Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Truyên Thúy Kiều 39-568

Xem tiếp


Ngày xuân con én đưa thoi(1),
40.. Thiều quang chín chục(2) đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa(3).
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh(4).
45.. Gần xa nô nức yến anh(5),
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nen(6).
Ngổn ngang gò đống kéo lên(7),
50.. Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay(8).
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
1-cái thoi dệt cửi hình con chim én. Thoi đưa nhanh như bay. 2-Được 2 tháng của mùa Xuân rồi. 3-Cảnh tháng 3. 4-Gi ẩm lên cỏ xanh. 5-Đi từng đàn như chim yến, chim anh. 6-“nêm” thì không đúng vần. “nen” là nén chặt. Có người gọi là “nen” là thữ cây dây quấn quit vào nhau. 7-Có bản viết là “gò đống cầu liên” là nhiều gò đống liền như cầu.8-Vàng vó là vàng hồ(vàng âm phủ).
-57-
55.. Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh,
60.. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.
65.. Phận hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương(1).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70.. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ(2).
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy(3) là mình với ta.
75.. Đã không(4) duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước(5) gọi là duyên sau.
1-Tình Sử có câu “Thiên hương nhất chi” là một cành thơm của trời, nghĩa là người đàn bà đẹp. 2-Bản cũ viết “tram gãy.” Đúng phải là hoa gãy do câu: “Nhất phiến tình chu dĩ đáo ngạn,bình trầm hoa chiết dĩ đa thời”nghĩa là thuyền tình mới tới bờ thì bình đã chìm, cành hoa đã gãy tự bao giờ.3-Bản mới dùng chữ “mấy”hay “mới” đều không đúng bản cũ dung chữ “bấy” là tiếng cổ nghe mạnh mẽ hơn. 4-Có bản viết là “đã đành.”5-Có bản viết “thì xin chút ước.”Có bản viết “chút đỉnh” nghe thiển cận, bản cũ viết “chút ước”có ý hẹn hò dành kiếp sau.
-58-
Sắm xanh nếp tử xe châu(1),
Vùi nông(2) một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn ác tà(3),
80.. Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!
Lòng đâu sẵn món(4) thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(5).
Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85.. Phũ phàng chi bấy hoá công(6),
Ngày xanh(7) mòn mỏi má hồng phôi pha.
Sống làm vợ khắp người ta,
Hại thay(8) thác xuống làm ma không chồng.
Nào người phượng chạ loan chung,
90.. Nào người tích lục tham hồng là ai(9) ?
1-Nếp tử là áo quan, xe châu là linh xa. 2-Có bản viết là “bụi hồng.”Vùi nông không có ý là chon cạn mà là chon xong thì bỏ đó. 3-Ngọc thỏ là mặt trăng. Ác là kim ô nghĩa là mặt trời. 4- Có bản viết: “lòng đâu sẵn mối.”5-Châu sa là giọt nước mắt. Sách chép đời xưa có người ơ dưới biển Nam Hải lên buôn bán. Cuối năm phải về thủy phủ để chầu trời. Từ giã khóc lóc chia tay người than. Nước mắt chảy tới đâu thì biến thành hạt châu tới đó. 6-Hóa công là thợ tạo hóa, tức ông trời. 7-do chữ thanh xuân nói về tuổi trẻ. 8- Có bản viết: “khéo thay.”9-Phượng chạ loan chung là vợ chồng sum họp. Tích lục tham hồng là tiếc màu lục thêm màu đỏ mà không được.
-59-
Đã không kẻ đoái người hoài,
Sẵn đây ta kiếm(1) một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng(2) biết cho.
95.. Lầm dầm khấn khứa(3) nhỏ to,
Sụp ngồi, đặt cỏ(4), trước mồ bước ra.
Một vùng cỏ áy(5) bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một và bông lau(6).
Rút trâm(7) sẵn giắt mái đầu,
100.. Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần(8).
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra(9).
Lại càng ủ dột nét hoa(10),
Sầu tuôn đứt nối, châu sa(11) vắn dài.
105.. Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.

Rằng: Hồng nhan tự nghìn xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?
1-Kiếm là dâng lễ, không phải tìm kiếm. 2-Suối vàng là âm phủ. 3-Có bản viết là khấn vái. 4-Dẫn câu ở Kinh Thi “Sinh xô nhất thúc” là một nắm cỏ tươi. Tục rót rượu vào bó cỏ làm lễ viếng. 5-Cỏ áy chỉ sự buồn bã. 6-có bàn viết là ngọn lau. 7-Có bản viết là chiếc trâm. 8-Có bản viết là 8 câu 4 vần. 9-Chẳng ra là không nghĩ ra thế nào. 10-Có bản viết là “lại càng liễu ủ dàu hoa”. 11-Nước mắt nhỏ xuống.
-60-
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
110.. Thấy người nằm đó biết sau(1) thế nào ?
Quan rằng: Chị nói hay sao,
Một lời là(2) một vận vào khó nghe.
Ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa.
115.. Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, còn là tinh anh,
Dễ hay(3) tình lại gặp tình,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.
Một lời nói chửa kịp thưa,
120..Phút đâu trận gió cuốn cờ(4) đến ngay.
Ào ào đổ lộc rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.
125.. Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành(5) chẳng xa.
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển(6) mới là chị em.
Đã lòng hiển hiện cho xem,.
Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
130..Lòng thơ(7) lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
1-Có bản viết “Thấy người trước đó biết sau thế nào.”2-Có bản viết là “một câu là”, có bản viết “một điều là.” 3-Dễ hay nghĩa là không mấy khi có. 4-Quyến kỳ phong hay dương giốc phong là gió lốc.5-Tinh thành là bụng thành rất thuần túy.6-U là tối nghĩa là người chết. Hiển là rõ tức người còn sống. 7-Lòng thơ là bụng hứng làm thơ.
