chí, An Nam Chí Lược và Giao Chỉ Đại Tam nói 3 đường đi Giao Chỉ
không biết trích ở đâu, chắc là từ tác phẩm đời nhà Minh.
Phần thứ 3 là Thiên Nam Tứ
Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT) gồm 4 quyển do Đỗ bá biên soạn vẽ lại lộ trình từ Thăng
Long đến Chiêm Thành(quyển 1), lộ trình từ kinh kỳ đến châu Khâm châu Niệm(quyển
2), từ kinh đô Phụng Thiên đến Quảng Tây Vân Nam(quyển 3), từ kinh thành đến Bắc
quan(quyển 4). Phần trên mỗi địa đồ có ghi chú lộ trình và trong địa đồ cũng có
ghi chú các địa danh.
Phân thứ 4 là Giáp Ngọ Bình
Nam Đồ(GNBNĐ) gồm 15 địa đồ vẽ đường đi từ Đồng Hới tới Chiêm Thành, đến biên
giới Cao Miên, có ghi thêm chỉ dẫn hành trình và ghi chú các địa danh trong địa
đồ. Trang đầu đề “Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (đốc
suất Đoan quận công họa tiến)”Nghĩa là Bản Đồ Dẹp Yên Miền Nam năm Giáp Ngọ
Đoan quận công(nguyễn Hoàng) vẽ dâng lên. Tính ra Giáp Ngọ đời Nguyễn Hoàng là năm
1594.
Lúc đó Nguyễn Hoàng đang ở Bắc giúp cháu ngoại Trịnh Tùng phục vị ngôi vua nhà Lê
sau khi lấy lại được kinh thành Thăng Long cho vua Lê. Năm Giáp Ngọ 1774 Bùi
Thế Đạt cũng lập kế hoạch Bình Nam sau biến cố Tây Sơn năm 1771. Không biết có
sự lẫn lộn hay không. Đời chúa Hiền(1648-1687) năm Giáp Ngọ là năm 1654 sau
năm 1653 là năm Hùng Lộc đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Thái Khang. Vậy có
phải bản đồ được soạn ra vào dịp bình nam này hay không? Trong 15 địa đồ có địa
đồ Thái Khang phủ giáp Diên Ninh phủ phải được họa sau năm 1653 và trước năm 1690 là
năm Thái Khang đổi thành Bình Khang.
Phần 5 là địa đồ Cao Bằng và
nước Đại Man(XiêmLào) do trấn thủ Hưng Hóa dâng lên vua Cảnh Thịnh.
Tóm lại các bản đồ họa ở các
thời điểm không thống nhất hay bị sửa chữa ví dụ địa đồ Trung Đô họa thời Hồng
Đức lại có ghi chú “vương phủ”là địa danh thời chúa Trịnh, có vẽ lũy ở vùng Quảng
Bình thuộc thời chúa Nguyễn, vẽ Nha Trang hải môn thuộc thời sau Hùng Lộc, có các
địa danh đã đổi tên vào triều Anh Tông, Trang Tông, Mạc Phúc nguyên…vì kiêng
tên húy v. v. Do đó phải thận trọng trong việc nhân diện các địa danh trong
sách HĐBĐ.
Có 2 bản chép tay của sách HĐBĐ
còn sót lại là bản chép tay của Viễn Đông Học Viện(Hà Nội) có lẽ chép vào năm
1800-1807 và bản ở Đông Dương Văn Khố(ToKyo) in lại. Sách HĐBĐ do Bộ Quốc Gia
Giao Dục SG năm 1962 in ra từ vi ảnh bản chép tay được lưu trử ở Đông Dương Văn
Khố của Nhật có kèm trang dịch âm và dịch nghĩa chữ Hán Nôm.
2.2-Nhân diện đơn giản Thạch Bi Sơn qua Sách
HĐBĐ: Lật trang 158 sách HĐBĐ do Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Sài Gòn xuất bản năm 1962, gọi tắt là HĐBĐ-1962, có in Giáp Ngọ Bình Nam Đồ(GNBNĐ)
thấy ở cột 5 hàng C, gọi tắt là ghi chú 5C, ghi chú là “Hồng Đức Lập Thạch Bi”. Ghi chú 4A
là “Phú Yên phủ giáp Thái Khang phủ”. Ta vội mừng thốt lên “Đích thực núi Đá Bia là
Thạch Bi Sơn đây rồi!” Xem xét kỹ thì thấy sách nầy biểu thị Thạch Bi Sơn cũng chẳng
rõ ràng gì hơn các đoạn trích trên kia. Ghi chú 7D là “Răn Răn hải môn” cho ta nhận định Thạch Bi Sơn ở bờ Nam sông Đà Rằng,
bên đối diện núi Nhạn Tháp! Nhận định này được củng cố bỡi ghi chú 4C “Điền dĩ hạ” thể hiện cánh đồng Nam Tuy
Hòa và ghi chú 3C “đèo Hổ Dương” thể
hiện dãy núi Đại Lãnh. Thật chẳng trúng chẳng trật, chẳng ra sao cả!
Trở lại quyển 1 Thiên Nam Tứ
Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT), lật trang 98 in bản đồ có vẽ biểu tượng 1 cái bia tạc trên 1
trái núi. Nghĩ đây là Thạch Bi Sơn vì ghi chú 11B là “Bàn Thạch giang” và ghi chú 9D là “Trà Nông sơn. ” Nhưng lật tới trang 101 lại thấy bản đồ có vẽ biểu tượng
cái bia tạc trên trái núi ghi “Thạch Bi”
bên trái ghi chú “Giáp Chiêm Thành Giới”(7C),
bên phải ghi chú là “Nha Trang hải môn”(8D). Hàng A có đoạn
ghi chú “Thánh Tông ngự giá thân chinh
Chiêm Thành, đạo binh kỳ xứ….” phần dịch nghĩa nói là “Thánh Tông ngự giá đánh Chiêm Thành, đi ngang qua chỗ ấy, nhân xem sơn
thủy cỏ cây mà than rằng: “trời đất mở mang ra đã chia ra ranh giới, kẻ xảo trá
điên cuồng làm trái với lẽ trời phải chịu cái họa của trời, thật là đáng than
thở cho vậy!” ”Ghi chú y như các tài liệu mà Nguyễn Đình Chúc trích như
trên đây nói về Thạch Bi ở trên núi Đá Bia ở Phú Yên! Ta thấy Thạch Bi khi thì
được vẽ ở bờ Nam sông Bàn Thạch rồi lại được vẽ ở phía Nam Nha Trang. Núi Thạch
Bi, biên gới Chiêm Thành khi thì vẽ ở chỗ Phú Yên giáp Khánh Hòa, khi thì vẽ ở phía
Nam Thái Khang nên Trương Bửu Lâm, người đề tựa sách HĐBĐ-1962, nói “không hiểu ra sao cả”!
