![]() |
| Đây là khu vực đất trồng trọt(cultures) ở mức cao độ thấp(vùng màu trắng). Rải rác có các trái núi khác với núi trong vùng cắm móc(vùng màu nâu) ở mức cao độ lớn hơn. |
![]() |
| Các trái núi ở phía trên thác. Xa xa là dãy núi ở trong vùng cắm móc |
![]() |
| Vùng màu nâu là vùng cắm móc. Vùng màu trắng là đất trồng trọt nằm ngoài vùng cắm móc. |
![]() |
| Cột 53 ở trong vùng cắm móc theo công ước Pháp-Thanh. Cột 835 ngày nay nằm sát bờ sông, ngoài vùng cắm móc theo công ước Pháp-Thanh. |
![]() |
| Xa xa, chạy dọc theo chân dãy núi đá(cột 54) và rừng(cột 53) là vùng cắm mốc theo công ước Pháp-Thanh. |
![]() |
| Từ cột 53 đường biên tiếp tục chạy 1 đoạn mới tới sông(pour atteindre la rivière qu’elle suivra jusqu’à Ly Ban). Trên bờ sông chỗ vòng tròn đỏ là cột 52. |
![]() |
| Đoàn tuần tra liên quân Pháp-Việt trên đường về từ Doc Khanh, qua ruộng lúa đẹp(à travers de très belles rizières ), qua khỏi cột 53, tới chân thác lội qua sông đi về đồn ở bên Hữu Ngạn. |
![]() | |
| Toàn bộ vùng dưới chân thác là đất trồng trọt nằm ngoài vùng cắm móc theo công ước Pháp-Thanh. |
![]() |
| Vị trí mới cột móc 53 ở trên thế đất có những mô đá trồi lên khỏi mặt đất như mô đá trồi lên ở trong lòng sông thuộc khu đất trồng trọt(cultures) |
THÁC BẢN GIỐC-PHÁP LÝ.
TRA LỜI TS
TRẦN CÔNG TRỤC.
(Không cần
nhật ký của Detrie và
“Au Tonkin et sur la frontière du
Kwang Si, ” của Famin ta vẫn kết luận được toàn bộ thác Bản Giốc thuộc đất của Tonkin theo công ước,
thưa Tiến Sĩ Trần Công Trục)
Xôn xao bàn tán việc VN mất ải Nam Quan và Thác Bản Giốc nổi lên vào năm 2000. Đến nay, Thứ Ba 3/9/2013 Tiến Sĩ Trần Công Trục lên tiếng về vấn để pháp lý trong đàm phán vạch định biên giới ở khu vực thác Bản Giốc. Báo GDVN bảo trích đẫn, sao chép bài viết “Sự Thật về Thác Bản Giốc và Nhận Thức Sai Lầm về Chủ Quyền Lịch Sử” phải xin phép nên đoạn viết sau đây chỉ lấy ý chính để trình bày những điểm con dân còn thắc mắc còn mục đích bài viết trên báo là muốn làm người dân hết thắc mắc. Thật lạ ở môi trường diễn đàn tranh luận. Muốn dư luận tham gia góp ý để làm sáng tỏ 1 vấn đề mà báo này gây khó khăn bảo trích dẫn, sao chép phải xin phép! Trong thế giới tranh luận ngày nay người ta thường khuyến khích các tác giả cài chế độ Pulic nhằm cùng nhau chia xẻ để cùng nhau tiến bộ.
1-Quan điểm của
TS. Tiến sĩ nói dựa
vào chứng cứ lịch sử, quan điểm lịch sử, chủ quyền lịch sử, danh nghĩa lịch sử hết sức mù mờ để giải quyết tranh chấp
lãnh thổ giữa các quốc gia. Điều này không những không có cách nào góp phần giải
quyết tranh chấp lãnh thổ mà còn gây rối loạn xã hội, kích thích chủ nghĩa dân
tộc cực đoan hẹp hòi. Ví dụ như Sam Rainsy đòi đảo Phú Quốc.