-61-
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135.. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu(1) bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng(2),
Sau chưn theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu dòn(3),
140.. Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời(4).
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh(5),
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao(6).
145.. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều(7) e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh(8).
Nền phú hậu, bậc tài danh,
150..Văn chương nết đất, thông minh tính trời(9).
Phong tư tài mạo tuyệt vời(10),
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
1-Buông ngựa đi thong thả. 2-bán nang phong nguyệt là nửa túi gió trăng. 3-Tuyết in sắc là sắc trắng như tuyết. Câu là ngựa con. Dòn là đẹp. 4-Aó mùi lam. 5-Dặm xanh là cánh đồng cỏ xanh. 6-Dẫn câu “Vương Diễn như quỳnh lâm giao thụ” nghĩa là người Vương Diễn đẹp như cây ngọc giao ở trong rừng ngọc quỳnh. Ý nói người đẹp. 7-là 2 người con gái đẹp. 8-Trâm anh là con nhà thế gia. 9-Văn chương nết đất là nhà dòng dõi văn chương. Thông minh tính trời là thong minh trời phú. 10-bản kinh viết “Thiên tư dung mạo khác vời.” có bản viết “Thiên tư tài mạo tót vời.
-62-
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân(1).
155..Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng Tước khoá xuân hai Kiều(2).
Nước non(3) cách mấy buồng thêu(4),
Những là trộm dấu thầm yêu chốc mòng(5).
May thay giải cấu tương phùng(6),
160..Gặp tuần đố lá(7) thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng(8) nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai(9).
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
1-Đồng thân cùng ngĩa với đồng song là bạn học. 2-Hai Kiều là Đại Kiều lấy Tôn Sách và Tiểu Kiều lấy Chu Du đời Tam Quốc. Thơ Đỗ Mục có câu:“Đông phong bất dữ Chu lang tiện, đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều.” nghĩa là nếu gió đông không giúp cho Chu Du thì 2 Kiều phải khóa xuân trong đền Đồng Tước.3-Dẫn sách Quốc Sắc Thiên Hương câu “Tương thân chỉ xích nhi diểu nhược hà sơn” nghĩa là gần nhau độ 1 gang, 1 thước mà không được gặp nhau như cách trở núi sông. 4-Buồng thêu là tú phòng tức phòng người con gái thêu, dệt. 5-Dấu là yêu nhớ. Chốc mòng là biết bao nhiêu, bấy lâu. 6-Dẫn Kinh Thi câu “Giải cấu tương ngô, thích ngã nguyện hề” nghĩa là tình cờ không hẹn mà gặp. Thực thỏa long ao ước. 7-Hội Đố Lá. 8-Bỡi chữ mỹ nhân hồng ảnh. Nghĩa là giáng điệu người đàn bà đẹp. 9-Dẫn Tùy Sử câu “xuân lan thu cúc giai nhất thời chi tú giả” nghĩa là hoa lan mùa xuan, hoa cúc mùa thu. Mỗi thữ nở một mùa, đẹp một vẻ.
-63-
165.. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn(1) khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo(2).
Dưới dòng nước chảy trong veo(3),
170..Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha(4).
*
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không(5).
Gương nga(6) chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước(7), cây lồng bóng sân.
175..Hải đường lả ngọn(8) đông lân,
Giọt xuân gieo nặng cành xuân la đà(9).
Một mình lặng ngắm bóng nga(10),
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
1-Chỉn là tiếng cổ bỡi chữ cố mà ra. Nhĩa là chỉ là. Ý là dứt về cũng khó.2-Ghé mắt trông theo. Bản Kinh viết “trông theo.” 3-Bản kinh viết “Dưới cầu nước chảy trong veo.” Có bản viết “dưới cầu” hoặc “dưới khe.” Viết “dưới dòng” thì đúng với câu thơ Đường Thi: “Nhất cừ xuân bích lộng sàn sàn, lục liễu kiều biên yểm ảnh gian” nghĩa là một dòng nước biếc gờn gợn, bên cầu thì phất phơ cành liễu. 4-Có bản viết là “tha la” nghĩa là ngã từ từ xuống 5-Thu không là thu ban ngày, tức lúc bắt đầu tối. 6-là cái gương của Hằng Nga. Có bản viết “gương nga vằng  vặc đầy song” hay “gương nga vằng vặc sa song.”7-Có bản viết “vàng gieo đáy nước.” 8-Hải đường là cây có hoa ban đêm lả ngọn xuống.9-La dà là thấp xuống gần đất. 4 câu tả đêm mùa xuân. 10-Tố Nga là mặt trăng. Bản Kinh viết “Đăm đăm lặng ngắm bóng hoa
-64-
Người mà(1) đến thế thì thôi,
180..Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu(2) gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu(3) ngụ trong tính tình.
185..Chênh chênh bóng nguyệt xế mành(4),
Tựa ngồi(5) bên triện một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha than(6),
190.. Sen vàng(7) lãng đãng(8) như gần như xa.
Rước mầng(9) đón hỏi dò la:
Đào nguyên(10) lạc lối đâu mà đến đây ?
Thưa rằng: Thanh khí(11) xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.