Chẳng lẽ sách HĐBĐ tào lao
chẳng có giá trị sao. Cứ trông vào việc người Nhật lưu trử bản chép tay sách
này vào Đông Dương Văn Khố của họ là thấy
nó có giá trị. Ông cha ta để lại di sản văn hóa mà con cháu lấy làm chơi. Một
phiên bản cũ nhất của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được người Pháp lưu giữ. Nay ta
khám phá ra bộ Đồng Khánh Địa Dư Chí cũng lại được Đông Dương Văn Khố ở Tokyo lưu giữ. Không nên cưỡi ngựa
xem hoa khi dùng sách HĐBĐ.
2.3-Nhân diện tích cực ta sẽ có bài học về Thạch Bi Sơn. Dùng phương pháp tổng
hợp các bản đồ trong sách HĐBĐ-1962, đối chiếu với bản đồ ngày nay thì không những
ta hình dung được địa hình ngày xưa mà còn hiểu được người xưa hiểu Thạch Bi
Sơn là gì.
Trước tiên nên nhận diện các địa danh cũ ở phía Bắc Phú
Yên: So sánh địa hình mà bản đồ TNTCLĐT trang 97 thể hiện trong sách
HĐBĐ-1962 với bản đồ ngày nay thì ta nhận ra Vũng Chích(1D) là Đầm Cù Mông và
vũng Xuân Đài(VXĐ). Sông Cầu ngày nay chảy vào VXĐ là Xuân Đài giang(1C). Cù Lao Xanh là núi Ghềnh Bà
tức Ghền Bà sơn(1D). Tổng hợp bản Đồ TNTCLĐT tr97 với bản đồ GNBNĐ tr157 ta nhận
ra núi Vũng
Chích tức Vũng Chích sơn(4C) trong bản đồ GNBNĐ tr 157 ở trên bờ
Vũng Xuân Đài. Từ đó nhận ra sông Cái và sông Cầu ngày nay. Cả 2 đổ ra cữa xuân Đài hải môn(4C) trên bản đồ
GNBNĐ tr 157. Cũng trên bản đồ GNBNĐ tr 157 nhận diện 2 cù lao: Cù Lao Mây
Nước(3C) và Phủ Linh cù lao(2C)
Nhân diện địa hình Phú Yên: lấy 2 địa danh Cù Lao Mây Nước ở phía Bắc và Phủ Linh
Cù Lao ở phía Nam mà nhận dạng địa hình toàn tĩnh Phú Yên. Hai địa danh này đều
cùng xuất hiện trên cả 2 bản đồ GNBNĐ tr157 và TNTCLĐT tr98 trong sách
HĐBĐ-1962. Sự trùng họp của chúng ở trên cả 2 loại bản đồ TNTCLĐT và GNBNĐ, củng
cố niềm tin bản đồ GNBNĐ và TNTCLĐT thể hiện chính xác địa hình Phú Yên. Vị trí
cù lao Phú Linh và vị trí cù lao Mây Nước qui chiếu để nhận ra sông cực Nam là sông
Bàn Thạch và cực Bắc là sông Cái. Còn con sông ở giữa, bản đồ TNTCLĐT tr98 không thể
hiện mà thể hiện 1 cái vũng gọi là vũng Ba Linh(10D).
Trở lại bản đồ GNBNĐ tr 158, ta
thấy GNBNĐ thể hiện đầy đủ 3 con sông ở Phú Yên và có họa biểu tượng “Hồng Đức lập thạch bi” nói trên. Con sông phía Nam có cữa là “Răn Răn
hải môn”(7D). Bờ hữu Ngạn có ghi chú “Trà
Nông sơn”(6D) và biểu tượng bia Hồng Đức. Sông ở giữa có cữa là “Phú Yên hải môn thâm”(9D). Sông phía Bắc có cữa là “Mây Nước hải môn”(12D).
Nhận định rằng:
Sông phía Nam là
sông Bàn Thạch
mà cữa của nó trong bản đồ TNTCLĐT tr 98 ghi chú là Ăn Năn(?) hải môn(9E) trong khi nguồn của nó ghi là sông Bàn Thạch.
Trong bản đồ GNBNĐ tr 158 ghi cữa của sông phía Nam là Răn Răn hải môn(7D). Đây chỉ là 1 sự lầm lẫn trong việc dịch âm chữ
nôm ra chữ Quốc Ngữ của người đời sau mà thôi. Sau cụm từ “Ăn Năn” có đánh dấu hỏi chứng tỏ tiếng nôm đọc là gì không chắc. Người
chú giải sau này chữa lại là “Răn Răn”có
lẽ do thông tin mới thu nhận nói Đắc Lộ gọi con sông ở phía Nam dinh Foan là “Ran Ran” chăng? Bản đồ TNTCLĐT tr101 có
địa danh “Nha Trang môn”(8D). Rõ ràng
TNTCLĐT được biên tập sau năm 1653 là năm Hùng Lộc vượt qua rặng Đại Lãnh đánh
Chiêm Thành và sau thời điểm Đắc Lộ thăm viếng Phú Yên(1644). Địa danh “Ran Ran” tất nhiên được biết đến.
Sông ở giữa nhận định là sông Đà rằng, đoạn
hạ lưu sông Ba. Có nhiều lý do tin đoạn sông này là sông trẻ mới xuất hiện sau
này tách khỏi dòng chảy vào hệ sông Bàn Thạch qua ngả sông Đồng Bò đến Bầu Hương
rồi ra cữa Bàn Thạch(sẽ bàn sau). Đoạn sông này chảy thẳng trên đường đỉnh của
Đồng Bằng Bắc-Nam TuyHòa. Bằng chứng là 2 kênh thủy Nông Đồng Cam Bắc, Nam chảy
dọc theo nó(đường đỉnh) để đổ nước qua Hữu Ngạn và Tả ngạn của dòng sông. Đoạn
sông này còn trẻ nên chảy thẳng, rộng và có nhiều sạn cát khác với hạ lưu sông
Bàn Thạch là đoạn sông già chảy uốn khúc và chảy ở trên vùng bùn, đất. Ở bản đồ
GNBNĐ tr 158
dòng sông này ghi “Đại giang thiển”(9C)
nhưng cữa lại ghi “Phú Yên hải môn thâm”(9D)
có lẽ sông Đà Rằng hãy còn đổ nước vào vũng
Ba Linh(10D, bản đồ TNTCLĐT tr 98). Bên cạnh dòng sông đó có ghi chú ‘”Mai Thị sa.” Bãi cát Mai Thị chăng?
Phía Bắc ‘”Mai Thị sa” thể hiện dãy
núi vòng cung. Có phải dãy núi hình cung là dãy núi chạy dọc phiá Đông suối Cái
và ở phía bắc cánh đồng Tuy Hòa?
Sông phía Bắc: là
sông Cái vì ứng với cữa là “Mây Nước hải môn”(12D,
bản đồ GNBNĐ tr 158).
