![]() |
| Nước Chân Lạp xuất hiện sau nước Phù Nam |
![]() |
| Vị trí các di tích |
![]() |
| Di tích ở Angkor và trên lãnh thổ Thái Lan |
![]() | |
| Di tích ở Angkor và vùng phụ cận. |
![]() |
| Cổng vào thành Angkor Thom |
![]() |
![]() | ||
| Các di tích vòng ngoài |
![]() |
| Đền PreahKo ở trong quần thể Rolous, kinh đô cũ. |
![]() |
| Đền Bakong còn ở trong quần thể Rolous. |
![]() |
| Phnom Bakeng cách cữa Nam thành Angkor 500m, phía Tây vệ đường, cách cữa Tây Angkor Wat 1,5km. |
![]() |
| Koh Ker ở ĐôngBắc núi Kulen. |
![]() |
| Beng Mealea ở TâyNam núi Kulen |
![]() |
| Preah Khan Kompong Svey ở phía Đông núi Kulen. |
![]() |
| Banteai Srey ở TâyBắc núi Kulen với nét chạm trổ tinh vi |
![]() |
| Một phù điêu chỉ to bằng 1 đồng bạc mà nét điêu khắc tinh tế đến nỗi để lộ sự sợ hải của con sư tử khi thần lắc đất lung lay! |
![]() |
| Đền Preah Vihear ở biên giới ĐôngBắc |
1.1-Giai đoạn lịch sử không rõ ràng. Nước Chân Lạp xuất hiện sau nước Phù Nam. Từ đây từ ngữ “Khmer” xuất hiện cùng với từ ngữ “Chân Lạp.” “Khmer” có nguồn gốc từ Môn Khmer để chỉ 1 thứ ngôn ngữ gọi là Môn Khmer. Tiếng Môn Khmer xuất phát từ 2 trung tâm ở Saemun(Thái Lan) và Champasack(Nam Lào).
Lịch sử Chân Lạp. Có giả thuyết nói khoảng giữa thế kỷ thứ 6 và 7 khi đế quốc Phù Nam suy thoái. Các chư hầu nổi lên đánh đuổi người Phù Nam. Một nhóm chạy xuống Nam đến đảo Java lập ra nước Sailendra. Ở phía Băc các tiểu vương lập ra nước Chân Lạp bắt người Phù Nam làm chư hầu. Sự việc bắt đầu từ vua Phù Nam Rudravarman(517-539) giết anh là Jayavarman rồi lên ngôi. Sự lên ngôi không chánh đáng gây nội loạn dẫn đến thời đế quốc Phù Nam suy vong. Có thuyết nói cháu của Rudravarman lấy bà chúa Kambujaraalaksmi rồi trở thành vua nước ấy rồi mạnh lên thành nước Chân Lạp. Có thuyết nói vua Bhavarman mới là người lập ra nước Chân Lạp. Tiếp theo là vua Mahendravarman, Isavarman, Jayavarman I.
Có thuyết nói sự thực không rõ ràng như thế. Thuyết này nói Phù Nam chỉ là 1 trong các vua núi, không phải 1 đế quốc. Có 1 thời gian dài để các tiểu vương của các vua núi biến hóa. Nhiều tác giả nói thời Isanavarman và Jayavarman I chưa có sự thống nhất các tiểu vương. Lại có thuyết nói người Phù Nam chạy xuống Java trở lại tiến lên đánh các tiểu vương ở phía Bắc(nhiều tác giả). Trong cuộc chiến Puskarak bị bắt đem về Java. Puskarak trở về lập ra nước Chân Lạp.
1.2-Giai đoạn lịch sử rõ ràng:
Triều vua Jayavarman II. Puskarak trốn về nước. Năm 803 (cùng thời với nước Hoàng Vương thay nước Lâm Ấp) lên ngôi hiệu là Jayavarman II. Từ đây lịch sử mới lần lần rõ ra. Từ năm 540 đến năm 800 là 260 năm biến hóa. Suốt 50 năm trị vì Jayavarman II dời đô 5 lần và chống Java. Kinh đô đầu tiên gần Rolous cách Siemreap 13km về phía Đông(Wipedia nói 15km Đông Nam). Dời về núi Kulen ở phía Bắc Siemreap năm 802 rồi dời lại Rolous đặt tên là Hariharalaya tôn vinh thần Shiva và Vihsnus. Băng hà năm 850. Jayavarman III cũng qua đời.
Triều vua Indravarman I(877-889) nối nghiệp, thống nhất Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp(lấy dãy Dângrêk làm ranh giới), dựng đền Preah Ko năm 880 trong quần thể Rolous để tôn vinh Jajavarman II. Con lên thay là Yaksovarman(889-900) xây hồ East Baray, dựng đền trong quần thể Rolous và bắt đầu dựng đền chính trong khu vực Angkor(Phnom Bakeng). Khi sắp hoàn thành ở trên núi Bakeng năm 893 ông dời đô về Yasodharapura(tên cũ của Angkor). Tranh ngôi với anh mình. Rolous trở nên hoan tàn. HashavarmanI(900-922). Isavarman II (922-928).
Triều vua Jayavarman IV (928-941). Dời đô về Koh Ker 100km ở phía ĐôngBắc Angkor, phía ĐôngBắc núi Kulen lập đế chế 23 năm. Đây là kinh đô cổ, ở vùng núi thiếu nguồn nước. Vua kế nghiệp chuyển lại về Angkor, không ở trên núi Bakeng mà dịch về phía Đông trong khu vực đền Pre Rup(Hồ Đông Baray). Thời cực thịnh. Cho xây Takeo, Banteay Srey(Nguyễn Hiến Lê: Jayavarman V xây đền Banteai Srey cuối thế kỷ thứ 10 ), Baphuon và hồ Tây Baray. Harsavarman II (941-944). Rajendravarman II(944-968) chống được Champa. Jayavarman V(968-1001). Loạn lạc 9 năm.