1-Người mà là Đạm. Tiên 2-Người đâu là Kim Trong.3-Tuyệt diệu là cực hay. 4-Bản kinh viết:“Buồng xuân êm rủ bức mành.” 5-Bản kinh viết:“tựa lân.” 6-Bản kinh viết:“tuyết in vóc, tố pha thân.” 7-Đông Hôn hầu đời Nam Tề khi làm vua yêu Phan Phi làm hoa sen bằng vàng lát xuống cho nàng đi rồi cười nói rằng “Qúi phi đi mỗi bước chân nở ra một cái hoa sen.” Sen vàng là bước chưng của người đàn bà. 8-Lãng đãng là không rõ. Có bản viết “Sen vàng lững thững.” 9-Có bản viết: “chào mầng.”10-Cuối đời nhà Tấn có người đánh cá vào 1 cái suối hoa đào đi mãi thì tới động tiên.  11-Kinh Dịch có câu “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.” nghĩa là  cùng 1 thanh thì họp nhau, cùng 1 khí thì tìm nhau.
-65-
195..Hàn gia(1) ở mái tây thiên(2),
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ(3) xem tường,
200.. Mà xem(4) trong sổ đoạn trường(5) có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên(6),
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa(7)!
Này mười bài mới(8) mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
205.. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
1-giống như tệ xá. 2-Có 2 cách viết nghĩa là cánh đồng phía tây hay là phía tây. 3-Chủ hội Đoạn Trương.4- Có bản viết:“mà sao.” 5-Đoạn trường là đau như đút ruột. nghĩa bong là oan nghiệp. 6-Kinh phật nói “muốn biết cái nhân duyên trước như thế nào, thì hãy xem đời nay được hưởng thế nào; muốn biết quả kiếp đời sau thế nào, hãy xem kiếp này ăn ở thế nào.”7-Thanh Tâm Tài Nhân nói “Cái thuyền trước với cái thuyền sau biết đâu người ta với mình lại không phải là người chết đi rồi lại tái sinh.”8-10 bài là “Tích Đa Tài, Liên Bạc Mệnh, Bi Kỳ Lộ, Ức Cố Nhân, Niệm Nộ Kiều, Ái Thanh Xuân, Ta Kiển Ngộ, Khổ Linh Lạc, Mộng Cố Viên, Khốc Tương Tư.
-66-
Xem thơ nức nở(1) khen thầm:
Giá đành tú khẩu cẩm tâm(2) khác thường
Ví đem vào tập đoạn Trường
210.. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu xịch(3) bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215..Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây(4).
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo giạt(5) đã đành,
220.. Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi !
Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi,
Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên(6) chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì(7) ?
225..Cớ sao trằn trọc canh khuya(8),
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa(9) ?
1-Có bản viết:“Xem thơ nắc nởm.”2-Tú khẩu là miệng thêu, Cẩm tâm là long gấm. Ý nói có tài làm văn. 3-Có bản viết:“Gió đâu khua.”4-Tây Sương có câu: “lan xạ hương nhưng tại”nghĩa là người đi rồi mà mùi hương hãy còn phản phất.5-Ý nói long đong. 6-Kinh Thi có câu: “yên đắc huyên thảo ngôn thụ chi bội”nghĩa là ước gì được cỏ huyên mà trồng thềm phía Bắc. Cỏ huyên có tính làm cho giải phiền nên chỉ về mẹ. 7-Có bản viết:“Nhà huyên chợt tỉnh hỏi han mọi bề.”8-Bản knh viết: “Cớ sao sầu não ủ ê/Canh khuya dong bóng thức chi đến giờ. ”9-Tràng Hạn Ca của Bạch Cư Dị có câu “mặt ngọc ủ ê, nước mắt dầm dề như cái hoa lê mùa xuân có bám mấy giọt nước mưa.
-67-
Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ(1) tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,
230.. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao(2).
Đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra gì mai sau !
235.. Dạy rằng: Mộng triệu cứ đâu(3),
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương(4).
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
240.. Nách tường bông liễu bay sang láng giềng(5).
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng.
 Nỗi riêng, riêng chạnh(6) tấc riêng một mình.
III
Cho hay là thói hữu tình(7),
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.
245.. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây(8).
1-Nghĩa là cha sinh mẹ dưỡng. Có bản viết: “dưỡng sinh đôi đức”2- Có bản viết: “nhắp đi phút thấy”3-Có bản viết là “Dạy rằng mộng ảo chắc đâu.”4-Bà Nga Hoàng và Nữ Anh khóc vua Thuấn ở bờ song Tương. Chữ “tương” chỉ nước mắt đàn bà hay nói là “tương tư.” Ý nói nhớ Kim Trọng. 5-Có bản viết:“Nách tường bông liễu bay ngang trước mành”không đúng vần.6-là vướng mắc.7-Có bản viết là “thói hữu tình” nhưng không đúng với chữ “tình chủng.”8-Bản kinh viết “khôn khuây.
-68-
Sầu đong càng lắc càng đầy(1),
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê(2).
Mây Tần(3) khóa kín song the,
250. Bụi hồng lẽo đẽo(4) đi về chiêm bao.
Tuần(5) trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ(6), tơ chùng phím loan.
255.. Mành Tương(7) phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng(8) duyên nợ ba sinh(9),
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi(10).
*
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260.. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chưn đi.
1-Có bản viết là: “Càng gạt càng đầy.”2-Kinh Thi có câu:”Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”nghĩa là một ngày không thấy mặt lâu bằng 3 mùa thu. 3-Tình Sử có câu: “Tần vân Triệu vũ”nghĩa là mây nước Tần, mưa nước Triệu nghĩa là chỗ đàn bà ở im lặng mát mẻ. 4-Có bản viết:“bống hồng liệu nẻo”5-Bản kinh viết: “Vầng trăng khuyết.”6-Bút lông không viết thì ngòi khô đi. Có bản viết: “Trúc se ngón thỏ” là ngón tay không để vào ống sáo. 7-mành the do chữ tương liêm là mành mành căn the, gió thổi vào nghe như tiếng đàn. 8-là ví chẳng.9-Tình Sử có câu: “Tam sinh thạch thượng cựu linh hồn” nghĩa là có duyên số thì có nợ nầng với nhau thì viết tên lên hòn đá để kiếp này không trả được thì kiếp sau phải trả. Đến 3 kiếp mà không trả mới thôi. 10-Bản kinh viết: “Thì chi đem giống khuynh thành trêu ngươi” hay là “Cớ chi đem giống.