Trong bản đồ GNBNĐ tr157 ứng với cù lao Mây Nước(3C) là con sông có 2 nhánh cùng đổ ra cữa Xuân
Đài hải môn(4C). Hai nhánh đó một là thể hiện nguồn Trà Bươn giáp huyện Tuy Hòa và nguồn Kỳ Lộ
của sông Cái, hai là thể hiện sông Cái và sông Cầu cùng đổ vào vũng Xuân Đài. Trong
bản đồ TNTCLĐT tr97 sông Cầu được thể hiện bỡi Xuân Đài giang(1C).
So sánh bộ bản đồ TNTCLĐT với
bộ bản đồ GNBNĐ thấy bản đồ GNBNĐ họa chi tiết hơn chứng tỏ các tác giả am hiểu
Xứ Đàng Trong nhiều hơn. Ở địa phận PhúYên, GNBNĐ họa đủ 3 con sông và không có
chuyện lầm lẫn họa Thạch Bi ở Phú Yên rồi lại họa ở Nha Trang.
Còn 1 chút thắc mắc chưa thông là làm gì có 2 cù lao ở cữa sông Bàn Thạch(cù lao Phủ Linh)
và ở cữa sông Cái(cù lao Mây Nước). Điều này được giải mã nhờ hiện hiện tượng
“bể dâu.” “Thế gian, biển cả vũng nên đồi.”
Mới gần đây thôi, trong đời tôi, lúc thiếu thời, tôi thấy Biển Hồ ở phía Tây
núi Đá Bia rộng thênh thang bát ngát xứng với cái tên “Biển Hồ.”Bây giờ thì nó
teo lại như 1 cái ao chum! Nghĩ rằng ngày xưa “Biển Hồ”nó rộng lênh láng lan ra
tới cữa Đà Nông thì đứng ở cầu Bàn Thạch ngày nay trông quần thể núi Bà và núi
Đá Bia như là cù lao, cù lao Phủ Linh và “Biển Hồ”rộng tới Hòa Vinh thì
chẳng phải có vũng
Ba Linh sao? Bằng chứng là hiện nay sông Bàn Thạch không chỉ có 1
dòng chảy đổ ra cữa Đà Nông mà gồm nhiểu nhánh tỏa ra như cái nan quạt.
Và tương tự, nếu cữa Tiên
Châu của sông Cái ngày xưa dịch về phía Nam và cánh đồng phía Đông chợ Gĩa ngày
nay phủ đầy nước thì quần thể núi ở cữa Tiên Châu và Gành Đá Dĩa có phải là cù lao Mây nước?
Chuyện đó có thể xảy ra. Trong bài viết Thành Cũ Tuy An đăng trong blogongtam
tháng 3-2012 tôi có đề cập tác giả Phạm Đình Khiêm(PĐK) năm 1958 đi tìm di tích
2 thành cũ Thanh Chiêm ở Quảng Nam và
Thành Cũ Tuy An(Dinh Foan) ở thôn thôn Thành Cũ thuộc làng Hội Phú Tuy
An. Một nơi sinh ra và 1 nơi Tử Đạo của An Rê Phúyên. PĐK thắc mắc nói trong bản
đồ Đắc Lộ thấy Dinh Foan nằm ở phía Bắc 1 con sông mà bây giờ di tích thành cũ
lại nằm ở phía Nam sông Cái. Công cuộc khảo cứu cho tác giả kết luận ngày xưa
có 2 nhánh sông. Nhánh phía Nam thì lớn rộng. Nhánh phía Bắc nhỏ hơn. Dinh Foan
ở giữa. Khi đập Sơn Chà ở núi Sơn Chà hoạt động, nước dồn về nhánh sông phía Bắc,
để lại dấu vết cữa Tiên Châu cũ là 1 nhánh sông cụt hẹp và sâu ở phía Nam. Nhánh
sông nhỏ lớn rộng xói mất di tích Thành Cũ Tuy An thành ra sông Cái ngày nay. Bản
đồ AMS(US Army Map Services) xuất bản năm 1964 thể hiện rõ chuyện đó, chuyện cữa
Tiên Châu dời về phía Bắc để di tích cữa Tiên Châu cũ là 1 nhánh sông cụt ở
phía Nam.
Nhận diện các địa danh cũ ở phía Tu Bông sẽ làm rõ vị trí Thạch Bi Sơn trong sách HĐBĐ. Trong bản
đồ GNBNĐ tr158 trong sách HĐBĐ-1962, nếu con sông thể hiện trong cột số 6 và 7
mà cữa của nó ghi chú là Răn Răn hải môn(7D)
được nhận diện là sông Bàn Thạch như phân tích trên đây thì biểu tượng
bia Hồng Đức(Hồng Đức lập thạch bi 5C bản
đồ GNBNĐ tr158) sẽ thấy họa đúng vị trí. Ghi chú “Điền dĩ hạ”(4C) trên bản đồ GNBNĐ tr158 không thể hiện cánh đồng Nam Tuy Hòa
nữa mà thể hiện cánh đồng từ Phú Nhiêu, Phú Thuận Phú Thọ chạy vào thung lũng Đồng Cọ thì họp lý hơn. Lúc đó ghi
chú Đèo Hổ Dương(3C) trên bản đồ
GNBNĐ tr158 thể hiện vị trí nằm trên rặng Đại Lãnh sẽ trở nên họp lý. Họp lý
hơn nữa khi nhận ra địa danh Tô Ha(1C trên bản đồ GNBNĐ tr 158) là Tu Bông ngày
nay. Thật vậy: Tô
Ha là Tu Bông ngày nay.
Sách Đại Nam Thực Lục Chính
Biên đoạn thực lục tháng 2 năm 1800 đề cập tới việc đặt phu trạm ở Bình Thuận
và Bình Khang. Hai trạm chót là Tô Hà và Chử Châu. Trong trận chiến Tây Sơn-Nguyễn
Vương Ánh tranh nhau 2 cái thành Diên Khánh và Qui Nhơn ta nhận ra địa danh Chử Châu
là Vũng Rô. Trạm Tô Hà có phải ở Tu Bông?
Cũng trong trận chiến nói
trên, trận năm 1795 đề cập tới địa danh Tu Hà. Đại binh Trần Quang Diệu vây Võ Tánh ở
trong cái thành Diên Khánh để Tây Sơn cố nhổ cho được cái gai chiến lược này. Quân
Gia Định phản công, xuất quân từ Gia Định đi giải vây Võ Tánh và đi chận viện. Thực
Lục viết: Vua(Nguyễn Vương Ánh) đem thủy quân đến Chử Châu. Sai các tướng đem gấp
quân đến đèo Gian Nan đặt 3 bảo ở chân núi để chặn đường về của giặc. Rồi thì
kinh đô Phú Xuân có biến, Trần Quang Diệu bỏ vây thành Diên Khánh, chạy đến Tu Hà,
đem hết đại quân đánh các bảo. Đại bại, Trần Quang Diệu phải dẫn quân theo đường
Đèo Nhà Cắp(khoảng Ninh Hòa) rồi theo thượng đạo PhúYên mà về Qui Nhơn sau khi
cho chôn giấu khí tài nhiều vô kể ở Bình Khang.