Nhưng người dân như chúng tôi nghĩ trường họp Sam Rainsy đòi
chủ quyền của cái đã gián đoạn chủ quyền từ lâu. Đòi như thế thì không nên. Ý
tưởng đó chẳng có gì mới thưa TS. Bỡi thế nên ngày nay các nước mới ngồi lại để
làm ra Luật Quốc Tế và Tòa Án Quốc Tế để khỏi có cái cảnh ngày xưa Thành Cát Tư
Hãn đi xâm chiếm 1 vùng rộng lớn để bây giờ hậu duệ của họ lấy chứng cứ đó mà đòi
lại đất xưa và người Mễ Tây Cơ có cớ để đòi lại vịnh Mexico. Tại sao lại sợ. Thế
giới ngày nay vẫn còn trật tự kia mà. Đòi như thế thì cộng đồng Quốc Tế đâu có
cho phép. Thế giới sống trong trật tự mới nhưng không phủ nhận sự kiện lịch sử,
nguồn gốc nòi giống của các quốc gia. Luật Quốc Tế cấm chuyện “truy thu hồi
lãnh thổ” đã bị gián đoạn về mặt thời gian.
Nhưng còn trường họp chứng cứ lịch sử, quan điểm lịch sử, chủ quyền lịch
sử mang tính chất liên tục tới ngày nay thì sao thưa TS? Vì tính chất lịch sử
liên tục, kể cả không cần lời nói hay văn bản, Tòa Án Quốc Tế(QT) vẫn xử dân tộc
Campuchia thắng dân tộc Thái Lan giành lại đền Preah vihear. Đó là nguyên tắc
estoppel. Từ xa xưa tới bây giờ người Thái để cho người Camphuchia HIỂU đền
Preah Vihear thuộc Campuchia thì tòa QT xử người Campuchia thắng kiện. Thế giới
ngày nay sống 1 cách nhân bản là ở chỗ đó. Dù có ai không nghĩ ải Nam Quan và
thác 3 tầng không thuộc người VN đi chăng nữa nhưng TQ vẫn còn để số người VN
còn lại và toàn bộ dân Miền Nam VN hiểu những nơi đó rõ ràng thuộc người VN,
tài sản của ông cha để lại 1 cách liên tục trong lịch sử VN. Chỉ có người không
học sử VN thì không biết mà thôi. Trước đây TQ có công khai công bố ra thế giới
để mọi người biết là những thứ đó thuộc TQ đâu. Tại sao phủ nhận những tài liệu
chứng minh liên tục chủ quyền? Thương thuyết có thể bế tắt thì để đó(vùng đang
còn tranh chấp) để đời cho con cháu lo. Cớ sao mà vội chấp nhận?
2-Nguyên tắc
đàm phán: Hai bên đồng
ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và TQ ngày 26-6-1887 và
Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch
định cắm mốc kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận và
quy định.
3-Hệ luận
nguyên tắc đó. Nhà phản
biện Mai Thái Lĩnh(MTL) nói gò ép máy móc như vậy là mắc mưu TQ rồi. MTL nói thời đó
kỷ thuật còn kém nên vị trí khó xác định chính xác nếu không có sự trợ giúp các
tài liệu khác. Cớ sao lại loại các tài liệu không mâu thuẫn với các văn kiện
nêu trên? Nó còn làm rõ ra những điều mà các văn kiện đó chưa làm rõ. Sợ nếu cứ
dựa vào lịch sử, sách giáo khoa, bản đồ để khẳng định chủ quyền đối với các khu
vực tranh chấp thì không bao giờ, không ở đâu có thể giải quyết được vì không
có một cơ sở nguyên tắc chung. Đối với việc đại sự của quốc gia dân tộc(như kỷ
vật của tổ tiên) khi đàm phán có bế tắt thì cứ khoanh lại để đời, sợ gì! Nhật Bản
họ làm như thế. Tiến Sĩ có đề cập đến bế tắt lúc đàm phán khu vực cồn Pò Thoong
than phiền là công ước không mô tả khu vực sông Quây Sơn rẽ thành 2 nhánh ôm lấy
một cồn gọi là cồn Pò Thoong. Tức
TS công nhận công ước có chỗ còn thiếu sót. Tại sao TS lại từ chối tài liệu phụ giúp
để làm rõ ra. Tài liệu không gây mâu thuẫn mà còn làm rõ thêm những điều ghi
trong công ước và văn kiện đi theo chưa làm rõ. Trên kia TS nói dựa chứng cứ lịch sử, quan điểm lịch sử, chủ quyền lịch sử, danh nghĩa lịch sử hết sức mù mờ thì sẽ gây rối loạn tranh chấp chứ những thứ ấy rõ ràng ra thì sẽ giúp các lân bang đồng thuận tôn trọng lẫn nhau để chung sống hòa bình bền lâu kia mà.