-69-
Một vùng(1) cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu !
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô(2) hiu hắt như màu khảy trêu.
265.. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều(3),
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều(4) lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm(5) dứt đường chim xanh(6).
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270.. Con oanh(7) học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
Dầy thềm(8) hoa rụng, biết người ở đâu ?
1-Có bản viết “một làn.”2-Vi lô là cây lau. Có bản viêt “bông lau.”3-bản kinh viết “chạnh riêng tưởng ít nhớ nhiều” hay là “chạnh riêng tưởng ít tình nhiều.”4-Bùi Hàng đời Đường gặp nàng Vân Kiều cho một bài thơ có câu “Lam kiều bản thị thần tiên quật” nghĩa là lam kiều là chỗ thần tiên ở. Đến khi qua cầu lam khát nước,vào uống thấy nàng Vân Anh đẹp lắm, muốn cưới làm vợ, Bà mẹ bảo có chày ngọc đem lai kháp với cối ngọc thì gả cho. Về Bùi Hàng được tiên cho chày ngọc. Họ lấy nhau và thành tiên. 5-Đời vua Đường Hi Tông người Vu Hựu bắt được một lá đỏ trôi từ trong cung ra. Lá có đề thơ. Vu hựu đề thơ lên lá, thả xuống nước thì nó trôi ngược vào cung. Cung nhân Hàn thị bắt được. Vua thải 3.000 cung nữ ra. Vu Hựu lấy Hàn thị. Biết bài thơ trước đó là của Hàn thị. 6-Hán Vũ Đế đang ngự chơi. Có 2 con chim xanh bay đến. Đông Phương Sóc tâu: “đó là sứ giả của Tây Phương mẫu đem tin. Một lát thì TPM đến thật.”7-Oanh là chim nhỏ lông rằn hay hót ở trong bụi. Hoàng oanh là chim lông vàng mỏ phơn phớt đỏ có tiếng hót khác con oanh. 8-Dẫy đầy là ngập lên. Có bản viết là “đầy thềm.
-70-
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
275.. Là nhà Ngô Việt(1) thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề(2) dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280.. Có hiên Lãm thúy(3), nét vàng chưa phai.
Mầng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Song hồ(4) nửa khép cánh mây,
Tường đông(5) ghé mắt ngày ngày hằng trông.
285.. Tấc gang đồng tỏa nguyên phong(6),
Tịt mù nào thấy bóng hồng(7) vào ra.
*
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai(8).
Cách tường phải buổi êm trời,
290.. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm xốc áo vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
1-Bản kinh viết là “hồ việt.” Hồ Việt hay Ngô Việt là người buôn bán ngày đây mai đó. Có bản viết là “Hỏi ra ngô việt.”2-đề huề là giắt díu. 3-lãm thúy hiên là mái để ngắm cảnh cỏ hoa tươi tốt. Trùng họp là ngắm thúy kiều. 4-Song hồ là cữa sổ dán giấy hồ. 5-xem số 8 trang 55. 6-Trong một chỗ gần bằng 1 gang 1 tấc mà khóa đồng cứ khóa mãi, không thấy người vào ra. 7 Bóng hồng là bóng người con gái đẹp. 8-bản kinh viết “Tuần trăng khuất ngón thoắt đà thèm 2.” Khuất ngón là đếm đốt ngón tay. Có người dọc là “Tuần trăng đếm đốt nay đà them hai.
-71-
Lần theo tường gấm(1) dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295.. Giơ tay với lấy về nhà:
Này trong khuê các đâu mà đến đây ?
Gẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm !
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai(2).
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
305.. Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố(3) mà mong châu về ?
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
Ơn lòng quân tử sá gì của rơi,
Chiếc thoa(4) nào của mấy mươi,
310.Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!
Sinh rằng: Lân lý ra vào,
Gần đây nào phải người nào xa xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!
1-Tường gấm là cẩm tường, nói văn hoa. 2-Có bản viết là “Đêm khuya dằn dọc mầng thầm/Trời như xui khách, tri cầm biết nơi.”3-Hợp Phố thuộc Giao châu, nay là châu Khâm châu Liêm. Bể ở đó có nhiều ngọc trân châu. Bao nhiêu quan tàu cũng bảo đi lấy.Ngọc bỏ đi nơi khác. Mạnh Thường sang làm quan có nhân chính. Ngọc trai trở về. Ý của báu này biết của ai mà đem trả cho người ta. 4-Có bản viết là “chiếc thoa là.
-72-
315.Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân gạn chút niềm tây(1) gọi là.
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông.
Bậc mây(2) dón bước ngọn tường,
320.Phải người hôm nọ rõ ràng chăng nhe?
Sượng sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ nhìn rõ mặt(3) người e cúi đầu.
Rằng: Từ ngẫu nhĩ(4) gặp nhau.
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn(5).
325.Xương mai tính đã rũ mòn(6),
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!
Tháng tròn như gởi cung mây(7),
Trần trần một phận ấp cây đã liều(8)!
Tiện đây xin một hai điều,
330.Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng(9)?