Thực lục trận chiến nói trên sách Thực Lục đề cập tới 3 đèo(Nhà Cắp, Gian Nan và Đại Lãnh). Đèo từ Đồng Cọ vào Tu Bông được nhận dạng là Đèo
Gian Nan hay là đèo Cục Kịch. Văn cảnh trên đây cho ta nhận ra Tu Hà là
Tu Bông.
Tác giả địa phương Vinh Hồ
viết về Vạn Gĩa Tu Bông nói “Tu Bông” là do người Pháp đi ngang qua vùng Đại
Lãnh vũng Rô Vân Phong cảm cảnh đẹp thốt lên lời cảm thán “tout est bon” Từ đó
sản sinh ra địa danh “Tu Bông.” Tác giả lại dẫn câu ca dao “Mưa Đồng Cọ/Gió Tu Bông” nói lên cái đặc
thù xứ Tu Bông. Tác giả dẫn giải “Tu Bông” là do “Tu Hoa.” Vì Hồ Thị Hoa là vợ của
vua Minh Mạng nên kiêng tên húy “Tu Hoa”
đọc trại thành “Tu Bông.” Tác giả dẫn giải tiếp. Toàn cõi Khánh Hòa chỉ có xứ
Tu Bông hưởng cái gió Nam và gió Bắc khắc nghiệt mà các tĩnh miền Trung từ Phú
Yên trở ra tĩnh nào cũng chịu đựng. Gió TâyNam(Gió Lào) đem đến cái khô và nóng
rát của mùa Hè. Gió ĐôngBắc đem cái ướt át lạnh lẽo và mưa rả rich của mùa
Đông. Rặng Đại Lãnh và cao nguyên LâmViên cao chớn chở và các cù Lao vịnh Nha
Phu, vịnh Nha Trang che chắn 2 thứ gió trên nên khí hậu Khánh Hòa khác hẳn các
tĩnh Miền Trung phía Bắc và Tu Bông. Người Tu Bông lại gần gụi với người Phú
Yên. Phụ âm “h” lại phát âm như “w” hay “qu”, “hoa” phát âm thành “wa” hay
“qua”. Tác giả dẫn giải tiếp. Gió từ PhúYên lùa qua thung lũng Đồng cọ len đến
tới Tu Bông. Đến Eo Gió thì bị ép lại, thổi vù vù phát ra âm thanh nghe như tiếng
“tu qua” của em bé. Từ đó sinh ra địa danh “Tu Qua” hay “Tu Hoa.” Eo gió là nơi núi Xá(698m)
và núi Hỏa Sơn(714m)
nằm kề nhau và cao hơn phía Đồng Cọ. Giữa là đường đèo Gian Nan hẹp và sâu.
Trên bản đồ AMS thì ghi tên đèo Cục Kịch và tên núi Hoa Sơn.
Toàn bộ văn cảnh trên đây
giúp ta xác định địa danh Tô Hà, Tu Hà, Tu
Hoa, Tu Bông Hỏa Sơn, Hoa Sơn và Tô Ha
cùng chỉ 1 nơi có địa hình giống nhau thì không sai lắm: Tô Ha là Tu Bông. Từ
đó nhận ra “Nhũ Nương sơn”(1D, bản đồ
GNBNĐ tr158) ở trong vịnh Vân Phong, “Vũng
Đồi Mồi”(5D, bản đồ GNBNĐ tr158) là Chử Châu, là Vũng Rô. Địa hình khu vực của
biểu tượng bia Hồng Đức được rõ ra.
3-“Ý niệm” cột móc và “hình hài” cột móc.
3.1-Lịch sử biên giới phía Nam chẳng rõ ràng
gì. Trận hạ thành Đồ Bàn Đại Việt Sử
Ký Toàn Thư(ĐVSKTT) viết rất vắn tắt: “Năm
1471 tháng 3, mồng 1(ÂL) hạ thành bắt sống 3 vạn, chém 4 vạn, mồng 2 đem quân về,
Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu nộp cống được phong vương. Phong
vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước để dễ ràng buộc. Mồng 7 lấy người đầu
hàng Ba Thái, Ba Thủy làm Đồng Tri Châu và ThiêmTri Châu đất Thái Chiêm. Ngày
11 lấy Đỗ Tử Qúi làm Đồng Tri Châu Thái Chiêm quân dân sự, Lê Đà làn Cổ Lũy tri
châu quân dân. Ngày 15 viết chiếu thắng trận. Tháng 4 dừng ở Nghệ An. Tháng 5 mừng
thắng trận. Tháng 6 đặt thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Tháng 11 đánh bắt
Trà Toại.”
Đến đời vua Nguyễn sách Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục(KĐVS) ra đời mới viết rõ thêm ra. Ví dụ KĐVS
nói rõ 3 phủ 9 huyện của thừa tuyên Quảng Nam có tên là gì. ĐVSKTT không nói nước
Nam Bàn, Hoa Anh ở đâu cả trong khi phần ghi chú sách KĐVS nói “vua phong dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn Quốc Vương, chia đất
từ núi Thạch Bi
về phía Tây. Từ phủ Hoài Nhân theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy, tức là nước
Thủy Xá Hỏa Xá bây giờ”.
Sử
nhà Lê tảng lờ chuyện đánh bắt Trà Toại đem về an trí ở cữa Bảo Khánh thành
Thăng Long 30 năm sau thì mất. Con trai là Trà Phúc lấy trộm hài cốt cha đem về
nước tổ chức kháng chiến chống ĐạiViệt. KĐVS của nhà Nguyễn lại viết rõ ra chuyện
đánh bắt Trà Toại: “Tháng 11 Trà Toại làm
phản sai Lê Niệm đánh dẹp… Trà Toàn bị đánh bắt. Em hắn là Trà Toại trốn vào
trong núi sai sứ đem việc hoạn nạn cáo nhà Minh xin phong, thống lĩnh 3 vạn
quân đi đánh bắt Trà Toại và bộ lạc đem về kinh sư.”
KĐVS
viết việc năm 1471, phần cẩn án dẫn Minh Sử viết về An Nam và Chiêm Thành như sau.
Truyện An Nam nói “Thành Hòa thứ 7(ghi chú số 2151 KĐVS
nói là Hồng Đức thứ 2 tức năm 1471) Lê vương đánh Trà
Toàn. Hơn 3 năm sau đánh Trà Duyệt (KĐVS đính chính là Trà Toại) rồi đổi nước ấy làm Nam Châu,
đặt quân đồn thú.
Truyện Chiêm Thành thì nói: “Thành Hòa thứ
5(ghi
chú của KĐVS số 2152 nói là Quang Thuận thứ 10, tức năm 1469) An
Nam đòi Chiêm Thành nộp tê tượng của báu cung phụng lễ nghi như thiên triều.