Chỗ này vô tình TS để “hớ”. Công ước không mô tả khu vực sông
Quây Sơn rẽ thành 2 nhánh ôm lấy một cồn gọi là cồn Pò Thoong là 1 bằng chứng
khu vực này nằm ngoài vùng cắm móc(l’abornement). Công ước chỉ để cập các nơi được cắm
móc thuộc phân đoạn cắm móc thứ 2 từ Bình Nhi tới Vân Nam(2e Section: De Bi-Nhi sur le Song-Ki-Kung à
la frontière du Yun-Nam). Các nơi đó có các cọc sau đây: 56, 55, 54(Lũng Tằng Sơn, Entre le pied des rochers et
la limite des cultures en face Ban Mong: LTS, giữa chân núi đá và giới hạn đất trồng trọt
trước mặt Ban Mông), 53(Bách Nga
Khẩu, Au bord du chemin au SO et sur le prolongement d’un petit bois: BNK, ở vệ đường
phía TâyNam (hướng Bình Nhi-Vân Nam nên TâyNam là ở bên tay Trái) và ở trên đoạn nối dài của 1 khu rừng
nhỏ), 52(Khâu Canh Ải, Sur la berge et à 5 pas en avant du poste: KCA, trên bờ sông
và ở 5 bước trước khi đến tạm canh), 51(Canh Bàng
Ải, sur la berge du Sung Quei Cheun(rive gauche) à 130 pas en aval d’une cascade:
CBA, trên bờ sông Quây Sơn(bờ sông Trái) ở 130 bước phía hạ lưu của 1 cái thác),
50(Hạ Cốt Ải, près de l’escalier descendant du
marche’ de Lung Quang au bac: HCA, gần tam cấp đi xuống từ chợ Lung Quang tới
phà). Qua Phà, đường biên ngoặc sang bên Trái đi về phía Sy Ban(Ly Ban).
Sông thì chạy thẳng hoàn toàn vào đất TQ để rồi họp lưu với sông Bằng Giang từ
Cao Bằng chảy tới. Các cột đều ở bên Tả Ngạn. Chỉ cột 51 mới ở bên kia nên mới có ghi chú:
ở bên Trái bờ sông. Ba cột 52,51 và 50 tương ứng với đoạn sông hẹp lấy
làm biên giới. Chính vị trí tương đối 3 cột 52-51-50 là pháp lý lấy trung tuyến
đoạn sông này làm biên giới. Không thấy lấy phần sông rộng ở dưới chân thác làm ranh giới
nên cồn Po Thoong nằm ngoài vùng cắm móc! Tài liệu của công ước mô tả đường
biên chạy ở chân núi đá, sát mép đất trồng trọt rồi tới rừng, rồi mới đến bờ sông.
Chẳng đề cập cái cồn nào cả. Đường biên
đang ở mép đất trồng trọt giáp với chân núi đá, ở trong(sur) rừng thì không thể cột 53 cắm trong đất trồng trọt ở giữa chợ
trời biên giới(CTBG) như ngày nay. Cột 53 ở trên con đường thì chỗ đường đó phải
nằm sát chân núi đá hay sát mép rừng. Dù có loại bỏ tài liệu của Detrie và Famin
công chúng vẫn tin tuyến đường biên chạy như thế, không chạy qua khoảng đất trồng
trọt(des cultures) dùng làm CTBG như
ngày nay được. Theo công ước thì vùng cắm mốc tiếp ranh với đất trồng trọt(des cultures). Không cọc mốc nào ở đây ở
trong đất trồng trọt. Cồn Pò Thoong, toàn bộ thác ở trong đất trồng trọt và nằm ngoài vùng cắm
móc.
Nguyên tắc mà TS đề cập loại ra cả tài liệu cá nhân của người
trong đoàn đàm phán Pháp-Thanh ví dụ ông Detrie và Famin. Họ là nhân chứng sống
thời đó đấy. Chính họ tham gia việc cắm móc. Tại sao không tin điều họ viết. Họ
là người thông thái. Tác phẩm của họ có giá trị. Họ là người ngoại quốc khách
quan hơn người VN khi đàm phán với người TQ đấy. Sao không tin tính chất khách
quan của họ. Biên bản cắm mốc đính kèm công ước chỉ ghi vỏn vẹn: Cột mốc 53
ở “Ban Ngô, ở vệ đường phía TâyNam và ở
đoạn nối dài của khu rừng nhỏ”(au bord du chemin au SO et sur le prolongement
d’un petit bois). Qúa vắn tắt đến khó hiểu nếu không có nhật ký của Detrie
mô tả những nơi đường biên giới đi qua và những điều Famin viết trong “Au
Tonkin et sur la frontière du Kwang Si.” Nguyên tắc đàm phán loại bỏ chúng vì
là của cá nhân không có giá trị pháp lý. Bất thành văn cũng là luật kia mà. Có
phải cái gì luật hóa mới là chân lý? Tòa Quốc Tế dùng nguyên tắc estoppel là dùng
lẽ tự nhiên của luật pháp đó. Và tại sao loại bỏ bản đồ đời sau. Bản đồ không
mâu thuẫn với công ước thì dùng được. Bản đồ đời sau không phải trên trời rớt
xuống mà là thứ kế thừa, sự liên tục lịch sử. Bản đồ sau là 1 phiên bản chỉnh sửa
của bản đồ có trước. Ngày nay số lớn địa danh có nguồn gốc các địa danh trước
đó. Vận dụng 1 khách quan và 1 cách thông thái(philosophy) thì người ta biết
đâu là sự thật. Tiếng Pháp là thứ ngôn ngữ chính xác nên được dùng để viết các
công ước, hiệp định. Tuy biên bản ghi trên đây viết vắn tắt nhưng ngôn ngữ tiếng
Pháp vẫn đủ chứng minh rõ ràng vị trí các cột móc nằm ở đâu. Các từ ngữ:Chân
núi đá (le pied des rochers); Đất trồng
trọt(des cultures); Ở vệ đường phía TâyNam(Au bord du chemin au SO; Đoạn nối dài của
khu rừng(le prolongement d’un petit bois);
Trên bờ sông(Sur la berge). Xếp đặt
các từ đó trên chuỗi liên tục qua các cột móc thì ta cũng hình dung được khu vực
cắm móc và vị trí các cột móc đó ở chỗ nào cần gì phải nhờ mô tả của Detrie và
Famin mà TS loại bỏ nó, chê nó là tài liệu cá nhân không có giá trị pháp lý. Lấy
vào thì chỉ để thêm rõ ra mà thôi. Hai ông này mô tả ngược chiều với biên bản cắm
mốc làm sáng tỏ thêm vấn đề. Không có cái kiểu văn cảnh đang mô tả vùng cắm móc đang
ở núi rừng tự nhiên chạy thọt vào cồn PòThoong ở trong đất canh tác(des cultures) có dân cư của khu chợ trời
biên giới!
4-Điều chưa
được TS giải tỏa thắc mắc mà bài viết mong
muốn dân chúng hiểu(để hết thắc mắc). Đến đây buộc phải mạnh dạn ghi ra lời trích mặc dầu
báo GDVN cấm trích. Phải xin phép mới
được trích. Đây là phần quan trọng nên không trích thì không khách quan:
Mô tả đường biên giới đi qua thác TS nói “Căn cứ vào Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895
và các bản đồ, văn kiện kèm theo thì đường biên giới qua khu vực thác Bản Giốc
được mô tả là đi
giữa dòng sông Quây Sơn đến đỉnh thác chính và thác Bản Gốc là một bộ
phận của sông Quây Sơn. Từ đỉnh dòng thác chính thác Bản Giốc đường biên giới kéo thẳng
đến mốc 53 nằm bên sườn quả núi bên trái con đường đi. Các tài liệu
pháp lý để lại đã mô tả như vậy”.
Đoạn quan trọng như vậy mà TS không trích nguyên văn công ước
để công chúng khỏi thắc mắc.
TS lại nói: “Trong khi
đó Công ước Pháp - Thanh mô tả đường biên giới qua thác Bản Giốc bằng tiếng Pháp và
tiếng TQ thì không được dịch và phổ biến ra cộng đồng, nên sự
nghi ngờ, mơ hồ của dư luận về khu vực này là có thể hiểu được.” Biết mấu
chốt là ở chỗ đó mà sao TS không giải tỏa nỗi băng khoăng của quần chúng để
công chúng cứ theo Detrie mô tả đường biên đi hết cột móc này đến cột móc khác
khác với những gì TS nói ở trên và logic hơn nên dân chúng mới tin theo họ.