1-Niềm tây là niềm riêng.2-Có bản viết là “thang mây.”3-Có bản viết là “kẻ nhìn tận mặt.”4-Ngẫu  nhĩ là tình cờ.5-Chồn là mỏi.6-Đường Thi có câu “Mai cốt sấu nan chi”nghĩa là người gầy như cành mai. ý nói tương tư mà gầy mòn. 7-Có bản viết là “Nằm tròn như cuội cung mây” lấy ý thằng cuội nằm gốc cây đa. Có bản viết: “Tháng tròn như gửi song mây”lấy chữ vân song là chỗ người đẹp ở. Ở đây theo bản cũ lấy nghĩa câu “Nguyệt kỳ tâm vu nguyệt cung”nghĩa là tháng nào cũng để bụng ở cung tiên trong mặt trăng. 8-So với câu trong truyện Hoa Tiên “ấp cây một mực trần trần” cùng một nghĩa. Xưa có người đi cày thấy con thỏ chạy đụng vào cây chết. Người ấy bỏ việc cày, ngày nào cũng ôm cây chờ bắt thỏ. Ý là đợi mãi mà không thấy gì. 9-Đài gương cũng như đài trang là chỗ đàn bà ở. Nghĩa rộng là tôn người đàn bà. Dấu bèo là phận nhỏ mọn.
-73-  
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong(1),
Dù khi lá thắm chỉ hồng(2),
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
335.Nặng lòng xót liễu vì hoa,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!
Sinh rằng: Rày gió mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Dù chăng xét tấm tình si,
340.Thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiêng(3) dù phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
345.Lượng xuân(4) dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!
Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng(5).
Rằng: Trong buổi mới lạ lùng,
350.Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang!
1-Thói nhà băng tuyết nghĩa là nhà tôi thanh bạch. Chất bằng phỉ phong do chữ “Thái phong thái phỉ” của Kinh Thư nghĩa là hái rau phong rau phỉ, ý nói quê mùa mộc mạc. 2-Bỡi chữ “hồng diệp xích thằng.”nghĩa là lá thắm chỉ hồng. lá thắm xem số 5 rang 69. Chỉ hồng do tích Vi Cố kén vợ, vào chùa gặp ông lão bên mình có túi chỉ hồng, tay mở quyển sách đưa ra ánh trăng mà xem. Vi Cố hỏi thì nói sách là hôn thư là sổ những người phải lấy nhau. Chỉ đã buộc rồi thì phải lấy nhau. Ông lão xe Vi Cố lấy con nhà hàng rau rách rưới bẩn thiểu.  Vi cố giận toan giết nhưng sau vẫn lấy. 3-Khuông thiêng là Trời. Xuân chỉ đàn bà trẻ. Lượng xuân là lượng cô Kiều. 5-Chiều xuân là xuân tứ. nghĩa là tình. Nét thu là thu ba. Nghĩa là con mắt.
-74-
Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vâng tạc đá vàng thỉ chung(1).
Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa(2) với khăn hồng trao tay.
355.Rằng: Trăm năm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút này làm ghi.
Sẵn tay khăn gâm quạt quỳ(3),
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.
Một lời vừa gắn tất giao(4),
360.Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách(5) nàng dời lầu trang.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ.
365.Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia(6).
1-Có bản viết:“Đá vàng nằm trong.” Lấy nghĩa câu “Kim thạch chi ngôn khắc vu ngũ nội.”ngũ nội là ngũ phủ nghĩa là bụng. Ý là lời vàng đá ghi trong bụng.2-Có bản viết là “kim châu” nghĩa là những của Kim cho Kiều. Có bản viết là “kim hoàn.”3-Nhiều bản viết là “Sẵn tay bả quạt hoa quì” lấy câu trong Thanh Tâm Tài Nhân là “Kiều lấy cái quạt cầm sẵn ở tay và cái khăn ở trong ống tay áo cùng chiếc thoa mà đáp lại.” Có bản viết “Khăn tay gấm, quạt hoa quì.”Có bản viết “Quạt vàng khăn gấm sẵn tay.”4-Tất giao là sơn với keo nghĩa là  lâu bền. Có bản viết: “một lời vừa gắn tất giao.”5-Có bản viết:“chàng về thư viện”6-Tình Sử có câu “Quân tại tương giang đầu, thiếp tại tương giang vĩ, tương tư bất tương kiến, đồng ẩm tương giang thủy” nghĩa là chàng ở đầu song tương,thiếp ở cuối song tương, thương nhau nhưng không gặp, cùng uống nước song tương.
-75-
Một tường tuyết trở(1) sương che.
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.
*
Lần lần ngày gió đêm trăng,
370.Thưa hồng rậm lục(2) đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành(3).
375.Nhà lan thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.
Thì trân(4) thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
380.Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông(5):
Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm(6).
1-Có bản viết “Một tường tuyết điểm sương che” hay “tuyết đón sương che.”2-Tây Sương có câu: “Lục ám hồng hí xuân khứ giả” nghĩa là mùi xanh đã nhiều,  mùi hồng đã thưa, mùa xân đã đi, tức cuối xuân sang hè. 3-Biện là sửa sang. Có bản viết “Cần dâng một lễ, quì đem tấc thành” Cần là rau cần. Qùi là hoa quì. Hai chữ đi đôi với nhau ý nói thành kính thật thà. Có bản viết “bèn dâng một lễ.”4-Thì trân là hoa quả hay món quí đang mùa bấy giờ. Chỗ này ở bản tiểu thuyết Tàu nói Kiều làm đồ uống rượu đem sang nhà Kim Trọng. 5-là trông đợi. 6-là dầm tuyết dãi sương đến nỗi tóc bạc.
-76-
385.Nàng rằng: Gió bắt mưa cầm,
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng!
Lần theo núi giả(1) đi vòng,
390.
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào.
Xắn tay mở khóa động đào(2),
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên-thai.
Mặt nhìn mặt càng thêm tươi(3),
Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên(4).
395.Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời(5) phong nguyệt nặng nguyền non sông.
Trên yên bút giá thi đồng(6),
Đạm thanh một bức tranh tùng(7) treo trên.