Chiêm Thành Không theo. Đem đại binh đánh dẹp. Đến năm thứ 7 (tức năm 1471) phá được nước Chiêm Thành, bắt vua là
Trà Toàn, chiếm đất đai. Em vua nước ấy là Bàn La Trà Duyệt (KĐVS đính chính là
Trà Toại) chạy vào trong núi, sai sứ báo cáo nạn
nước. Thành Hòa thứ 10( tức năm 1474)
An Nam lập cháu
vua trước tên Tế Á Ma Phất Yêm làm vua, lấy cho đất phía Nam.” Nguyễn Thông trong
Việt Sử Thông Giám Cương Mục Khảo Lược(VSTGCMKL) cũng viết tương tự: “Thành Hòa thứ 7(1471)” An Nam
đánh Chiêm Thành. Em nước ấy cho sứ
sang TQ cáo nạn. Thành Hòa thứ 8(1472) sai
sứ cầm cờ tiết sang phong cho em vua. Sứ
gỉa đến cảng Tân Châu người giữ cữa biển kháng cự, sứ giả biết nước đã bị chiếm
cứ, đổi gọi là châu
Nam Giao.
Nhờ
sử triều Nguyễn 350 năm sau(1471-1820) ta mới biết Trà Toại trốn trong núi sai
sứ sang nhà Minh tố cáo Đại Việt xâm lấn và xin phong vương. Đại Việt phải lập
vua Nam Bàn năm 1474
không rõ ở đâu. Theo Minh Sử viết truyện Chiêm Thành thì An Nam lập cháu của
vua trước(đời
vua Bí Cai, Qúi Lai, Qúi Do?) phong cho đất phía Nam năm 1474 (không rõ nơi nào).
KĐVS
cũng không chắc ở nơi nào nên viết việc năm 1471, phần cẩn án chỉ ghi chú
là “chia đất từ núi Thạch Bi về phía Tây. Từ phủ Hoài
Nhân theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy” mà thôi. VSTGCMKL
của Nguyễn Thông viết “Năm 1478 vua
Nam Bàn chết, em của vua Nam Bàn là Vương Cổ đến tâu rằng người Giao Châu trước sợ uy
vua, trả đất cũ của anh, chỉ có kinh đô và 5 xứ Chiêm Thành thôi. Đất đai vốn
có 27 xứ.” Cũng về việc này viết
việc năm 1488, phần cẩn án KĐVS dẫn Minh Sử-Truyện Chiêm Thành viết hơi có khác(Cổ Lai
thay vì Vương Cổ và Năm 1481 thay vì năm 1478): “Năm Thành Hòa 17(1481) Cổ Lai sai sứ sang Minh nói nước tôi
bị nạn An Nam đánh phá, tôi cùng anh tôi là Trai Á Ma Phất Yêm(trên đây cũng dẫn
Chiêm Thành truyện nhưng gọi là Tế Á Ma Phất Yêm) phải
lẩn trốn trong hang núi. Sau An Nam sợ oai trời sai người dò hỏi được anh tôi, trả lại
đất cũ. Anh tôi quyền giữ nước chưa được bao lâu thì đã bị chết sớm. Theo thứ tự
tôi được làm vương, nhưng tôi không dám tự chuyên, xin bệ hạ cho tôi sách thư ấn
tín. Còn về đất đai có hơn 3.500 dặm xin bệ hạ đặc dụ cho người Giao Châu phải
trả lại hết đất xâm lấn. Năm thứ 20(1484), vua nhà Minh sai Lý Mạnh Dương và Diệp Ứng
đem sách thư phong Cổ Lai. Bọn Mạnh Dương nói Chiêm Thành hiểm trở xa xăm mà nước
An Nam vẫn gây việc binh đao chưa chịu thôi, hiện nay Đề Bà Đài lại vụng trộm chiếm cứ đất
đai. Nếu việc phong không thuận lợi thì tổn thương đến uy danh nước ta. Tưởng
nên đem sứ thần dụ bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc và ra lệnh cho An
Nam ăn năn tội lỗi. Vua nghe lời. Cổ Lai đem gia quyến sang Nhai Châu. Mạnh Dương sắc phong xong rồi
về. Sau đó Cổ Lại muốn thân đến cữa khuyết
tâu bày việc nước An Nam. Năm thứ 23(1487) Tống Mân, tổng đốc Quảng Đông, tâu lên. Đình
thần bàn nên sai 1 đại thần đến an ủi Cổ Lai và dụ bảo An Nam nên theo nghĩa “tồn
vong kế tuyệt” đón Cổ Lai về Chiêm Thành. Vua Minh chuẩn y sai Đồ Dung sang Quảng
Đông, đưa luông tờ hịch sang An Nam. Rồi mộ 2.000 quân mạnh khỏe đi 20 chiếc
thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về nước.” “Nước” là ở đâu? Chẳng rõ ràng gì. 5 xứ
là đâu? Kinh đô là đâu? Chẳng lẽ kinh đô Đồ Bàn được trả lại? Như vậy năm 1471
Đại Việt không xâm phạm đất Nam Cù Mông nhưng sau đó có thể xâm phạm đất này.
Có thể triều Lê bày đặt ra cái gọi là nước Hoa Anh rồi sau này người Chiêm kiện
cáo nên phải trả lại hay họ đánh lấy lại? Có thể Thành Hồ được thành lập làm
kinh đô trong dịp này? Thật sự biên giới phía Nam Đại Việt chẳng rõ ràng gì. KĐVS
có lời bình: “Nước nào về ngoại giao đều
có sở trường sở đoản. Chưa chắc sử nước nào nói đúng.” Về phần tôi có nhận
xét là đúng sai thì khó nhận định. Chỉ có
điểm đáng lưu ý là có phải Đề Bà Đài
là tên hiệu của Cổ Lai(lấy tên đất làm tên hiệu)? Có phải nước Nam
Bàn của vua anh thì ở phía Tây núi Thạch Bi còn vua em Cổ Lai Đề Bà Đài“vụng trộm chiếm cứ đất đai” là đất Cù
Mông Xuân Đài hay đất phía Nam như
Minh Sử nói ở trên, Kinh đô là Thành Hồ? Có phải sau khi vua anh chết vua em xuống
núi chiếm thêm đất Nam Cù Mông? Có phải năm 1487 Cổ Lai Đề Bà Đài được Đồ Dung hộ tống về “nước” là đất Nam Cù Mông? Địa
danh Bà Đài
được Liệt Truyện Tiền Biên viết truyện Lương Văn Chánh(LVC) làm quan ở huyện
Tuy Viễn tiến đánh Thành Hồ rồi gom dân đến đây, Đại Nam Nhất Thống Chí viết về
tĩnh Bình Định nói bổ LVC làm tri huyện huyện Tuy Viễn để dẹp yên biên trấn và
chiêu tập dân xiêu tán đến đây và văn bản còn lưu giữ thờ ở miếu LVC ở Phụng Tường
Phú Yên đề năm 1597
triều Lê Quang Hưng sai LVC coi huyện Tuy Viễn hãy đem dân đến đây. Có thể đất Nam Cù Mông thuộc Đại Việt từ năm
1474, ba năm sau trận Đồ Bàn thất thủ? Rồi hoặc ĐV trả lại hay ChiêmThành đánh
chiếm lại. Đất này bất ổn suốt 123 năm(1474-1597)! Tới năm 1611 mới yên hẳn nên
gọi là phủ PhúYên?
KĐVS quyển 24 nói năm 1488
tháng 12
sứ sang nhà Minh. Việc bang giao như thế này: “Trước đây khi Chiêm Thành bị phá, Dòng dõi nước ấy là Cổ Lai
đem gia quyến đến bá cáo nhà Minh về nạn nước. Hiến Tông nhà Minh sai quân đưa Cổ Lai về
nước lập làm quốc vương(vua Chiêm),
rồi làm tờ hịch sang dụ bảo vua nhà Lê. Hiếu Tông nhà Minh mới lên ngôi vua(Minh Hiếu Tông), sai sứ sang(tháng 11) bá cáo về việc lên ngôi vua và ban
cho lụa hoa(Hiến
Tông mất năm 1487, Hiếu Tông lên ngôi 1488, ĐVSKTT). Đến nay(tháng 12) vua Lê sai các sứ sang nhà Minh chúc mừng việc
Minh Hiếu
Tông lên ngôi vua... Hoàng Bá Dương
thì bá cáo việc Chiêm Thành quấy nhiễu ngoài biên.” Cũng trong năm này, năm
1488,
ĐVSKTT
chỉ viết vắn tắt: “Tháng 11 sứ
nhà Minh sang báo việc lên ngôi(Minh Hiếu Tông). Ngày 23 làm lễ đọc chiếu thư nhà
Minh.” Vì
sách ĐVSKTT không khắc in chiếu thư của Minh Hiếu Tông nói gì nên chuyện biên giới
nói trên đây trở nên mù mịt. Thời đó cũng có ban giao nhạy cảm với TQ như ngày
nay! Nếu giả thuyết tôi đưa ra trên đây đúng thì đất Nam Cù Mông(Bà Đài) 110 năm
sau(1487-1597) vẫn còn biến động! Biên giới chẳng rõ ràng gì.
3.2-Trở lại chuyện Thạch Bi sơn.
Lẫn lộn “ý niệm” cột
móc và “hình hài” cột móc. Cho đến khoảng cuối thế kỷ 17(1653-1690) từ năm khai
sinh ra phủ Thái Khang và năm phủ này đổi tên thành Bình Khang, các học giả Bắc
Hà vẫn còn lạng quạng không xác định được trên thực địa đâu là biên giới phía
Nam, vẫn còn lẫn lộn “ý niệm” cột móc và “hình hài” cột móc. Ý niệm về cột móc
phân chia biên giới Chiêm-Việt xuất phát từ “đường biên giới do lịch sử để lại”.
Nhưng lịch sử(ĐVSKTT) lại viết quá vắn tắt “Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần
chịu nộp cống được phong vương. Phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước
để dễ ràng buộc.” Nước của Bồ Trì Trì
ranh tới đâu? Nước Hoa Anh ở ranh giới nào? Nam Bàn ở chỗ nào? Chẳng rõ ràng gì
cả. Lại vì ban giao nhạy cảm bộ 3 Chiêm-Việt-Minh kiểu giống như bang
giao tế nhị bộ 3 đời Lý Thường Kiệt Chiêm-Việt-Tống, mà sử Triều Lê lờ đi, giấu
giếm các sự kiện xảy ra ở biên giới phía Nam. ĐVSKTT không đăng chiếu thư Minh Hiếu
Tông năm 1488
hiểu dụ An Nam cái gì sau khi Minh Hiến Tông sai Đồ Dung gởi hịch sang An Nam và hộ tống
Cổ Lai về nước năm 1487. Cứ thế, cứ cái ý chia 3 nước để ràng buộc,
các học giả cứ tượng tượng ra đường biên giới theo ý của mình. Móc biên giới trở
thành “ý” niệm thay vì có “hình” hài cụ thể. 350 năm sau(1471-1820), KĐVS Thông
Giám Cương Mục vẫn giữ cái ý Thạch Bi là cột móc chia 3 nước trong phần CƯƠNG,
chỉ dám chép “chia đất từ núi Thạch Bi
về phía Tây. Từ phủ Hoài Nhân theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy”vào phần
MỤC. Hèn chi tới thời Đỗ Bá biên tập bản đồ TNTCLĐT tr101 các học giả “tỉnh bơ”
họa hình Thạch Bi ở phía Nam “Nha Trang
môn”, gần chỗ “Giáp Chiêm Thành giới”
mặc dù vẫn họa(trường họp vẽ mới) hay còn để(trường họp dùng bản đồ cũ) biểu tượng bia Hồng Đức trên bản đồ TNTCLĐT tr98 ở vị trí bấy giờ
không còn là biên giới Chiêm-Việt nữa. Trước kia, người ta họa biểu tượng
này,bia HồngĐức, cũng chỉ nghĩ rằng đó là nơi PhúYên phủ giáp Thái Khang phủ
chia 3 nước, chẳng hiểu cụ thể đó là núi nào với “hình hài” cụ thể trên địa
hình thực địa là gì. Hàng A trong bản đồ tr101 học giả “phang” ngay lời chú giải
“Liêm Hóa Xã địa phận, hữu nhất chi sơn
đáo hải…” Dịch nghĩa là “Địa phận xã
Liêm Hóa 1 nhánh núi chạy đến biển, nước chia làm 2, cây cỏ cũng chia ngọn ra
làm 2, lại có 2 hòn đá như cái bia, 1 hòn nghiêng đầu về phía Tây, 1 hòn thì
nghiêng đầu về phía Đông như hình người ta…Thánh Tông ngự giá đánh Chiêm Thành
đi ngang qua chỗ ấy ...than “Trời đất mở mang ra đã chia ra ranh giới…” ” Ý
này được lập lại trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí, sách của Đào Duy Anh. Chắc
gì các tác giả khác nhau chỉ thị cùng 1 núi cụ thể trên thực địa? Mỗi tác giả có thể
tưởng tượng ra theo ý của mình. Mới xem qua ta cứ tưởng tác giả họa bản đồ
TNTCLĐT tr101 mô tả rặng Đại Lãnh trên đó có núi Mẹ Bồng Con(có 2 hòn đá hình
người)
làm cột móc phân chia biên giới. Nhưng xem lại thấy ở cột 7 hàng B trên bản đồ
này ghi chú “Liêm Hóa.” Té ra dãy núi
đó, bia đá đó ở đúng vị trí phía Nam Nha Trang. Có phải ý niệm biên giới đẻ ra
cột móc chứ không phải “hình hài” cột móc cụ thể hiện diện trên địa hình thực địa.
Núi Mẹ Bồng con mới
là bia Hồng Đức.
Nghiêng cứu bản đồ địa hình ngày nay với sử liệu ta nhận ra Thạch Bi đúng phải
là đá Mẹ Bồng Con. Lý do: Như phân tích
trên đây, khi nhận ra Biển Hồ là vũng Ba Linh thì Đá Bia ở PhúYên mất “tư cách” là Thạch Bi Sơn. Bia Hồng Đức gì
mà ở khơi khơi trên cù lao Phủ Linh để dùng làm móc chia 3 nước như chánh sử
đã ghi? Bấy giờ Đá Mẹ Bồng Con mới có “tư cách” đó không những vì nó cao nhất
vùng(tới 2050m) mà phù họp với sử liệu sau
đây:
Không
biết dựa vào tài liệu nào mà KĐVS viết “Từ
phủ Hoài Nhân theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy(Nam Bàn), tức là nước Thủy Xá Hỏa Xá bây giờ”.
Có
phải KĐVS dựa lời tường thuật của cai đội Luận Bình hầu Văn Thế Nghị(VTN) quê ở
thuộc Thời Đôn, huyện Tuy Viễn có nhiệm vụ vào núi lấy hương(trầm, kỳ) kể cho
Lê Qúi Đôn lúc làm việc ở Phú Xuân năm 1776 nghe chuyện vào núi tìm trầm với hành
trình: “Đi từ nguồn An Lạc đến Hà Nghiêu,
Đất Cày, đèo La Hai, giáp đất Phú Yên, đến Sông Lôi, Nước Nóng, Thượng Nhà, rồi
tới nguồn Hà Lôi là chỗ các sách người Man người Đê ở, cọng 3 ngày(hết địa phận sông
Cái tức sông Kỳ Lộ). Từ đây thuê người
Man dẫn đường đến chỗ ở của 2 vua Thủy Xá Hóa Xá của nước Nam Bàn mất 14 ngày.” VTN kể tiếp “Trong nước có núi Bà Nam rất cao lớn.Thủy Vương ở phía
Đông núi, Hỏa Vương ở phía Tây núi, đều có địa phận riêng.”
Viết
về Xứ Đàng Trong có lẽ Phủ Biên Tạp Lục là sách chính. Sách triều Nguyễn có thể
lấy nhiều thông tin ở trong đó. Sách Liệt Truyện viết về Thủy Xá Hỏa Xá nói họ
có liên hệ từ triều Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Sau đó mất liên lạc có lẽ do loạn
Tây Sơn. Đến Gia Long thì có liên lạc lại. Triều Minh Mạng họ thường sang cống
qua ngả đồn Phú Sơn(Củng Sơn) với danh xưng không rõ khi họ nói là Thủy Xá, khi
họ nói là Hỏa Xá. Vặn hỏi thì họ nói Thủy Xá là do người Việt dịch lầm chứ họ
là Hỏa Xá.
Sau đó tướng quân Trương Minh Giảng ở trấn Tây Thành(Nam Vang) tâu lên nói phủ
Sơn Tĩnh tiếp giáp huyện Sơn Bốc của Trấn Tây Thành báo có Man Trưởng nước Thủy Xá
muốn đến giao hảo. Triều Huế nói xưa nay chỉ nghe nói có nước Hỏa Xá tiếp giáp
phủ Phú Yên nay lại nghe nói đến nước Thủy Xá. Triều đình cho điều tra. Tháng
12 năm ấy, tĩnh Phú Yên dâng sớ nói cho bá hộ ở đồn Phú Sơn và bọn Lê Văn Quyền
đi điều tra. Trở về họ mô tả có đoạn: “Trên
đường đi thấy nơi có 2 quả núi rất cao có hình thể như nóc nhà nước
chia 2 bên chảy xuống. Núi này làm ranh giới Thủy Xá-Hỏa Xá. Từ đây đi chừng 2
ngày đường thì đến chỗ ở của Quốc Trưởng Hỏa Xá. Thấy nơi đây có 3 mặt là núi.
Một mặt là cánh đồng rộng.” Đoàn điều tra ở phía trấn Tây Thành cho biết nước
mà họ xưng là Thủy Xá là Hỏa Xá. Bá cáo viết “Từ phía Đông huyện Sơn Bốc trấn Tây Thành đi 15 hôm thì tới chỗ quốc trưởng Hỏa
Xá ở. 3 mặt giáp núi 1 mặt giáp cánh đồng rộng. Đông giáp Thủy Xá, Tây giáp huyện
Sơn Bốc, Nam giáp man Đen Đen, Bắc giáp man Lai.”
Địa hình hiện nay. Rặng Đại Lãnh(RĐL)
cao chớn chở chạy hướng TâyNam-ĐôngBắc chia đôi TrườngSơn. Phía Bắc là cao
nguyên GiaLai-DakLak cao từ 300-800m(màu hồng trên bản đồ quân sự Jm
Henthorn-1960s) rộng
lớn, bằng phẳng, thấp, và Nam là Cao nguyên
LangBiang cao 1400-210m
(màu đỏ).
Các đỉnh núi thì cao hơn 2100m(màu trắng có gạch chéo). Nhờ màu sắc mà ta
nhận ra địa hình xứ mà 1 thời sách sử cho là nước Nam Bàn và sau này gọi là Hỏa
Xá-Thủy Xá. Từ đó nhận ra núi Mẹ Bồng Con cao 2051m là cột móc họp lý phân chia
3 nước nói trên.
Đầu
tận cùng phía TâyNam của RĐL cao chót vót. Nơi đây có núi Chư YangSin(2442m) nằm
kế cận là núi Chư TupSa(1977m), tiếp theo núi chư Yang Gri(1426m),
Chư Knia(1707m).
Phía Tây Khánh Hòa và giáp ranh Ninh thuận có núi Chư BonGior(1467m),
Bi Doup(2287m).
Gần tới đèo Khánh Dương có núi Chư Prong(1105m), qua bên kia đèo, núi vọt lên cao thì có
núi chư Mư hay Mẹ Bồng Con(2051m), núi Đại Đa Đa(1730m), Hòn Chảo(1500m),
Hòn Chúa(1000m),
Hòn Kỳ Đà(1193m),
Hòn Ông(1110m),
ngọn núi kế phía Tây núi Tam Phong(Ba Non) cao 1470m. Đưa ra cao độ các đỉnh núi để
thấy cái hùng vĩ núi non của rặng Đại Lãnh và núi non ở phía Tây Khánh Hòa để
có ý niệm đây là xứ sở của Trầm Hương, địa bàn tìm hương của Luận Bình hầu Văn
Thế Nghị(VTN) nói trên.
Cặp
núi Chư YangSin-chư
TupSa là chủ sơn của dãy Đại Lãnh mà VTN gọi là “núi Bà
Nam” và bọn Lê Văn Quyền ở PhúYên nói là “2 quả núi rất cao có hình thể như nóc nhà…làm
ranh giới Thủy Xá-Hỏa Xá” trên đây. Dãy Đại lãnh là đường đỉnh phân thủy về
phía Bắc nước chảy về sông Ba(Ea Pa), về Nam vào Khánh Hòa và vào tĩnh Quảng Đức(DakNong).
Tại phía Bắc núi Bà Nam từ phía cao nguyên DakLak, có 1 nguồn của sông Krong Ana
len trong thung lũng 500-800m(màu hồng) chạy lên đỉnh núi BàNam. Tương tự bên
phía DakNong cũng có 1 thung lũng(màu hồng) thuộc nguồn ĐôngBắc của sông Dak
Krong Kno(Ea Krong Kno) len lên núi Bà Nam tiếp cận với nguồn phía Bắc. Đây là
đường vào Hỏa Xá từ phía Đông.
Ở
phía Nam thung lũng Dak Krong Kno này, các nguồn từ cao nguyên LangBiang chảy lên Bắc đổ nước vào
Dak Krong Kno. Dak Krong Kno Tiếp tục chảy lên Bắc, tới buôn Trấp hợp lưu với Ea Krong Ana từ Lạc Thiện ở phía Nam Ban Mê Thuộc chảy đến tạo ra sông Ea
Krong mà Campuchia gọi là sông Srepok chảy qua đồng bằng Buôn Đôn rồi vào sông Mekong. Dak
Krong Kno làm ranh giới cho tĩnh Quảng Đức-DakLak. Thung lũng Dak Krong kno 3 mặt
giáp cao nguyên Dak Lack-Lâm Viên-Snarr và hướng ra cánh đồng buôn Đôn ở phía Bắc
tiếp giáp với trấn Tây Thành đúng như Liệt truyện và Phủ Biên Tạp Lục(Văn Thế
nghị) mô tả.
Đường lên Thủy Xá-Hỏa
Xá. Văn
Thế Nghị kể 1 tràng các địa danh đi qua từ phủ Hoài Nhân theo sông Cái(Kỳ Lộ) tới
đầu nguồn là Hà
Lôi có người man người đê ở rồi mướn họ dẫn đường lên Thủy Xá Hỏa
Xá. Dãy núi Vân Hòa ở phía Tây PhúYên nối
dài từ cao nguyên KonTum(800-1400m) đến núi Chóp Chài làm đường phân thủy chia
nước về Đông vào sông Cái và về Tây vào sông Ba(Ea Pa). Sông Ba phát nguyên
trên cao nguyên KonTum phân cao nguyên KonTum và GiaLai-DakLak đôi đường. Từ
nguồn Hà Lôi đoàn “thám hiểm” xuống núi, theo sông CàLúi chảy theo hướng ĐôngBắc-TâyNam,
xưa nay dùng làm ranh cho Phú Yên, tới thung lũng sông Ba(200m, màu trắng) ở chỗ cữa sông Krong Hnăng
từ Nam chảy lên Bắc, đổ nước vào sông Ba. Krong Hnăng cũng hay dùng làm ranh
cho các tĩnh. Ngược dòng, đoàn leo lên đến cùng nguồn sông Krong Hnăng xưa nay dùng làm Ba
Biên Giới(Phú Bổn-PhúYên-Khánh Hòa). Cùng nguồn sông Krong Hnăng tiếp xúc với
cùng nguồn sông Krong Ana. Đoàn bây giờ đi vào vùng màu hồng từ 300m trở lên thuộc đầu nguồn
sông Krong Ana. Các nguồn Krong Ana thu nước từ sườn phía Đông rặng Đại Lãnh vào
sông Krong Ana chảy về Tây rồi hợp lưu với
Dak Krong Kno thành Ea Krong chảy lên Bắc như nói trên. Cứ thế mà đi về TâyNam
cho tới chân rặng
Đại lãnh ở cao 500m, rồi đoàn leo dốc 500-800m trong 1 thung lũng của nguồn Krong
Ana để lên sống
núi cao 800-1400m(màu trắng có gạch chéo). Vượt qua sống dãy
núi, đoàn xuống núi trong thung lũng dưới 800m(màu hồng) của 1 nguồn Dak Krong
Kno ở sườn phía Nam phía bên kia rồi thì lại leo lên cao nguyên LangBiang(1400-2100m màu đỏ). Đó là đường
Yersin trong hành trình ngược lại băng qua các cao nguyên Langbiang-DakLak-GiaLai-KonTum-Attopeu
rồi về DàNẵng.
Thay lơi kết. Vào triều Lý Anh
Tông(1138-1175) vua Chân Lạp Suryavarman II vượt cao nguyên đánh vào Đồ Bàn để
1 lại hoàng tử cai trị đất mới. Mẫu quốc có biến, triều ChânLạp này bị lật đổ.
Hoàng tử trở về nước chờ thời. Champa lại phản công trả thù ChânLạp. Cựu hoàng
tử nói trên thắng trận thủy chiến lớn trên Biển Hồ, đuổi được quân xâm lăng,
lên ngôi vua ChânLạp hiệu Jayavarman VII xây dựng Angkor hùng tráng, khắc bia ghi công
trận thủy chiến. Thời đó họ văn minh và hùng mạnh hơn Đại Việt(ĐV). Năm 1152 hoàng
thân Champa Ung Minh Ta Diệp sang triều Lý xin làm vua nước Chiêm Thành. Lý Mông
hộ tống về nước bị Chế Bì La Bút(CBLB) giết chết cả 2, lên làm vua Champa. Năm
1154 CBLB dâng con gái cầu hòa ĐV để rảnh tay đối phó ChânLạp. Lê Văn Hưu chê
Lý Anh Tông nhận con gái thay vì từ chối triều cống để nhân dịp chinh phạt
Chiêm Thành vì giết sứ giả Lý Mông. Ghi chi tiết này để thấy cao nguyên Gialai-DarkLak
không lạ gì đối với người Chiêm Thành. Có 1 nước Nam Bàn đã từng bao đời thuộc lãnh địa
của Champa có người Champa-ChânLạp qua lại nay nhà Lê cắt đất ấy chia cho con
cháu của họ thì chẳng lạ lùng gì. Các học giả đời sau không hiểu mô tê chứ biên thần
thời đó rõ đường rõ nẻo tư vấn cho nhà vua hiểu rõ địa hình để hành xử và biết
Thạch Bi Sơn ở đâu. Hậu sinh vì thiếu sách vở để lại nên nói lung tung, tưởng
tượng ra cái thạch
bi. Đá Bia là Thạch Bi Sơn chỉ là ở dưới cái nhìn của những ai có dịp đi ngang qua đây chứ dưới cái nhìn các
nhà chiến lược ở triều đình nhà Lê sau trận hạ thành Đồ Bàn hay người ngày nay
thông hiểu lịch sử và hiểu bản đồ không ảnh, bản đồ quân sự với đầy đủ chi tiết
địa hình thì cho đá Mẹ Bông Con mới là Thạch Bi Sơn.
Cuối Đông 2013
HBC. | | |
|
|
0 nhận xét:
Đăng nhận xét