Chỗ lấy trung tuyến làm biên giới thì người ta tin vào tài liệu
này. Famin thì nói “Hai cây số trước khi rời khỏi đất Tonkin, sông này chảy xuống một bậc
đá và tạo thành một cái thác tuyệt đẹp cao khoảng 40 thước (Deux kilometers avant de quitter le sole du Tonkin elle
franchit un seuile rocheux et forme une chute magnifique de quarante metres de
hauteur)”. Detrie viết “Bắt
đầu từ thác đẹp 50m(tức là cao 50m) nằm
ở phía dưới hạ lưu cột mốc 53 một tí, sông Qui Xuân chảy hẹp lại giữa những đồi cao”(A partir
de la belle cascade de 50m qui se trouve un peu en aval de la borne 53, le sông
Qui-Xuân coule
resserré entre des mamelons élevés). Ở khu vực thác Bản Giốc cấu
tạo địa chất cho thấy thác do 2 vùng đất nằm liền kề nhau. Phía thượng lưu là
vùng núi đá(rocheurs) Phía hạ lưu là vùng đồi(mamelons). Dòng sông hẹp lại ở đoạn có đồi này. Lúc đó trung tuyến của
sông mới dùng làm biên giới. Bản đồ có vòng cao độ thể hiện rõ địa thế như vậy.
Công chúng tin như thế là logic.
TS công bố nguyên văn đoạn công ước mô tả đường biên theo trung tuyến đoạn sông rộng ở chân thác lên đỉnh thác, nơi phân biệt thác chính và thác Bản Giốc, rồi tới cọc 53 thì người
ta hết tin Detrie và Famin, chuyện cá nhân của họ đáng bỏ vào sọt rác. Điều làm
công chúng ngờ vực thêm là từ xưa tới nay không ai nghe thác Bản Giốc phân biệt
thành thác chính và thác Bản Giốc cả.
Dù có loại Detrie và Famin công chúng vẫn chứng minh thác nằm ngoài vùng cắm móc theo công ước vì công ước không dùng đoạn sông rộng ở chân thác làm biên giới. Trên đây đã nói chính vị trí tương đối 3 cột 52-51-50 là pháp lý lấy trung tuyến đoạn sông ở đó làm biên giới. Đường biên giới(ĐBG) ở cột 50 đang ở bên Phải(hướng Bình Nhi-Vân Nam) "nhảy" sang bên Trái tới cột 51 rồi "nhảy" sang Phải tới cột 52. ĐBG chạy thẳng tới đoạn nối dài của khu rừng nhỏ đến cột 53 ở bên Phải của sông. Cột 53 đâu có cắm bên bờ Trái của sông mà lấy đoạn sông ở chân thác làm biên giới, thưa TS? Cột 53 ngày nay cắm tại nơi có các mô đá trồi lên khỏi mặt đất(xem hình) giống các mô đá trồi lên trong dòng sông xưa kia mà dân chúng dùng làm "chân cầu" hình chữ Z(xem hình đính kèm trên đây). Đó là tính chất đất trồng trọt(cultures) ở phía trên thác. Cột 53 ngày nay nằm trong đất trồng trọt, ngoài vùng cắm móc theo công ước. Toàn bộ thác nằm trong thung lũng trên nền đá vôi thuộc đất trồng trọt(cultures). Nước luồng chảy trong các hốc đá rồi tuôn ra ở 3 bậc thềm cao thấp khác nhau tóe nước tung ra thành thác tuyệt đẹp mà toàn cõi Đông Nam Á này không nơi nào có. Mất nó TS có tiếc hay không? Cột 53 ngày nay cũng ở chân núi nhưng núi này lại ở trong đất trồng trọt chứ không phải núi hay rừng trên vùng cao độ lớn hơn nền đất này và ở trong khu vực cắm móc. Cũng ở trên vệ đường nhưng đường đã rẽ vào đất trồng trọt đi Doc khanh chứ không phải con đường còn chạy trong rừng ở vòng cao độ lớn hơn trong vùng cắm móc. ĐBG từ cột 53 chạy 1 đoạn nữa mới tới sông. Cột 53 ngày nay ở sát mép sông. TS nghĩ sao những điều này mâu thuẫn với công ước?
Dù có loại Detrie và Famin công chúng vẫn chứng minh thác nằm ngoài vùng cắm móc theo công ước vì công ước không dùng đoạn sông rộng ở chân thác làm biên giới. Trên đây đã nói chính vị trí tương đối 3 cột 52-51-50 là pháp lý lấy trung tuyến đoạn sông ở đó làm biên giới. Đường biên giới(ĐBG) ở cột 50 đang ở bên Phải(hướng Bình Nhi-Vân Nam) "nhảy" sang bên Trái tới cột 51 rồi "nhảy" sang Phải tới cột 52. ĐBG chạy thẳng tới đoạn nối dài của khu rừng nhỏ đến cột 53 ở bên Phải của sông. Cột 53 đâu có cắm bên bờ Trái của sông mà lấy đoạn sông ở chân thác làm biên giới, thưa TS? Cột 53 ngày nay cắm tại nơi có các mô đá trồi lên khỏi mặt đất(xem hình) giống các mô đá trồi lên trong dòng sông xưa kia mà dân chúng dùng làm "chân cầu" hình chữ Z(xem hình đính kèm trên đây). Đó là tính chất đất trồng trọt(cultures) ở phía trên thác. Cột 53 ngày nay nằm trong đất trồng trọt, ngoài vùng cắm móc theo công ước. Toàn bộ thác nằm trong thung lũng trên nền đá vôi thuộc đất trồng trọt(cultures). Nước luồng chảy trong các hốc đá rồi tuôn ra ở 3 bậc thềm cao thấp khác nhau tóe nước tung ra thành thác tuyệt đẹp mà toàn cõi Đông Nam Á này không nơi nào có. Mất nó TS có tiếc hay không? Cột 53 ngày nay cũng ở chân núi nhưng núi này lại ở trong đất trồng trọt chứ không phải núi hay rừng trên vùng cao độ lớn hơn nền đất này và ở trong khu vực cắm móc. Cũng ở trên vệ đường nhưng đường đã rẽ vào đất trồng trọt đi Doc khanh chứ không phải con đường còn chạy trong rừng ở vòng cao độ lớn hơn trong vùng cắm móc. ĐBG từ cột 53 chạy 1 đoạn nữa mới tới sông. Cột 53 ngày nay ở sát mép sông. TS nghĩ sao những điều này mâu thuẫn với công ước?
5-Kẻ quấy rối và chủ nhà. Không nên lẫn lộn tư cách người lạ xâm nhập vào nhà với ý đồ xấu với
tư cách
chủ nhà lương thiện. Xâm nhập vào nhà với ý xâm hại không đạo tặc thì cũng là
người quấy rối. Hành động của chủ nhà chống lại kẻ xấu thực hiện nghĩa vụ giữ
nhà sao gọi là kẻ quấy rối? Đánh tráo khái niệm giá trị kẻ trộm-chủ nhà là áp đặt
trái với tự nhiên, khuyến khích người xấu, hiếp đáp kẻ lương thiện.
Không nên lẫn lộn hành động Sam Rainsy tiểu xảo dùng sự hận thù
xưa cũ gây rối lân bang để tranh thủ sự ủng hộ của dân mình với hành động của các
nhà phản biện,
dùng kiến thức, tư tưởng, học thuật lên tiếng…để tranh thủ sự đồng thuận của Quốc
Tế, góp công cùng với chiến sĩ để bảo vệ biên cương, tài sản của cha ông để lại
khi chúng bị xâm hại. Tiến Sĩ và những người
làm báo GDVN hơn ai hết hiểu rõ lịch sử Xứ Đàng Trong và công cuộc bình định đất
còn lại của Chiêm Thành và đất Nam Bộ của chúa và vua Nguyễn. Sự gián đoạn chủ
quyền của người bản địa ở đây không phải vì tự dưng chúa Nguyễn kéo binh hùng
tướng mạnh kiểu như Lộ Bát Đức, Tô Định, Mã Viện, Lưu Phương, Hầu Nhân Bảo,
Thành Cát Tư Hãn, Mộc Thạnh -Trương Phụ đi xâm lăng đất của người ta. Trường họp
Chiêm Thành: Sau khi vua yếu kém của họ dâng 3 châu Bố Chính Địa Lý Ma Linh và
2 châu Ô Lý người bản địa luôn luôn có hành động đòi lại. Để tự vệ, tiền nhân của
ta phải chống trả. Kết cục mất còn là do vận nước của 2 dân tộc mà thôi. Trường
họp đất Nam Bộ nguyên thủy là đất Phù Nam. Người Chân Lạp mạnh lên thôn tính rồi
lập đế đô ở Angkor. Họ chẳng mặn mà vùng ngập nước Phù Nam. Sự chẳng mặn mà kéo
dài nhiều thế hệ. Đến đời các vua
Norodom, đế quốc Chân Lạp suy tàn. Các vua Nặc…,Nặc…, Nặc…tranh ngôi gây chia rẽ
nội bộ khi thì cầu viện Xiêm La, khi cầu viện chúa Nguyễn. Nội chiến triền miên góp vào sự suy tàn của đế quốc. Con cháu của họ có trường họp bỏ vùng sâu vùng
xa không được vua của họ bảo vệ như trường họp dân vùng cảng Soirap bỏ cữa sông
Vàm Cỏ Đông lên thượng lưu vùng Quang Hóa lập súc mới vẫn giữ tên cũ Soirap(Gia
Định Thành Thông Chí). Người Chân Lạp Miệt Trên chẳng mặn mà đất Sài Côn của nhị
vương Nặc Nôn ở Miệt Dưới. Nặc Nôn không những dung nạp di dân người Việt mà cả
di dân người Tàu của Trần Thượng Xuyên lập nghiệp ở Nông Nại(Biên Hòa) và di dân
của Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho. Các vua ở Miệt Trên lo việc tranh ngôi bỏ mặc dân
lành ở Miệt Dưới ví dụ bỏ dân 2 phủ Trà Vang và Ba Thắc. Trước biến cố Tây Sơn
1773 các vua Nặc…, Nặc…của người Chân Lạp lo tranh ngôi tuần tự dâng các phủ ở
vùng Nam Bộ VN ngày nay để nhờ chúa Nguyễn giúp trấn áp các vua đối nghịch cầu
viện quân Xiêm trong việc tranh ngôi của họ. Đến khi biến cố Tây Sơn nổ ra đáng
lẽ ra vua của họ lợi dụng bên ta có nội chiến lấy lại đất cũ. Triều chúa Nguyễn
may mắn sót lại 1 hoàng thân, ông Nguyễn Ánh. Triều Tây sơn sót lại một bề tôi
trung thành là tướng Phạm Văn Tham ở đất Trà Vang Ba Thắc nương nhờ người thổ ở
đây trong lúc Nguyễn Lữ bỏ chạy về Qui Nhơn. Nguyễn Ánh trở thành Nguyễn Vương
Ánh ở đất Gia Định bận tranh nhau với TS giành giật 2 cái thành Diên Khánh và
Qui Nhơn bất phân thắng bại trong 10 năm.
Người Miệt Trên của Chân Lạp ở Phnompenh bỏ dân Trà Vang và Ba Thắc chiến đấu lẻ
loi cùng với tướng TS Phạm Văn Tham chống lại Nguyễn Vương Ánh. Năm 1789 gần
như Nguyễn Vương Ánh(NVÁ) làm chủ được tình hình thì Phạm Văn Tham mới thất thế
đầu hàng. Lãnh đạo phủ Trà Vang và Ba Thắc là Ốc Nha Ốc trốn đến Cần Thơ thì bị
giết. Trong chiến Tranh Nguyễn Vương Ánh-Tây Sơn có đội quân gọi là quân Xiêm.
NVÁ gom dân Khmer Miệt Dưới làm lính đánh thuê chống lại TS mà người Khmer Miệt
Trên không ngó ngàng tới, chẳng có hành động gì để bên vực đồng bào của mình. Hỏi
Sam Rainsy
bây giờ có thể cất cao giọng đòi giải phóng đồng bào của mình ở Miệt Dưới và
đòi đảo Phú Quốc được hay là không? Không gọi là gây rối thì còn gọi là cái gì?
Người phản biện việc TQ xâm hại đường biên của ta không phải là loại người như
thế. Tại sao sợ những con người mồm mép hung dữ như Sam Rainsy trong thế giới ngày nay?
Trung Thu
2013
HuynhBa
Cung















0 nhận xét:
Đăng nhận xét