Phong sương(8) được vẻ thiên nhiên,
400.Mặt khen(9) nét bút càng nhìn càng tươi.
Sinh rằng: Phác họa vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Tay tiên gió táp mưa sa(10),
Khoảng trên dừng(11) bút thảo và bốn câu.
1-là núi non bộ. 2-là động tiên. 3-Có bản viết là “càng nhìn mặt càng thêm tươi.”4-Vạn phúc là lời đàn bà hay dùng làm lời chào. Hàn huyên là lời hỏi thăm cả đàn ông đàn bà dùng.5-Có bàn viết là “ngẫm lời.”Có bản viết “phỉ tình phong nguyệt”6-là cái giá để bút. Thi đồng là cái hộp đựng thơ. 7-Đạm thanh là vẽ thủy mạc. Tranh tùng là bức tranh cây thông. 8-phong sương là nói cái tiết tháo của cây thông. 9-có bản viết là “mặn mà.” 10-Cổ Thi có câu “phong vũ thôi thi tứ” nghĩa là cái thi tứ nhanh như gió mưa đùn đẩy.11-Có bản viết “khoảng trên vẩy bút.
-77-
405.Khen: Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban ả Tạ(1) cũng đâu thế này!
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc(2) được giá này cho ngang!
Nàng rằng: Trộm liếc dung quang,
410.
Chẳng sân ngọc bội(3) thời phường kim môn(4).
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh(5) biết có vuông tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời(6):
415.Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Trông người lại ngắm đến ta(7),
Một dầy một mỏng biết là có nên?
Sinh rằng: Giải cấu(8) là duyên,
..


420.Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
1-là nàng Ban Chiêu nhà Hán. Ả tạ là Tạ Đào Uẩn nhà Tấn. 2 người nổi tiếng hay chữ.2-là cân nhắc. Có bản viết là “phúc nào đổi được” hay là “phúc nào đo được.”3-Lễ Ký có câu “quân tử bội ngọc” là nói bậc quân tử đeo ngọc để ví cái đức hạnh cũng thanh quí như ngọc. Về sau cho tiếng bội ngọc là người làm quan to. 4-Kim môn là Kim Mã Môn. Lấy câu “Hán Vũ Đế sử học sĩ đãi chiếu Kim Mã Môn” nghĩa là Hán Vũ Đế cho người có văn học chực ở cữa Kim Mã để có điều gì thì vua hỏi. Về sau lấy chữ kim mã để chỉ chỗ tiếp các bậc văn học. 5-Khuôn xanh là trời. Có bản viết “khuôn xanh đã biết vuông tròn mà hay.”6-Có bản viết là “Cứ trong tướng pháp lắm người chê bơi.”7-Có bản viết là “gẫm đến ta ” hay “ngắm vào ta.”8-xem số 6 trang 62.
-78-
Ví dù giải kết(1) đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân(2)!”
Ðủ điều trung khúc(3) ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
425.Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài(4).
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa(5).
                                   *
                 Ðến nhà vừa thấy tin nhà,
. 430.Hai thân còn dở tiệc hoa(6) chưa về
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối(7) vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành(8),
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh(9) hắt hiu.
1-Bản viết là “Dù đâu.” Bản viết “Dù mà.”Gỉai kết lấy trong sách nhà Phật câu “giải oan kết tục”nghĩa là điều không may. 2-Nghĩa là dù có xảy ra làm sao thì cứ xin giữ lời đá vàng chứ không bao giờ sai. 3-Trung khúc là lời nói tâm phúc. 4-Cổ thi có câu “Tây sơn dục hàm bán biên nhật” nghĩa là núi phía Tây ngậm nửa mặt trời. 5-Song sa là cữa sổ căn bằng lượt. 6-Tiệc hoa là hoa duyên nghĩa là bữa tiệc. 7-Có bản viết “xăm xăm băng nẻo.”8-Bản kinh viết “nhặt thưa gương rọi bóng cành.” Xét câu thơ Cổ Thi “nguyệt minh tài thượng liễu sáo đầu”nghĩa là bóng trăng mới soi qua trên ngọn cây liễu. Vậy để chữ “đầu cành” phải hơn. 9-Trác Dận nhà nghèo bắt đom đóm làm đèn để học. Sau người ta lấy chữ “trướng huỳnh” là màng đom đóm chỉ phòng học. Có bản viết là “trướng bình hắt hiu
-79-
435.Sinh vừa tựa án thiu thiu(1),
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê .
Tiếng sen sẽ động giấc hòe(2),
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần(3).
Bâng khuâng đỉnh Giáp(4) non Thần(5),
440.Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa .
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao(6) ?
445.Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen(7) nối sáp song đào(8) thêm hương .
Tiên thề cùng thảo một trương(9),
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
1-là mới ngủ chưa say. 2-Thuần Vu Thần ngủ dưới gốc cây hòe chiêm bao thấy 2 sứ giả vời vào làm phò mã, được phong làm thái thú Nam Kha. Vinh hiển hơn 20 năm, Thức giấc thấy đàn kiến quanh mình. 3-Dịch câu “nguyệt di hoa ảnh ngọc nhân lai.”nghĩa là dưới bóng trăng bóng hoa mà có người đẹp như ngọc đi đến. Tả cảnh người đẹp đi ban đêm. 4-Vua Sở Tương vương mơ thấy người đàn bà đẹp. Hỏi ở đâu thì trả lời là thần ở núi Vu Giáp. Sớm làm mây, tối làm mưa. 5-Non thần là thần châu, nơi tiên ở. 6-Tây Sưng có câu “Dữ ngã thực thị minh bạch, an tri bất thi mộng trung lai”nghĩa là bây giờ gặp nhau là thực, chắc đâu không phải ở trong mộng. 7-Cái đài như hoa sen để cắm nến. 8-Các bản cũ viết “song đào”là cữa sổ có hoa đào. Nhưng viết “lô đào” thì có nghĩa hơn vì có chữ “đào lô, đào đỉnh” là cái lô cái đỉnh hình hoa đào. 9-là tờ giấy viết thơ. Có bản viết “tiên thề cùng đính một một trương
-80-
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
450.Đinh ninh hai mặt một lời song song(1) 


Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng(2) đến xương .