Triều vua Suryvarman I lên nắm được quyền năm 1010. Xây Angkor Wat. Suryavarman II(1113-1150) cho 1 hoàng tử đi đánh Champa ở Vijaya(Đồ Bàn) và sau này trở thành vua Jayavarman VII. Suryvarman II băng. Triều nổi loạn. Tribhuvanadityavarman lên nắm quyền. Hoàng tử triều cũ từ Vijaya về nước nhẫn nhục chờ.
Triều vua Jayavarman VII: Sinh khoảng năm 1120-1125. Cưới công chúa Jayarajadevi. Năm 1165(khoảng triều Lý Anh Tông(1138-1175) và triều vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút(1145-1170) có chiến tranh với Champa. Jayavarman VII đi đánh kinh đô Vijaya của Chiêm Thành như nói ở trên(đánh Chế Bì La Bút?). Ở quê nhà vua cha Suryvarman II băng. Triều thần nổi loạn. Tribhuvanadityavarman lên nắm quyền. JayavarmanVII về nước nhẫn nhục chờ. Năm 1177 vua Chiêm là Jaya Indravarman đem thủy quân lên Biển Hồ đánh úp đốt phá Angkor. Vua Chân Lạp bỏ chạy. Jayavarman VII đánh trận thủy chiến với Champa. Chiến tích này được ghi trên thành đền Bayon và đền Bateai Chmar. Bốn năm sau(1181) thì dựng kinh đô. Một bài minh được khắc ghi trên bia ở thành Angkor Thom mô tả sự hoành tráng của kinh đô này. Vua tiếp tục cho xây nhiều đền đài: Banteay, Kdei, Prak khan và trăm đền đài khác. (Trong khi đó ở Đại Việt triều Lý bắt đầu suy: Lý Cao Tông(1176-1210); đến đời Huệ Tông-Lý Chiêu Hoàng từ năm 1211 đến 1225 thì nhà Lý mất ngôi), năm 1190 Jayavarman VII sai sứ sang Đại Việt(Đại Việt Sử Ký ghi từ năm 1149 đã có người Java, Xiêm La vào buôn bán ở hải đảo Vân Đồn. Năm 1150 Chân Lạp vào cướp châu Nghệ An bị lam chướng làm tan rã. Năm 1152 Ung Minh Ta Diệp xin làm vua nước Chiêm Thành. Lý Mông hộ tống về nước bị Chế Bì La Bút giết chết cả 2. Năm 1154 Chế Bì La Bút dâng con gái. Lê Văn Hưu viết Lý Anh Tông(1138-1175) không hỏi tội về việc giết Lý Mông mà nhận con gái là sai lầm để sau này Chân Lạp và Chiêm Thành vào cướp Nghệ An. Năm 1191 Xiêm La sang cống) lấy lòng rồi cùng hoàng thân Vidyananda giúp sức đánh bắt bắt dược vua Champa giải về Angkor. Vidynanda gốc Champa đã qua Miên sống lúc còn nhỏ được tuyển làm quan. Jayavarman VII cho em vợ làm vua ở Vijaya(Đồ Bàn), còn hoàng thân Vidyanandra làm vua ở Panduranga. Một lần nữa, Champa bị chia thành Bắc Chiêm Thành và Nam Chiêm Thành. Người Champa nổi lên giết em vợ của vua. Hoàng thân Vidynanda không thần phục Chân Lạp nữa và thống nhất nước Champa. Năm 1203 Vidynanda bị chú hay bác giết chết(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bản điện tử nói người chú bác này là tay sai của người Khmer). Champa lại bị Chân Lạp đô hộ 17 năm nữa( Sử Việt ghi: Năm 1203 biên thần Nghệ An tâu vua Chiêm Bố Trì bị chú là Văn Bố Điền đánh đuổi xin cầu cứu. Triều Lý Cao Tông sai Đàm Dĩ Mông đi lo liệu). Hoàng hậu mất, vua Jayavarman VII cưới bà chị ruột của hoàng hậu. Bà này văn hay thảo nhiều bài minh văn trong trẻo ở các bia ký. Chân Lạp mở rộng mọi hướng. Bia ở Prak Khan năm 1191 nói ông đã làm được 20.000 tượng thần bằng vàng, bạc, đồng đen, đá rải rác các tĩnh. Công việc thờ phụng dùng tới 306.372 người trong 13.500 làng. Mỗi năm ăn 38 tấn gạo. Gom trong đền hàng ngàn kg vàng bạc, chục ngàn viên ngọc. Về già xây vội vàng như chất đá thành đống, sa thạch thiếu thay bằng đá ong, chạm trổ vội vàng(Nguyễn Hiến Lê). Không biết Jayavarman VII mất vào năm nào có lẽ năm 1219. Có thuyết nói ông bị bịnh hủi. Vua hủi là ông? Không có gì làm chắc. Từ đây không có đền đài nào được xây dựng nữa. Bayon thì còn xây dựng dang dở. Lúc này ở Đại Việt vương triều nhà Lý đổ nát và Thăng Long có kiến trúc theo lối Tàu bằng gỗ và ngói nên không để lại vết tích đền đài như ở Champa và Chân Lạp.
Triều Indravarman II (II ?). Đạo Hindu tái du nhập. Đền đài Phật Giáo xuống cấp. Một số tượng Phật biến cải thành linga thấy ở Prohn và Prahkhan. Jayavarman VIII cho xây đền Balamon ở Angkor như 1 tháp nhỏ tại East Prasat ở Angkor Thom. Sau khi Jayavarman VIII băng hà Phật Giáo Nam Tông Therevada được du nhập cho đến ngày nay. Vào thế kỷ 13, tương ứng đời nhà Trần, Chân Lạp bị người Thái xâm lăng. Năm 1432(tương ứng đời nhà Lê), vua Ponhea Yat dời Angkor về Lovek rồi dời về Oudong(cả 2 ở gần nhau và cách Biển Hồ 2/3, cách Phnompenh 1/3) rồi về Phnom Penh, bỏ cố đô một thời vang bóng để xa lánh người Thái. Người Chân Lạp ngại người Thái hay người Việt hơn? Vào thời kỳ này sử liệu Đại Việt dùng lẫn lộn tên nước Chân Lạp và nước Xiêm La. Tên nước Cambodge thì được dùng vào thời Pháp Thuộc và nay là tên Campuchia. Chúa Nguyễn gọi nước này là Chân Lạp, vua Nguyễn gọi là Cao Mên.
2-Tên nước Phù Nam, nước Chân Lạp và nước Campuchia: Hiểu được cổ sử của Champa, Phù Nam(Funan) và Chân Lạp(Tchen La) là nhờ thư tịch của các nước chung quanh và bia ký. Không dễ gì có cái thông suốt như sử của các nước có thói quen viết sử(có người làm sử). Nên có cái nhìn khái niệm hơn là cố chấp vào tài liệu này tài liệu kia. Vì không có cái thông suốt nên tài liệu viết khang khác nhau. Thêm vào đó việc 3 nước này có vương hiệu không lấy tên họ người làm vua như Ta và Tầu mà lại lấy tên thánh như Indra, Jaya, Rudra…thêm thứ I, II, III…làm người đọc lẫn lộn tứ tung. Niên đại không ăn khớp. Dù vậy vẫn có cái chung để nhìn chính xác lịch sử 3 nước đó. Có thời thịnh trị với lịch sử các triều vua rõ ràng. Có khoảng khủng hoảng hay thời mới lập quốc làm khuyết đi 1 đoạn sử liệu.
Thời lập quốc có 2 nước ra đời ở phía Đông là Champa và Phù Nam dưới 2 tên nước Hồ Tôn và nước Diệu Nghiêm mà truyền thuyết lập quốc na ná giống nhau. Sau đó xuất hiện nước thứ 3 ở phía Tây trẻ hơn gọi là Chân Lạp. Từ năm 539 đời vua Phù Nam Rudravarman đến khoảng năm 800 Puskarak bị người Java đánh bắt làm tù binh trốn về phục quốc Chân Lạp có khoảng 260 năm lịch sử mịt mờ. Dựa vào bia kí và thư tịch thì thấy các bài viết lẫn lộn 2 nước Phù Nam-Chân Lạp trong giai đoạn này. Không tác giả nào xác định được năm mất của Phù Nam và năm lập quốc của Chân Lạp. Trường hợp tương tự thấy ở phía Đông là khó phân biệt 2 nước Lâm Ấp và Hoàn Vương thời sau nhà Tùy và trước nhà Đường(589-618).
Về danh xưng cho tới bây giờ không tác giả nào nói được người bản địa gọi Phù Nam là gì, Chân Lạp là gì. Các từ đó do người Trung Hoa gọi họ. Không biết từ đó phiên dịch theo nghĩa hay theo âm từ đâu. Hội nghị về ĐNÁ cổ năm 1973, công bố năm 1979, Claude Jacques nêu nghi vấn về Chân Lạp và Phù Nam. Phù Nam phiên âm từ bnam hay vnam có nghĩa là núi ứng với vua núi là kurun. Claude Jacques nói tên kurun, bnam là tiếng Khmer cổ và chưa bao giờ thấy trên bia ký Khmer. Parvatabupala là từ Sanskrit đã gặp trên bia ký. Tên parvatabupala chỉ gặp trên bia Han Cei và xuất hiện 2 lần. Cả 2 đều viết số nhiều. Nghĩa là các vua núi. Các vua núi này bị 1 vua Bhavarman nào đó đánh bại. Không có lí do gì nói các vua núi là vua Phù Nam. Đơn giản chỉ là những vua núi cùng thời. Coedes rút từ bia Ta Prohm nói Bhavarman về sau là vua Chân Lạp. Sau khi kết hôn với bà chúa Kambujaraalaksmi thuộc dòng vua Sresthavarman, Bhavarman lập ra nước Chân Lạp chinh phạt Phù Nam. Claude Jacques nói Coes đọc lầm. Theo bia ký, Kambujaraalaskmi không phải vợ của Bhavarman mà là vợ của Harsavarman. Vậy Không lí do gì nói Bhavarman là vua Chân Lạp, đất nước của công chúa Kambujaraalaskmi. Gỉa thuyết của Coedes không đứng vững. Tưởng đã rõ ràng thì lịch sử Phù Nam vong quốc và Chân Lạp lập quốc trở lại mờ mịt. Theo Jacques thì có nhiều vương quốc trên đất của chủng người nói tiếng MônKhmer. Các vương quốc Bhavapura, Aninditapura, Vyadhapura, Sresthapura và kể cả các trấn thành coi như độc lập ví dụ như Amoghapura, Cakrancakpura, Bhimapura…các tiểu vương cho ta ý niệm về địa lý đất Khmer(kiểu nhiều vua núi ở trên đất này như Jacques đã nói ở trên). Năm 1981 Lương Ninh cũng nghĩ tương tự nói Phù Nam không phải 1 quốc gia thống nhất bộ máy cai trị hoàn chỉnh mà chỉ tập hợp các tiểu quốc. Lương Ninh định được tiểu quốc Naravaranagara ở Tây sông Hậu. Óc Eo nằm trong tiểu quốc gia đó. Không biết Óc Eo có phải thủ đô hay là không. Vương quốc Phù Nam và Chân Lạp buổi ban đầu không rõ ràng gì. Và từ lập luận của Jacques thì gọi Chân Lạp là Campuchia(Cambodge, Cambodia, Kambuja) cũng không đúng vì Kambujaraalaskmi không phải vợ của Bhavarman mà là vợ của Harsavarman.
Cái nhìn về phân bố địa lý. Sự việc xảy ra từ Đông sang Tây quanh cái bản lề là vùng Nam Kỳ Lục Tĩnh của VN ngày nay. Tâm điểm là Óc Eo. Thoạt đầu ở phía Đông có 2 bộ tộc mà truyền thuyết nói lên cùng gốc gác. Khi tách ra làm 2 nước. Lúc nhập thành 1 nước. Truyền thuyết nói đến bộ tộc Cau và Dừa. Cau và Dừa khi thì chỉ 2 bộ phận của nước Chiêm Thành là Nam Chiêm Thành và Bắc Chiêm Thành; lúc thì ám chỉ 2 nước Hồ Tôn Tinh và Diệu Nghiêm. Hai nước đều có truyền thuyết nói vua lập quốc đều là người Thiên Trúc chiến thắng nữ chúa thần rắn ở địa phương rồi sáng lập ra đất nước. Về sau xuất hiện nước thứ ba là nước Chân Lạp cũng có tôn giáo và tín ngưỡng tương tự thờ thần Rắn. Thần Rắn hóa thân thành thành tiên nữ ân ái và phù hộ vua. Nước trung gian là Phù Nam xuất hiện gần đồng thời với nước Lâm Ấp(thế kỷ thứ 2) sau này là nước Hoàng Vương(cỡ năm 800 đờinhà Đường) rồi nước Chiêm Thành hay Champa. Nước Phù Nam hưng thịnh một thời rồi bị diệt vong mà nguyên nhân ngày nay không tác giả nào cắt nghĩa cho thông. Trải qua khoảng 260 năm từ vua Rudravarman của Phù Nam đến vua Jayavarman II của Chân Lạp, quốc gia Phù Nam mới mất hết vết tích và được thay thế bằng 1 quốc gia trẻ hơn hưng thịnh lên, đế quốc Chân Lạp. Một lần nữa Champa đụng độ với nước này như trước đây họ tranh chấp với Phù Nam. Nước Chân Lạp lúc trưởng thành đóng đô ở Rolous, cách Siemreap 15km phía Đông Nam. Sau đó định đô(Angkor) ở 2 bên bờ sông Siemrieap cách thị xã Siemreap không xa ở phía Bắc. Kinh đô có lúc dời lên gần tới dãy núi phía Bắc làm ranh biên giới Thái Lan-Campuchia ngày nay, dãy DângRêk. Nước Chân Lạp khi lập quốc chống trả với người Java và sau này vượt Trường Sơn đánh Vijaya(Đồ Bàn), kinh đô Chiêm Thành và vào Đại Việt. Một thời Champa và Chân Lạp tranh hùng với nhau. Kinh đô Phù Nam Vyadapura mà Trung Hoa gọi là Đặc Mục, Angkor Borei(Tây Bắc Châu Đốc trong lãnh thổ Campuchia), Óc Eo không thấy nói đến nữa. Vào thế kỷ thứ 17 khi chúa Nguyễn và tướng lưu vong nhà Minh(Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch) đến đây thì người Khmer vẫn còn lơ là bỏ ngỏ vùng này, vùng Khmer Miệt Dưới(nên tránh dùng từ Thủy Chân Lạp/Lục Chân Lạp ở 2 bên dãy núi DângRêk). Phù Nam đúng là xứ bản lề của 2 thế lực Đông Tây, Champa và Chân Lạp. Miền Bắc Chân Lạp quan trọng hơn góc Đông Nam lầy lội này. Dãy núi DângRêk, trung tâm nước Chân Lạp, dốc ở phía Campuchia và thoai thoái ở phía Thái Lan tiếp giáp cao nguyên chừng 400-500m là đầu nguồn của sông Menan.
3-Đền Đài của đế quốc Chân Lạp:
3.1-Một vòng thăm viếng di tích thành Angkor Thom. Thành nằm chồng lên 1 phần thủ đô cũ Yashodharapura(tên cũ của Angkor) ở về phía TâyBắc. Thành hình vuông 3x3km(đền vuông Angkor Wat mỗi cạnh chỉ dài 1,5km). Tường thành xây bằng đá ong, trên đỉnh có công sự. Quanh thành có hào rộng 100m đầy bèo lục bình và thông với sông Siemreap ở góc ĐôngBắc của thành. Trong thành có hệ kênh đào dẫn nước từ góc ĐôngBắc sang TâyNam. Sông Siemeap phát nguyên từ núi Kulen(ở cao độ trên 400m. Còn rặng Dângrêk thì cao độ chừng 610m). Sông đang chảy theo hướng ĐôngTây đến góc ĐôngBắc của thành, bẻ ngoặt 90 độ chảy thẳng xuống phía Nam trước cữa Đông, tiếp tục chảy băng qua thị xã Siemreap rồi vào Biển Hồ. Ở mỗi góc thành có đền thờ góc(Prasat Chrung) hình chữ thập, có tháp trung tâm hướng mặt về Đông, xây bằng sa thạch, thờ Quan Thế Âm. Quanh phía trong thành có nhà thế tục nay không còn nữa, chỉ còn là rừng bao phủ.
Bốn cổng Đông Tây Nam Bắc. Thêm cổng Chiến Thắng cách cổng phía Đông 500m về phía Bắc. Từ 4 cổng có đường dẫn đến trung tâm là đền Bayon. Cổng Chiến Thắng cũng có đường dẫn đến quảng trường Chiến Thắng. Đỉnh cổng có hình đầu phật với mặt tượng Avalokitesvara(Quan Thế Âm bồ tát). Băng qua hào từ cổng đi ra có đoạn đường mà 2 bên có hàng thần deva nâng rắng thần naga trong tư thế kéo co.
Hành trình Nguyễn Hiến Lê đi thăm các di tích năm 1943 bắt đầu vượt qua cổng Nam thành Angkor Thom, đi thẳng lên phía Bắc, thăm đền Bayon ở giữa thành.
Đền Bayon: thờ phật, thuộc loại kiến trúc đền núi. Nghĩa là gồm 1 cái bệ thấp 160X140m. Trên bệ có 3 dãy phòng bao bọc xung quanh(loại phòng mái vòm như vòm của cái tháp). Càng vào bên trong dãy phòng càng cao dần. Ở trung điểm và ở các góc dãy phòng có tháp. Dãy ngoài còn trơ cột đá cao độ 2m và vài bức tường chạm đủ các hình sinh hoạt. Dãy giữa gần như nguyên vẹn. Nóc bằng đá sa thạch. Phòng nhỏ chừng 2m. Tường chạm trổ như dãy ngoài. Trong các bức chạm trổ ở Bayon có bức mô tả trận thủy chiến với quân Champa. Dãy trong. Trong cùng là khoảng sân hẹp. Có 50 cái tháp hình đầu phật cao trên 10m. Có 43 đầu phật. Mỗi đầu có 4 mặt phật. Tất cả 172 mặt phật giống nhau nhưng mỗi mặt 1 vẻ khác nhau. Mặt lớn 2-3m. Cái trên cao cái đưới thấp cái sáng 1 nửa, cái sáng 1 góc cái sáng cả, cái tối cả, hướng đủ 4 phương trời. Cái nào cũng có cặp mắt hiền từ. Nụ cười khoan hòa mỉa mai bí mật. Vào đêm trăng thì thấy sự kỳ diệu. Cái có cặp mắt như long lanh như cười con người khờ dại. Lại có cặp mắt ươn ướt như khóc cho thế giới trầm luân. Có cặp môi như trêu cợt mỉa mai, như mấp máy. Có nụ cười từ bi. Có nét mặt như vỗ về. Có cặp mắt như động lòng nhắm lại, như thương tâm quay đi. 172 mặt cùng 1 khuôn mặt nhưng 172 vẻ. Khách tự hỏi làm sao chở đá từ núi Kulen về đây và dùng vôi cát gì để liên kết mà mấy trăm năm không đổ. Nền dưới sức nặng kia không lún(theo Nguyễn Hiến Lê). Có nhiều lý giải mặt phật trên đầu tháp. Mặt phật bồ tát? Mặt vua Jayavarman VII? Trên ngọn tháp trung tâm đền là tượng của vua Jayavarman VII?
Đến đền Baphoun ở phía Bắc Bayon: Cũng loại đền núi như Bayon, tức kiến trúc gồm 3 bực hành lang. Toàn bộ trông như quả núi. Mỗi hành lang có tường, có phòng và có tháp, chạm trổ đục đẽo công phu. Càng vào bên trong, bực càng nhỏ và càng cao vút lên như đỉnh ngọn núi. Đền này ở phía Bắc Bayon nhưng cao lớn đồ sộ hơn. Bên ngoài vào đền là 1 lối đi rộng 10m dài trên 200m làm bằng phiến đá lớn bắt trên cột cao hơn 1m như 1 chiếc cầu. Cuối lối đi là 1 tòa 3 tầng. Tầng cao nhất có tháp cao.
Bệ voi và đền Phimeanakas: Bệ voi 200X300m hướng ra quảng trường Chiến Thắng, có tường bằng đá cao 4m bao bọc đục khắc hình voi lớn bằng voi thật. Con thì nhổ sen. Con thì khênh kiệu. Có 2 bực lên. Giữa bệ có đền Phimeanakas giống như đền Baphoun nhưng nhỏ hơn, tức dạng hình núi có 3 bực hành lang, trên cùng có tháp cao. Chu Đạt quan bảo đền có tháp bằng vàng. Đó là chỗ nghỉ của nhà vua. Thời đó dân tin có hồn con rắn 9 đầu làm chủ non sông hiện lên thành con gái rất đẹp. Vua vào canh 1 đến đó ân ái với nó rồi mới tới phiên hoàng hậu hoàng phi. Hiện lên mà nhà vua không tới, vua sẽ gặp tai họa. Bỗng nhiên không hiện lên nữa thì vua sắp chết.
Bệ vua hủi: ở phía Bắc Bệ Voi và cũng hướng ra quảng trường Chiến Thắng. Bệ vuông 25x25m, cao 6m, tường đá ong ốp sa thạch trang trí nhiều phù điêu. Vua ngồi trên sân bệ, xếp bằng. Chân kia đầu gối đưa lên(có tác giả nói đây là phong cách Java). Thân thể lõa lồ nhưng không có bộ phận sinh dục. Không biết tượng của vua nào, thần nào. (Trên sơ đồ hiện nay về phía Bắc thấy tiếp tục ghi thêm các di tích như Preah Palilay là tháp hình ống khói, Bệ thờ Phật Tep Praman; phía đối diện và ở phía bên kia trục đường trung tâm là nhóm di tích Preah Pithu; về phía Nam và ở 2 bên đường Chiến Thắng là di tích North Khleang và South Khleang nằm sau 12 tháp Sour Prat và Prasats(12con giáp). Đường Chiến Thắng dẫn ra cữa Khải Hoàng Môn).
Cữa Khải Hoàng: Rời trục trung tâm đi về phía Đông, ra cữa Khải Hoàng. Kiến trúc cũng như cữa Nam. Có 2 dãy thần ngồi ôm con Naga lớn hơn người thực cách nhau 2m. Đó là rắn nhiều đầu và là thần nước lấy đầu che cho đức phật lúc thiền định.
Đền Takeo: Ra khỏi cữa Khải Hoàng, qua bên bờ tả ngạn sông Siemrieap tiếp tục đi thăm các đền dài. Vẫn còn ở trong vòng thăm viếng nhỏ, đoàn đến đền Ta Keo ở phía Đông cổng Chiến Thắng, công trình dang dở của Jayavarman V. Đền có cấu trúc hình núi nhưng giản dị hơn. Đền có 2 tầng tường thành không cao lắm nhưng bệ vệ oai nghiêm. Năm ngôi tháp ở trên ngọn gom lại gần nhau thành 1 khối. Đền cao 21,6m. Tầng đáy chữ nhật 122X106m. Xung quanh có hào.
Đền TaProhn: Từ Takeo thẳng xuống Nam 1km thì đến cữa Tây đền Taprohn. Đền không có cấu trúc dạng núi. Một lối đi 500m đầy lá rụng thẳng tắp giữa rừng cây cao vút không tiếng động. Đền bằng đá. Thấp và có nhiều dãy phòng(citadel of chambers). Không đặc sắc. Như chùa cổ Việt Nam. Không nhiều bực. Không có tháp cao. Không gian rộng rãi. Dơi ôm chặt lấy đá nằm ngổn ngang. Nhà khảo cổ cố ý bảo tồn cảnh thiên nhiên để có cảm giác rùng rợn của các nhà thám hiểm khi trước. Cảnh hoang tàn. Rễ cây lớn mấy tấc, dài hàng chục mét uốn khúc ôm lấy bệ đền, nổi gân như muốn vặn cổ nó. Có cây lại ngồi xếp bằng trên một tòa khác tua tủa rễ xuống như vòi con bạch tuộc. Có cây đâm một rễ từ đỉnh thẳng xuống như lưỡi gươm. Một tấm bia trong đền nói ngày xưa có 18 vị hòa thượng, 2.740 thầy tư tế, 2232 người giúp việc, 615 vũ nữ. Vua Jayavarman VII xây đền để thờ tổ tiên. Sai đục 260 tượng. Dựng 39 ngọn tháp. 566 Khóm nhà bằng đá. 286 nhà bằng gạch. 3140 làng và 79365 hầu hạ cung cấp cho đền. Đền có 5 tấn đĩa chén bằng vàng, 512 gường, 524 cái lọng, ngọc trai 4 vạn viên, kim cương 35 hạt, ngọc thạch 4540 viên. Đền ở phía Đông, gần góc Đông Nam thành Angkor. Cấu trúc giống như đền Prak Kham thờ cha mẹ vua Jayavarman VII nằm sát góc ĐôngBắc thành Angkor Thom.
Đền Banteai Kdei. Ra khỏi đền Ta Prohn lại đến Banteai Kdei ở ĐôngNam TaProhn. Kiến trúc hệt như TaProhn, tức không dạng núi với nhiều bực và tháp cao mà là dạng phòng(Citadel of Chambers). Chỉ có các phòng và tượng lớn nhỏ điêu khắc tinh xảo. Trước mặt cữa Đông của đền là bệ đá rộng vài chục mét. Hai bên có tay vịn chạm hình sư tử và rắn thần. Bệ đá đưa xuống 1 cái hồ 300x700m. Bốn bề làng xóm đông đúc. Hồ tên là Strash Srang có nghĩa là chỗ tắm của vua.
Đền Prasat PreyRup: Trở lại loại kiến trúc đền núi như Ta Keo. Từ hồ Srash Srang tiếp tục đi về Đông thì đến PreyRup. Tương truyền có ông vua thích trồng 1 thứ dưa ngon. Vua lệnh giết những ai lảng vảng đến gần đó. Có 1 đêm vua thèm dưa đến đó thì bị giết. Đền lập tưởng niệm vua này. Kiến trúc bằng đá ong, sa thạch và gạch. Gồm 3 từng. Sát tường có 5 tháp(đáng lý 6 tháp nhưng tại sao 1 tháp nữa không được xây). Bước lên bậc trên có 2 thư viện ở 2 bên đường đi bộ. Bước lên cấp có 12 tượng sư tử ngồi. Từng trên cùng 5 tháp gom trên 1 bệ cao nên trông bề thế hùng vĩ. Xây toàn bằng gạch đỏ nung kỹ. Groslier nói chất nhựa xây lấy ở cây tựa như tháp Chàm. Ngọn có 2 vị thần 1 cao, 1 thấp. Trước tháp ở sân có cột đá tròn cao 1,5m tượng trưng Linga.
Đền Mebon Đông: Tiến lên phía Bắc, băng qua hồ Barai Đông(nay đã cạn), đến đền Mebon ở trong hồ. Đền tương tự như đền PreyRoup, tức có cấu trúc đền núi nhưng nhỏ hơn và hoang vu như TaProhn. 4 tháp ở 4 góc và tháp trung tâm. 4 góc sân đền có tượng voi lớn và rất đẹp.
Đền Tasom: Rẽ trái theo hướng Tây Bắc lên đến tả ngạn sông Siemreap, qua sông rồi đi thẳng lên phía Bắc tới Tasom, không phải dạng đền núi mà là đền giống TaProhn.
Hồ Neak Pean: Rẽ Trái đi thẳng hướng Tây, rồi lại rẽ Trái thì đến 5 cái hồ vuông. Cái lớn cạnh 80m ở giữa. Bốn cái nhỏ cạnh 40m ở chung quanh. Xây bằng đá nay đã cạn. Nổi lên giữa hồ lớn là cái tháp nhỏ chạm hình súc vật. Một cây nhỏ rủ lên ngọn tháp trông cảnh như 1 non bộ. Hồ dùng để hứng nước nhiều ôn tuyền ở xung quanh. Nước dùng để tắm cho người mắc bệnh nào đó. Delaporto thì nói là để nhà tu gội hết bụi trần. Lúc nào nước trong hồ lớn nhiều quá thì nước theo 1 ống đục trong bụng tượng voi có đuôi ở hồ lớn, đầu ở hồ nhỏ, chảy vào hồ nhỏ.
Đền KrolKo: Đền nhỏ, không phải loại đền núi, ở trước mặt hồ Neak Pean bên kia đường đi từ đền Tasom đến đây mà lúc nãy đoàn đã bỏ qua cuộc thăm viếng.
Đền BanteaiPrei: Ở trên đường đi cách Neak Pean 2km và nằm ở góc ĐôngBắc ngoài thành Angkor Thom. Đoàn cũng bỏ thăm viếng đền này( ngày nay tháp trung tâm của đền này được phục hồi chút ít. Di tích này không thu hút khách du lịch. Phần còn lại của di tích này như đống đá nằm ngổn ngang(as apile of unorganized rocks).
Đền Prak khan: Đoàn dừng lại thăm đền này nằm ở sát góc ĐôngBắc ngoài thành Angkor Thom. Không phải loại đền núi. Một lối vào thăm thẳm giữa 2 hàng cây sum suê và lè tè bên bờ nước. Mỗi chiều rộng 800m. Chừng 56 mẫu tây. Do vua Jayavarman VII xây để thờ cha mẹ. Đền này giống đền TaProhn ở gần góc ĐôngNam thờ tổ tiên của vua. Ngày xưa có 515 pho tượng. Một dưỡng đường. Một trạm nghỉ. Người phục vụ non 10 vạn. Vũ nữ chừng 1000. Từ cữa Đông đi vào 2 bên là dãy trụ đèn bằng đá. Cao hơn đầu người rồi tới 2 dãy thần đỡ con Naga hùng vĩ. Kiến trúc giống Taprohn. Nhưng lớn hơn và đẹp hơn. Đi giữa 2 hàng cột đá thì dừng lại ở hành lang Mặc Tưởng. Tường chạm tượng phật tĩnh tọa trên tòa sen. Qua hành lang Mặc Tưởng đến hành lang ca vũ chạm hàng trăm vũ nữ. Xưa hình đó được dát vàng ngọc. Tiếp đến là đền chính. Có tác giả nói đây là nơi ở của Jayavarman trong khi chờ đợi xây thành Angkor Thom. Đặc biệt có kiến trúc nhà 2 tầng có cột trụ tròn như kiến trúc La Mã cổ đại ở phía Tây đền chính. Ra khỏi cữa Tây, đoàn đi lại thẳng cữa Bắc thành Angkor Thom, chạy thẳng xuống Nam qua bệ voi và đền Bayon rồi ra cữa Nam, lướt qua chân núi Bakeng rồi đậu xe ở cữa Tây đền Angkor Wat.
3.2-Vòng thăm viếng lớn. Một vòng thăm các đền ở ngoài vòng du lịch nhỏ nói trên đây. Thứ tự theo thời gian vua trị vì.
Đền PreahKo ở quần thể Rolous, thủ đô đầu tiên. Xây bỡi vua Indravarman I. Gồm 6 tháp bằng gạch xếp thành 2 hàng. Tháp lớn ở giữa, hàng phía Đông thờ Jayavarman II, vua sáng lập ra đế quốc Chân Lạp. Tháp bên Phải thờ ông của vua, bên Trái thờ cha của vua. 3 tháp nhỏ hơn ở phía Tây thờ vợ của 3 vị trên.
Đền Bakong cũng còn ở quần thể Rolous, do Indravarman I xây. Loại đền núi. Tháp cao 900m, 3 tháp cao 700m. Tháp phụ cao 160m và cao 120m. 8 ngôi đền tháp gạch và các công trình nhỏ hơn.
Phnom Bakeng. Đồi này cách cữa Nam thành Angkor Thom 500m về phía Tây, cách cữa Tây đền Angkor Wat 1,5km. Trên đồi có đền loại đền núi. Đỉnh đền là 1 cái tháp thờ. Đền có 5 thang đá 10 bậc, 9 bậc, 8 bậc, 7 bậc và thang sau cùng 6 bậc dựng đứng. Bậc thì hẹp phải để ngang bàn chân mà leo, đi lui chứ không thể quay lưng lại để mà đi xuống được. Các tháp gom thành thế cao vút. Do vua Yaksovarman xây cất định dùng nơi này làm kinh đô Yasodharapura(tên cũ của Angkor). Sau này gọi nơi đây là quần thể Angkor.
Đền Kohker. Vua Jayavarman IV dời đô từ Angkor về phía ĐôngBắc núi Kulen xây đền hình kim tự tháp với các bậc thang dựng đứng. Đền này được khám phá vào năm 2003. Vì thiếu nguồn nước nên thủ đô được dời trở lại Angkor.
Angkor Wat: Đền có các loại cấu trúc. Kiểu 1: Bakheng, Takeo, PreyRoup, Mebon Đông là dạng đền núi. Gồm nền cao có 3 từng. Có bực thang đưa lên trên những từng cao có tháp. Tới ngọn chỉ có 1 tháp. Loại 2: Phimeanakas, Bapoun, Bayon. Nền cao nhưng không cất trên núi cũng có 3 từng và là dạng đền núi. Hai hay 3 dãy hành lang chạy suốt 4 mặt. Giữa 2 hành lang là sân hẹp. Tại góc hay giữa hành lang có tháp. Giữa đền có tháp lớn cao đẹp hơn cả. Loại 3: Ta Prhon, Bantei, Kdei, Tasom, Prak Khan. Có tường hay hào bao quanh. Nền thấp. Khoảng không gian rộng. Có 2 lối đi thăm thẳm từ 2 cữa Đông Tây. Một dãy phòng ở giữa. Nhiều dãy tả hữu. Loại 4: Angkor Wat tập hợp các loại trên, tức có khoảng không gian rộng và bệ nhiều từng hình núi. Các từng có tường và dãy phòng bao quanh làm dãy hành lang. Giữa các dãy hành lang có khoảng sân. Có cầu thang để vượt khoảng sân này đến sân kế trên. Từng trên có tháp.
Chỉ có Angkor Wat mới quay mặt về hướng Tây. Có dịp ngắm ráng chiều hay ánh hoàng hôn buông xuống đền và mới thấy cái vẻ đẹp huyền bí của nó. Đền được Jayavarman II xây vào thế kỷ thứ 12 theo Nguyễn Hiến Lê(NHL). Những tác giả khác thì nói do vua Suriavarman II(113-1150) xây. Lúc đầu thờ thần Vishnu sau thờ Phật. Được khám phá vào năm 1860 bỡi Henri Mouhot. Đền được xây trên khu rộng 1,5X1,5km. Hào rộng 190m, vuông cạnh dài 1,5km. Đường đến chính môn bằng đá tảng dài 230m, rộng10m, cao 5m so với mặt nước hồ ở 2 bên đường. Phần bệ thì có 3 bực. Bậc thứ nhất tượng trưng địa ngục và trần gian. Bậc thứ 2 là thế giới thần. Bậc thứ 3 thuộc đấng tối cao. Ở bậc 1 là hành lang 1 với sân 1. Tường của hành lang chạm khắc nhiều tranh cao 2,5m dài 800m mô tả điển tích Balamon, chiến công của Surivarman II. Nhiều kiểu áo, kiểu xe. Có nhiều tranh Apsara ngực trần. Có phòng đặc biệt 1X1m nhưng cao. Đứng giữa phòng đấm vào ngực thì có tiếng vang như tiếng chuông văng vẳng từ xa(NHL). Nhưng nói thì không có tiếng vang. Hành lang có mái che. Sân 1 có hồ chứa nước. Leo qua 20 bực cầu thang đến Bậc 2 có hành lang 2. Cũng có tường bao bọc với những gian điện thờ. Có hàng chục tượng phật bằng gỗ sơn xếp thành hàng, mặt trái soan nét thanh thảng(NHL). Từ sân 2 thấy sừng sững trước mặt là cầu thang bằng đá dốc ngược với 38 bực hẹp dẫn đến hành lang 3 và sân 3. Tháp chính cao 65m. Bốn tháp phụ cao 40m. Năm tháp tượng trưng đỉnh núi Meru. Mỗi tháp có hình đóa sen đang nở và có 7 vòng tượng trưng 7 rặng núi Meru. Dưới chân tháp chính có hồ cạn. Tháp có 4 mặt. Có 2 hành lang cắt nhau hình chữ nhập mà trung tâm là đền thờ của Angkor Wat. Xưa có tượng vàng Vishnu. Chung quanh tháp trung tâm là 4 hành lang vuông. Mỗi góc là 1 tháp.
Đền BengMeanlea. Ở TâyNam núi Kulen. Nơi chôn vua Suryavarman II, người xây đền Angkorwat. Đền rộng 108ha, 3 lớp bức tường, tháp trung tâm cao 42 bị đổ nát. Có 4 thư viện ở 4 góc đền. Các đền khác thường chỉ có 2 thư viện. Quan tài của vua đặt ở trung tâm.
Đền Gươm Thần. Tên đầy đủ là Preah Khan Kompong Svey, cách Angkor 100km về phía Đông, thuộc tỉnh Preah Vihear và ở phía Đông núi Kulen(không nên lầm Prak Khan nói trên kia ở Angkor thuộc tĩnh SieamRieap), do vua Suryavarman I xây dựng(có tác giả nói do vua Jayavarman VII). Rất ít tài liệu nói về đền này. Hình ảnh du khách thấy đầu tiên là ngôi đền Prasat Preah Stung với toà tháp chính điêu khắc khuôn mặt phật mang nụ cười đầy bí ẩn quen thuộc như mặt phật ở đền Bayon. Không xa với Prasat Preah Stung, cổng đền Preah Khan đã sừng sững trước mặt, cách quãng với rừng già là một cây cầu đá rêu phong. Trụ đá làm chân cầu được chạm trổ tượng ngỗng thần Hamsa to và đẹp- một linh thú làm vật cưỡi của thần Brahma. Bước qua cổng chính, hai toà kiến trúc đối lập nhau giữa trục đường chính là hai toà thư viện đồ sộ với chạm trổ còn rõ nét. Đường dẫn tiếp vào đền là chiếc cầu đá dài đã sụp đổ dẫn chứng cho thấy khu vực này xưa kia từng bị ngập nước.
Banteai Srey. Ở TâyBắc núi Kulen, xây cuối thế kỷ thứ X, triều Jayavarman V. Điêu khắc tinh tế đến nỗi hình 1 sử tử to bằng đồng bạc nhưng vẫn để lộ được nét sợ hãi khi thần lay chuyển trái đất.
Preah Vihear Ở trên biên giới Thái Lan-Campuchia, phía ĐôngBắc cách Angkor chừng 200km và thuộc lãnh thổ Thái Lan nhưng phán quyết tòa Quốc Tế cho Campuchia thắng kiện.
Banteai Chmar. Ở gần biên giới Thái-Campuchia, về phía TâyBắc cách Angkor 150km, thuộc tĩnh Banteay Meanchay, thờ con của Jayavarman VII tham gia trận thủy chiến với Chiêm Thành. Được khám phá năm 2004, chỉ có 1 lối đi vào rộng chừng 1m đầy mìn bẩy ở 2 bên. Đền hướng về phía Đông đối diện 1 hồ cạn(1,6X0,8Km). Có 3 vòng thành(enclosures). Vòng ngoài 1,9X1,7Km có hào bao quanh. Vòng giữa 850X800m và cũng có hào bao quanh. Nó chứa đựng(contains) đền chính. Đền chính bao quanh bỡi hành lang 250X200m tạo nên vòng thứ 3 ở trong cùng. Ngôi đền tháp cao ở giữa vẫn còn tồn tại mang dáng dấp uy nghi của nó. Tháp có mặt phật phong cách(style) mặt phật ở Bayon. Tường thành vòng thứ 3 có các hình chạm trổ trong đó có bức miêu tả trận thủy chiến với Champa. Có 8 đền phụ ở chung quanh đền chính.
Ngoài ra trên đất Thái Lan có các đền ở trong các tĩnh: Lopburi, Suphanburi, Ratharaburi, Phetchaburi và Muang Sing…ở phía Tây, TâyBắc và TâyNam Bangkok. Sự phân bố các đền của đế quốc Chân Lạp cho thấy SieamRieap ở gần núi Kulen là đất trung tâm. Phía trên rặng DângRêk là Lục Chân Lạp, phía dưới gần Biển Hồ là Thủy Chân Lạp. Không có đền nào ở đất Nam Bộ của VN ngày nay, nơi này ngày xưa TQ gọi là nước Phù Nam. Sau này là vùng đệm của 2 đế quốc Champa và Chân Lạp tranh hùng(cuộc chiến tranh thắng bại được tạc trên bức tường ở đền Bayon và đền Banteai Chmar). Người Chân Lạp không mặn góc ĐôngNam ngập nước PhùNam. Ngày nay con cháu người Khmer có đòi đất của tổ tiên đã đánh mất thì nên đòi phần đất còn vết tích đền đài ở Thái Lan trước cái đã rồi mới đòi đất Sài Gòn Phú Quốc vắng bóng những hình ảnh vang bóng 1 thời văn minh của đế quốc Angkor. Đất này chỉ lưu dấu văn minh Óc Eo của chủng tộc Phù Nam mà thôi.
Tháng 5 năm 2009
HuynhBaCung.











































0 nhận xét:
Đăng nhận xét