Chén hà(3) sánh giọng quỳnh tương(4),
Dải là hương lộn(5) bình gương(6) bóng lồng.
455.Sinh rằng: Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam .
Chày sương chưa nện cầu Lam(7),
Sợ lần khân quá ra sờm sỡ chăng ?
Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng(8),
460.Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri .
Đừng(9) điều nguyệt nọ hoa kia .
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai(10).
1-có bản viết “đinh ninh hai mặt.” Nhưng có câu “hai mặt một lời” giao hẹn hay đôi co điều gì nên theo bản cũ để “hai miệng” đúng hơn. 2-Đồng là “đồng tâm kết”là cái nút thắt bằng 2 giải lụa dùng làm biểu tượng cái lòng kết họp vợ chồng. 3-Chén hà là hà bôi nghĩa là chén ngọc mùi vàng úa như ráng buổi chiều.  4-Đường Thi có câu “nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh” nghĩa là uống chén rượu bằng nước ngọc quỳnh, bụng sinh ra trăm mối cảm tình. 5-Dải là bỡi chữ “la đái”là dây thắt lưng bằng là. Hương lộn là quyến cái mùi hương vô đó. 6-Bình gương bỡi chữ “kính bình” là bình phong thủy tinh. 7-xem số 4 trang 69. Đây nói chưa thành vợ chồng. 8-xem số 2 trang 73. 9-Có bản viết “Xin điều.”10-bảo gì cũng làm trừ chuyện nguyệt hoa ra.
-81-
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài(1),
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ(2).
465.Thưa rằng: Tiện kỹ(3) sá chi,
Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng .
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày(4).
Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,
470.Làm chi cho bận lòng này lắm thân(5) !
So dần dây vũ dây văn(6),
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương(7) .
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau .
475.Khúc đâu Tư mã Phượng cầu(8),
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
1-Đường thi nói Tư mã Tương Như ngồi gảy đàn rồi gặp nàng Trác Văn Quân. Về sau người ta đặt tên chỗ ngồi đó là cầm đài. 2-Đời Xuân Thu Tử Kỳ là người tài nghe âm nhạc. Bá Nha ngồi gảy đàn, bụng nghĩ trên núi thì Tử Kỳ khen “tiếng đàn chót vót như núi cao.” Bá Nha gảy đàn, bụng lại nghĩ xuống dưới sông thì Bá Nha khen “tiếng đàn cuồn cuộn như nước chảy.”Tử kỳ chết. Bá Nha dứt dây, đập đàn và nói “Trong thiên hạ không còn ai nghe được tiếng đàn ta nữa.”3-Tiện kĩ là nghề mọn. 4-Do câu “Mạnh Quân cử án tề mi” nghĩa là nàng Mạnh Quân đưa cái mâm, nâng lên ngang mày.  Ý nói kính trọng. Có bản viết “vội vàng sinh đã cầm nâng.”5-Thân là tiếng cổ làm trợ ngữ như “lắm thay, lắm ru.”6-Vũ là dây to, văn là dây nhỏ. 7-Cung, thương là 2 chính âm. Cung là quân nghe trầm trọng. Thương là chương là thần nghe cao và thanh. 8-Tư mã Tương Như đời nhà Hán gảy khúc “Phượng Cầu Kỳ hoàng”để ve nàng Trát Văn Quân. TVQ mê đàn lấy TMTN. 
-82-
Kê Khang này khúc Quảng lăng(1),
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân(2) .
Quá quan này khúc Chiêu Quân(3),
480.Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia .
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời .
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa(4) .
485.Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày .
Rằng: Hay thì thật là hay,
490.Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào !
So chi những bậc tiêu tao(5),
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người(6)?
Rằng: Quen mất nết đi rồi,
        Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao !    
495.Lời vàng âm lĩnh ý cao,
Họa dần dần bớt chút nào được không .
1-Kê khang đời nhà Tấn hay đàn có thầy dạy cho khúc “Quảng lăng” 2-Có bản viết là “Một rằng Họa nhạc hai rằng Qúi Vân” cũng là 2 khúc đàn.3-Chiêu Quân là cung nhân đời Hán. Vua đem gả cho chúa Hung Nô. Qua ải nhớ nước nhớ nhà cưỡi ngựa gảy đàn tì bà để tả cảnh buồn. 4-Mấy câu này dịch bài thơ Cầm trong Đường thi: “Sơ nghi táp táp tương phong động/Hựu tự tiêu tiêu mộ linh/Cận nhược tưu tuyền lai bích chưởng/Viễn như huyền hạc hạ thanh minh” (Không xếp thứ tự nên căn cứ 4 từ bôi đỏ để nhận ra các câu.) 5-tiêu tao là buồn. Có bản viết “thanh tao” thì không phải. 6-Thanh Tâm Tài Nhân có câu “đoạn nhân trường nhi thương kỷ tâm giã” nghĩa là đứt ruột người mà đau lòng mình. 7-Dột là sầu như ủ dột. Có bản viết “nao hao.” Các bản cũ đều viết “nao nao.
-83
Hoa hương càng tỏ thức hồng(1),
Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu .
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
500.Xem trong âu yếm có chiều lả lơi 


Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao !
Vẻ chi một đóa yêu đào(2),
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh .
505.Đã cho vào bậc bố kinh(3),
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ
Ra tuồng trên Bộc trong dâu(4),
Thì con người ấy ai cầu làm chi !
Phải điều ăn xổi ở thì,
510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày !
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương(5) .
Mây mưa đánh đổ đá vàng(6),
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.
1-Theo bản cũ là “hoa hương” nghĩa là người đẹp có hoa có hương thì đẹp thêm. Có bản viết “hoa đèn” hay “hoa lan.” , “ngọn lan” hay “ngọn đèn.”2-Kinh Thi có câu “đào chi yêu yêu” nghĩa là cây đào non chỉ người con gái còn ít tuổi hay thời con gái đi lấy chồng. 3-Do câu “bố quần kinh thoa”nghĩa là quần vải thoa cỏ. Ý đạo làm vợ có quyền để tang cha mẹ bằng sô gai.4-Kinh thi có câu “trung tang Bộc thượng”nghĩa là trai gái hẹn hò trong bụi dâu hay trên bờ sông Bộc. Tây sương lấy tích nàng Thôi Oanh Oanh cùng Tương Củng phái lòng nhau ở phía Tây chùa Phổ Cứu, phải đôi đẹp lứa nhưng ăn ngủ với nhau rồi không lấy nhau. 6-Mây mưa lấy điển tích Sở Tương vương nằm mơ thấy thần nữ núi Vu Sơn. Thần nói thiếp làm mây buổi sáng,  làm mưa buổi chiều. Về sau người ta dùng “mây mưa”nói chuyện trăng hoa cho khỏi tục. “đá vàng” là nói lòng trinh tiết của đàn bà.
-84-
515.Trong khi chắp cánh liền cành(1),
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên .
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi(2) trước chẳng giữ giàng,
520.Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân còn một đền bồi có khi(3) !
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân .
525.Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân(4),
Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào(5) .
Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sinh thì dạo gót sân đào bước ra .
*
Cửa sài(6) vừa ngỏ then hoa,
530.Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
1-Ý nói khi đã lấy nhau. Do điển trong Tường Hận ca có câu Đường Huyền Tông nguyện với Dương Qúi phi: “Tại thiên nguyện tác tị dực điểu, tại địa nguyên vi liền lý chi”nghĩa là trên trời nguyện làm chim liền cánh, dưới đất thì làm cành cây liền thớ. 2-Lấy điển Tạ Côn ghẹo người con gái đang dệt cửi bị nàng ném cái thoi vào mặt gãy 2 cái răng. Ý câu này và câu sau nếu trước không giũ gìn thì sau thẹn với nhau. 3-Có bản viết “còn thân ắt cũng đền bồi có khi.”4-Bóng tàu là bóng lá cây.Vẻ ngân là vẻ mặt trăng. Có bản viết là “vẻ sân” thì không dúng. 5-Có bản viết là “Tin đâu đã gõ cữa ngăn gọi vào.”Có bản viết “Tin đâu đã đến cữa ngăn.”6-Do chữ sài môn, xếp củi làm cữa. Có bản viết là “cữa ngoài
-85-
Đem tin thúc phụ từ đường(1),
Bơ vơ lữ thấn(2) tha hương đề huề.
Liêu dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
535.Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,
Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.
Gót đầu mọi nỗi đinh ninh(3),
Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi:
Sự đâu chưa kịp đôi hồi(4),
540.Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,
Trăng thề còn đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.
Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy(5) !
545.Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chưn mây cuối trời(6).
1-Từ đường cũng như quyền xá nghĩa là bỏ nhà, tức là chết. Bản kinh chũa lại là “Mở xem thủ bút nghiêm đường/Nhắn rằng: “Thúc phụ xa đường mệnh chung/Hãy còn ký tán Liêu Đông/Cố hương khơi diễn nghìn trùng sơn khê/Rày đưa linh thấn về quê/Thế nào con cũng phải về hộ tang.””Mấy câu này có ý rõ ràng hơn nhưng lời lẽ thật thà. Không phải giọng văn tác giả. 2-Lữ thấn là chưa chôn, còn quàng ở đất khách. 3-Đinh ninh là nói đủ điều. 4-Đôi hồi là dã dề. 5-Mấy câu này nói tuy mình đã di xa nhưng không quên lời đã thề nhau. 6-Hai câu này Kim dặn Kiều ở nhà giữ gìn than thể để mình đi yên lòng.
-86-
Tai nghe ruột rối bời bời(1),
Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:
Ông tơ ghét bỏ chi(2) nhau,
550.Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi

Cùng nhau trót đã nặng lời,
Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ !
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm(3).
555.Đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai(4) .
Còn non còn nước còn dài,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay !
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,
560.Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng(5) châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng,
Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai .
     565.Buồn trông phong cảnh quê người,
đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa(6) .
Não người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
1-Có bản viết “nhận ngừng nàng mới.”2-Gàn quái là ngăn trở. Có bản viết “ông tơ ghét bỏ chi nhau.” Nhưng “gàn quái” là tiếng đời trước hay dùng nên theo bản cổ. 3-Cổ thi có câu “Lộ túc phong san lục bách lý” nghĩa là đi đường 600 dặm phải ăn gió nằm sương. 4-Đường thi có câu “Khẳng bả tì bà quá biệt thuyền”nghĩa là sao nỡ ôm đàn tì bà sang thuyền khác. Lấy truyện trong bài Tỳ Bà Hành chê người đàn bà không giữ trọn cái nghĩa cũ. 5-Trân trọng là tiếng dặn dò người đi xa phải giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh. 6-Quyên nhặt là con cuốc kêu mau. Nhạn thưa là con nhạn bay thưa. 
 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét