Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Truyện Kiều-Giới Thiệu 2



Là bài giới thiệu

không gian và thời gian Truyện Kiều.Đọc 1 tác phẩm, 1 câu chuyện nên nắm không gian và thời gian để được hiểu rõ những diễn biến xảy ra. Sau đây là bối cảnh không gian và thời gian của Truyện Kiều. 
 Bối cảnh không gian. Chuyện xảy ra ở TQ. Lúc đầu khó xác định chuyện xảy ra nơi nào ở TQ. Tác giả chỉ gới thiệu khái quát là ở Bắc Kinh và Nam Kinh, ở lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử “Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh/Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.” Lần lần thì cũng xác định được chính xác nơi nao. Chuyện kết thúc ở sông Tiền Đường là sông lớn ở tĩnh Chiết Giang chảy qua Hàng Châu. Kiều gieo mình ở đoạn nào trên sông? Tác giả viết rõ nơi đó là Hàng Châu“Hàng Châu đến đó bây giờ/Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành/Rằng: Ngày hôm nọ giao binh/Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền(câu 2957-60).”Còn quê Từ Hải và Kiều thì ở đâu? Lúc đầu chỉ biết khái quát là họ ở lưu vực của 2 con sông nói trên “Xót nàng còn chút song thân/Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa(câu 2433-34).” Rồi địa chỉ cũng rõ ràng ra là Từ Hải ở phía Đông lưu vực sông Dương Tử “Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông./Giang hồ quen thú vẫy vùng(câu 2172-73)”. Và là vùng bờ biển: “Năm năm hùng cứ một phương hải tần(câu 2450)”; “Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành(câu 2464).”Hán-Sở tranh hùng. Nước Sở ở phía Nam, nước Hán ở phía Bắc. Ngô là ĐôngNgô thời TamQuốc. Quê hương của Kiều cũng rõ ràng ra là ở Bắc Kinh. Viên quan họ Đô kể  “Tú bà cùng Mã Giám sinh,/Đi mua người ở Bắc kinh đưa về(câu 2889-90).”Đến bây giờ ta mới hiểu hành trình lưu lạc là từ Bắc Kinh xuôi về Nam đến Nam Kinh, từ tĩnh Hà Bắc xuống Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang và Phúc Kiến. Còn Vô Tích, chỗ ở của Hoạn bà thì ở đâu? Công cụ tìm kiếm Google cho biết Vô Tích ở bờ Nam sông Dương Tử, giữa Nam Kinh và Thượng Hải. Nhờ 2 câu thơ sau đây mà ta xác định được Lâm Tri, chổ ở của Tú bà, cửa hàng của Thúc Sinh và châu Thai “Ba quân chỉ ngọn cờ đào,/Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri(câu 2299-300).” Bản doanh của Từ Hải đóng ở Hàng Châu. “Ra Vô Tích” là đi về phía Bắc, Chiết Giang đi Giang Tô; “đạo vào Lâm Tri” là đi về phía Nam tĩnh Chiết Giang hay đến tĩnh Phúc Kiến. Công cụ goole không tìm được vị trí cụ thể Lâm Tri. Còn chú của Kim Trọng chết ở đâu? Trong truyện có câu: “533.Liêu dương cách trở sơn khê,/Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.” Trần Trọng Kim chú giải nói bản Phường chữa lại là “Mở xem thủ bút nghiêm đường/Nhắn rằng: “Thúc phụ xa đường mệnh chung/Hãy còn ký tán Liêu Đông/Cố hương khơi diễn nghìn trùng sơn khê/Rày đưa linh thấn về quê/Thế nào con cũng phải về hộ tang.” Liêu Đông là tĩnh ở phía Đông Bắc tĩnh Hà Bắc, nơi thủ đô Bắc Kinh tọa lạc. Ngày nay tên tĩnh là Liêu Ninh.
 Bối cảnh thời gian. Vào đầu truyện, tác giả giới thiệu tổng quát sự việc xảy ra vào năm Gia Tĩnh Triều Minh nhưng không viết rõ vào năm nào. Đất nước thì thanh bình cả lưu vực sông Hoàng Hà(Bắc Kinh) lẫn sông Dương Tử(Nam Kinh): Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,/Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng/ Có nhà viên ngoại họ Vương.”Chỉ có binh biến vào cuối câu chuyện ở phía Nam tĩnh Giang Tô(Nam Kinh) là tĩnh Chiết Giang và Phúc Kiến do Từ Hải đạp đổ huyện thành: “Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam(câu 2445).”  
Đầu truyện thời gian mô tả không rõ ràng gì. Kim Kiều gặp nhau vào tháng thứ 3 của 1 mùa XuânThiều quang chin chục đã ngoài sáu mươi.
Đến khi hai bên nhà họ Kim,Vương có gia biến thì đất trời đi vào mùa Hạ:“Lần lần ngày gió đêm trăng/Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua./Ngày vừa sinh nhật ngoại gia(câu 369-71).”Kim Trọng sang Liêu Dương chịu tang người chú.Liêu dương cách trở sơn khê/Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang(câu 533). Kim ra đi trong tiết mùa :“Buồn trông phong cảnh quê người,/Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa(câu 565-66)”  Sau đó Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha. Kiều theo họ Mã về Lâm Thanh trong tiết mùa Thu.“Nàng thì dặm khách xa xăm,/Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây ./Vi lô san sát hơi may,/Một trời thu để riêng ai một người(câu 911-14).”Tròn 1 tháng thì tới nơi. “Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi.(câu 920),Mã Giám Sinh trước đây nói dối là quê ở Lâm Thanh.Sự thật là về LâmTri
Sau nửa năm Kim mới trở lại nhà Kiều“Từ ngày muôn dặm phù tang/Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.(câu 2741-42)” thì lúc đó Kiều đã biến đi mất tiêu rồi.
Đoạn kiều ở với Tú Bà không biết bao nhiêu lâu. Tác giả chỉ mô tả:“Song sa vò võ phương trời,/Nay hoàng hôn, đã lại mai hôn hoàng./Lần lần thỏ bạc ác vàng,/Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn(câu 1267-70). Trước đó bị ép tiếp khách, Kiều quyên sinh được cứu chữa cho ra ở lầu Ngưng Bích. Cảnh thật buồn bã. Có lẽ cảnh mùa Thu. Khi Kiều bị Sở Khanh lừa thì rõ ràng lúc đó là mùa Thu: “1119.Đên thu khắc lậu canh tàn/Gió cây trúy lá, trăng ngàn ngậm gương.” Như vậy sau khi theo họ Mã về đây, tiết cũng còn ở mùa Thu.
Rồi Kiều gặp Thúc Sinh quê ở huyện Tích châu Thường theo cha mở cữa hàng ở Lâm Tri. Nghe Kiều nổi danh hoa khôi, Thúc Sinh tìm đến thì ưa ngay “Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi/Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào/Trướng tô giáp mặt hoa đào,/Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa(1279-82.)” Không biết Thúc Sinh chơi tiên giỡn tiền ở thanh lâu Tú Bà kéo dài bao lâu. Chỉ biết mê mang đến đỉnh điểm là lúc Thúc ông trở về thăm quê:“Dịp đâu may mắn lạ dường,/Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê/Sinh càng một tỉnh mười mê(câu 1291-94).”Lúc đó tiết trời đang ở mùa Hè. Thúc Sinh mục kích Kiều tắm vào một đêm trăng Hè:“Dưới trăng quyên đã gọi hè,/Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông./Buồng the phải buổi thong dong,/Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa /Rõ màu trong ngọc trắng ngà/Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên(câu 1307-12). Thúc Sinh làm thơ tỏ tình và cầu hôn Kiều:“Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường(câu 1314.)” Tình yêu được Kiều đáp lại:“Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay(câu 1320)”và Kiều chốt lại “Thương sao cho vẹn thì thương./Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng(câu 1359-60).”Tỏ tình suốt 1 đêm trăng thì trời sáng ra:“Nỉ non đêm ngắn tình dài,/Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương(câu 1369-70).”
Thúc Sinh bỏ tiền và cậy tay thầy thợ chuộc Kiều về:“Rõ ràng của dẫn tay trao,/Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công.(câu 1377-78)” Cuộc tình gồm 1 đoạn lén lút và 1 đoạn chính thức trôi qua không biết bao nhiêu lâu thì Thúc ông trở lại Lâm Tri:Nửa năm hơi tiếng vừa quen/Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng./Giậu thu vừa nảy giò sương,/Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi/Phong lôi nổi trận bời bời(câu 1385-89).
Nửa năm hơi tiếng vừa quen.” Nửa năm là nửa năm nào? Mùa Hè tới mùa Thu là thời gian 1 quí sao gọi là nửa năm? Kiều theo họ Mã về Lâm Tri vào mùa Thu. Không biết trụ được bao nhiêu lâu ở đây thì Kiều gặp Thúc Sinh. Nếu nói Kiều-Thúc Sinh bén mùi được nửa năm thì có thể nghĩ như thế này. Kiều chịu bao tai biến ở nhà Tú Bà xuyên suốt qua Thu-Đông. Đến mùa Xuân năm sau thì gặp Thúc Sinh. Cuộc chơi lén lút tới mùa Hạ thì Thúc Sinh lợi dụng cha về thăm quê bỏ tiền ra chuộc nàng Kiều. Đến mùa Thu thì Thúc ông trở lại Lâm Tri, nổi trận lôi đình. Đây là mùa Thu năm thứ 2. Tính như thế, tính từ Xuân đến Thu nên tác giả mới viết Nửa năm hơi tiếng vừa quen.” Tức nửa năm thứ 2.
Mùa Thu năm thứ 2. Can ngăn con không được, Thúc ông mới đưa vụ việc đến cữa quan xét xử “Sốt gan ông mới cáo quì cửa công(câu 1404)”. Kiều chịu đánh đòn thay vì bị đuổi về lầu xanh: “Một là cứ phép gia hình,/Một là lại cứ lầu xanh phó về(câu 1419-20). Thương nết, trọng tài quan trên tha tội cho Kiều“Thương vì hạnh trọng vì tài(1469)”; và Thúc ông cũng dẹp lời phong ba: “Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba/Huệ lan sực nức một nhà/Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa(câu 1470-72). Việc kéo dài từ Thu sang Đông năm thứ 2. Thế rồi Xuân đến và Hè năm thứ 3 cũng sang:“Mảng vui rượu sớm cờ trưa,/Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh(câu 1473-74Mùa Thu thứ 3 lại đến, Kiều nghĩ nên cho Hoạn Thư biết tin. “E thay những dạ phi thường, dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông/Mà ta suốt một năm ròng(câu 1485-87). Suốt một năm ròng” là tính từ mùa Thu năm 2 đến mùa Thu năm 3. Thúc ông chính thức cưới Kiều làm vợ bé cho Thúc Sinh(năm thứ 2) đến mùa Thu năm nay(năm thứ 3). Kiều chia tay Thúc Sinh lai quê vào mùa Thu.“Sông Tần một dải xanh xanh,/Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan./Cầm tay dài ngắn thở than(câu 1501-03)”và hẹn năm sau(năm thứ 4?) thì gặp lại.“Thương nhau xin nhớ lời nhau,/Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy./Chén đưa nhớ bữa hôm nay,/Chén mừng xin đợi ngày này năm sau(câu 1515-18”Thúc sinh ra đi trong tiết mùa Thu, mùa Thu măm 3.“Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san./Dặm hồng bụi cuốn chinh an,/Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh(câu 1520-22).
Kiều bị bắt cóc về với Hoạn Thư ngay trong mùa Thu thứ 3 ấy. Về tới nơi thấy Hoạn Thư tỉnh queo không hỏi đến chuyện mình “ăn vụng tình” “Mấy phen cười nói tỉnh say,/Tóc tơ bất động mảy may sự tình(câu 1575)”nên Thúc Sinh chủ trương “nín” luôn. “Nghĩ đà bưng kín miệng bình,/Nào ai có khảo mà mình đã xưng(câu 1577-78).” Bấy giờ còn trong tiết mùa Thu“Thú quê thuần hức bén mùi,/Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô(câu 1593-94)”. Lá ngô đồng báo hiệu cuối Thu sắp sang Đông. Hoạn Thư xúi Thúc Sinh trở lại cữa hàng ở Lâm Tri để nàng có dịp về Vô Tích cùng mẹ lập mưu bắt cóc Kiều. Thúc Sinh trở lại Lâm Tri trong tiết Thu(mùa Thu năm 3)“Vó câu chẳng ruổi nước non quê người./Long lanh đáy nước in trời,/Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng(câu 1602-04)”. Vô Tích-Lâm Tri đường bộ thì xa mà đường thủy thì gần“Lâm Tri đường bộ tháng chầy,/Mà đường hải đạo sang ngay thì gần(câu 1613-14).”Vô Tích ở phía Bắc 1 cái hồ lớn. Lâm Tri có thể ở bờ Nam cũng trong tĩnh Giang Tô. Nhưng so với Hàng Châu thuộc tĩnh Chiết Giang(Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri) thì Lâm Tri phải ở Nam tĩnh Chiết Giang hay ở Phúc Kiến. Vậy “hải đạo” đường đi vòng ra khỏi cữa sông Dương Tử, vượt cả cữa sông Tiền Đường rồi cập vào bở biển ở phía Nam. Hoạn bà cho 2 gia nhân khuyển ưng sang bắc cóc Kiều, đốt nhà phi tang ngay trong mùa Thu đó, mùa Thu năm 3 mà Kiều-Thúc sinh ân ái “suốt một năm ròng.”
Đây là cảnh cái đêm hôm bị bắt cóc“Đêm thu gió lọt song đào,/Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời(câu 1637-38)”. Đêm Thu gió lọt song đào  là cái đêm Thu năm thứ 3 này! Thúc Sinh về tới nơi thì chỉ thấy còn đồng tro than “Bước vào chốn cũ lầu thơ,/Tro than một đống nắng mưa bốn tường(câu 1671-72)” và thấy bài vị nàng Kiều thờ ở bên nhà Thúc ông“Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên(câu 1674)”. Cầu hồn thì thầy bói bảo một năm nữa, tức năm thứ 4, mới biết tin“Mệnh cung đang mắc nạn to,/Một năm nữa mới thăm dò được tin(câu 1695-96).” Tức là vào mùa Thu thứ 4 mới gặp Kiều ở nhà Hoạn Thư. Trở về huyện Tích, khuyển ưng giao nộp Kiều cho Hoạn bà Dỡ đò lên trước sảnh đường,/Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công(câu 1711-12).” Một hôm, vào năm thứ 4,  Hoạn Thư về thăm mẹ“Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia(câu 1768)”. Hoạn bà cho Kiều sang nhà Hoạn Thư làm nô tì(Thanh y lần thứ 2). “Tiểu thư dưới trướng thiếu người,/Cho về bên ấy theo đòi lầu trang(câu 1771-72). Ở Lâm Tri, năm thứ 3, Thúc Sinh thương nhớ Kiều: “Lâm Tri từ thuở uyên bay,/Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân(câu 1791-92)”.Thời gian thương nhớ không biết là bao nhiêu. Tác giả chỉ viết “Sen tàn cúc lại nở hoa,/Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân(câu 1795-96). 2 câu này năm 2000 được TT Mỹ Bill Clinton trích để truyền thông cái ý gì cho nhà cầm quyền VN? Người ta đón mò đủ thứ. Trong bài “Bói Kiều” đăng trong http://ongtam2013.blogspot.com, tôi nói 2 câu này không có ý “bỉ cực thái lai.” Mùa Hè oi bức, Thu-Đông buồn thảm. Xuân đến thì hi vọng, tương lai bang giao Việt-Mỹ sẽ huy hoàng. 2 câu này thuần túy tả thời gian 1 năm nào đó mà thôi.
Mùa Hè(sen) nào? Thu(cúc) nào? và Đông nào, Xuân nào? Khó mà xác định thời điểm ở đây nếu người đọc không đối chiếu với câu tiên đoán của ông thầy bói nói trên Một năm nữa mới thăm dò được tin(câu 1696).” Hai câu“Sen tàn cúc lại nở hoa,/Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân” nói lên Thúc Sinh buồn thảm thương nhớ Kiều tới 1 năm trời lận. Thời gian từ năm 3 tới năm thứ 4. Còn thời điểm là từ mùa Thu thứ 3 đến mùa Thu thứ 4(mùa Thu thứ 1 Kiều theo họ Mã về Lâm Tri, Thu thứ 2 Thúc ông thăm quê trở lại Lâm Tri, Thu thứ 3 Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư và Hoạn bà cho bắt cóc Kiều. Thu thứ 4 Thúc Sinh thăm Hoạn Thư lần 2 và gặp nàng Kiều ở đó). Mùa Thu thứ 4 này cũng được xác định bỡi câu Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu(câu 1834).”
 Không biết Kiều ở nhà Hoạn Thư bao nhiêu lâu chỉ biết ở Quan Âm các vài tháng “Nâu sồng từ trở màu thiền,/Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu,/ Cửa thiền, then nhặt, lưới mau(câu 1933-35).”
Kiều trốn đến ở Chiêu Ẩn am của sư Giác Duyên rồi vào thanh lâu lần 2. “Cất mình qua ngọn tường hoa,/Lần đường theo bóng trăng tà về tây(câu 2027-28)”. Không biết thời gian ở đây, ở với sư Giác Duyên, bao lâu chỉ biết rời nơi này vào nhà Bạc bà vào tiết cuối mùa Xuân.“Cửa thiền vừa tiết cuối xuân,/Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời(câu 2061-62).” Bạc Hạnh đem Kiều về Châu Thai bán cho phường lầu xanh. “Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai(câu 2136)”. Ở đây cho tới lúc Từ Hải giải thoát không biết là bao nhiêu năm.
Kiều về với Từ Hải. Đến gần cuối câu chuyện thì thời gian được mô tả rõ dần dần. Thời gian từ đầu truyện đến cuối truyện là 15 năm. Con số này được xác định nhiều lần. Sau khi gieo mình xuống sông Tiền Đường tác giả viết lời bình đời đen bạc mà nàng Kiều đã chịuMười lăm năm bấy nhiêu lần/Làm gương cho khách hồng quần thử soi(câu 2643-44).” Khi Giác Duyên đưa gia đình đến gặp Kiều bên bờ sông Tiền Đường ở Hàng Châu tĩnh Chiết Giang, cha mẹ Kiều than khóc“Từ con lưu lạc quê người,/Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm(câu 3019-20)! Khi cả nhà đoàn tụ Thúy Vân bày tỏ ý tưởng xui Kim-Kiều nên tái họp: “Những là rày ước mai ao,/Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình/Bây giờ gương vỡ lại lành(câu 3070-71)”Trong đêm động phòng tái họp, Kim-Kiều nhắc lại quãng đời lưu lạc đã qua Mười lăm năm mới bây giờ là đây/Tình duyên ấy họp tan này(câu 3138-39). Lấy móc 15 năm này suy ra những thời điểm khác.Từ Hải khởi binh ở cõi Nam(Giang Tô,Chiết Giang, Phúc Kiến)“Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam(câu 2445).”Thời gian hùng cứ là 5 năm. “Trước cờ ai dám tranh cường,/Năm năm hùng cứ một phương hải tần(câu 2449-50)”.Năm Kiều trả ân oán ở HàngChâu dưới sự chứng kiến của sư Giác Duyên là năm thứ 11: “2401Rồi đây bèo họp mây tan/Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu/Sư rằng củng chẳng bao lâu/ Trong năm lại gặp nhau đó mà.”Năm Giác Duyên vớt Kiều gieo mình ở sông Tiền Đường là năm thứ 15. Năm thứ 11 đến năm thứ 15 là 5 năm hùng cứ. “Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri/Bảo cho hội ngộ chi kỳ,/Năm nay là một nữa thì năm năm(câu 2406-08)” Lúc gặp Kiều ở châu Thai thì chưa ai biết Từ là đấng anh hùng ngoại trừ Kiều. “Khen cho con mắt tinh đời,/Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!/Một lời đã biết tên ta,/Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau(câu 2201-04)! Ăn ở với nhau được nửa năm thì Từ lên đường.“Nửa năm hương lửa đương nồng,/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương(câu số 2213-14). Có phải lúc này là lúc năm thứ 9, thứ 10 gì đó? Từ không cho Kiều đi theo và hẹn chờ 1 năm sau. “Bằng ngay bốn bể không nhà,/Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?/Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì(2225-28)? Suy ra Kiều gặp Từ khoảng năm thứ 9, thứ 10. Từ Hải đi rồi thì Kiều nhớ cha mẹ than  “Chốc là mười mấy năm trời,/ Còn ra khi đã da mồi tóc sương(câu 2239-40). Đúng ra là 10 năm nhưng thời gian tâm lý nên Kiều than là “mười mấy năm trời.”Nhớ Từ Hải Kiều than“Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,/Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm./Đêm ngày luống những âm thầm(câu 2247-49). Nhưng chẳng bao lâu thì thấy giáp binh kéo đến rước nàng “Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương/Ngất trời sát khí mơ màng(câu 2250-51). Sự cố xảy ra trong năm thứ 10. Năm sau thì xảy ra việc trả ân báo oán ở trung quân như nói trên. Cuộc sống ở đại bản doanh kéo dài tới năm thứ 15.
Trở lại chuyện kể về Kim Trọng. Sau nửa năm thứ nhất, Kim Trọng từ Liêu Dương trở lại nhà “Từ ngày muôn dặm phù tang/Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.(câu 2741-42).”Sau đó Kim tìm được nơi ở mới của nhà họ Vương. Hai họ Vương-Kim kết suôi gia. Vương ông gả Thúy Vân cho Kim Trọng(KT). KT tiến hành tìm kiếm nàng Kiều.“Đinh ninh mài lệ chép thơ,/Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe./Biết bao công mướn của thuê,/Lâm thanh mấy độ đi về dặm khơi./Người một nơi hỏi một nơi,/Mênh mông nào biết bể trời nơi nao(câu 2825-30). Không biết thời gian kéo dài bao nhiêu năm. Tác giả chỉ viết “Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần(câu 2958)” Rồi thì Vương Quang và Kim Trọng thi đỗ khoa thi đặt biệt(chế khoa) không biết vào năm nào, chỉ biết họ nhận ra làm quan ở Lâm Tri.“Chế khoa gặp hội trường văn/Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày.” Thúy Vân nằm mộng thấy Kiều nên họ nghĩ có thể Lâm Tri lầm lẫn Lâm Thanh?  Kim lên công đường hỏi các quan. Viên quan  già họ Đô kể chuyện Tú Bà cùng Mã Giám Sinh ở Lâm Tri đi mua người ở Bắc Kinh về rước khách kiếm lời mà ăn. Thúy Kiều tài sắc và kiên trinh gan dạ. Sau đó Kiều về với Thúc lang lại bị vợ cả bắt về Vô Tích hành hạ. Kiều trốn ra thì bị Bạc bà, Bạc Hạnh bán vào lầu xanh ở châu Thai. Bỗng đâu Kiều lại gặp một người trí dũng. “Trong tay mười vạn tinh binh,/Kéo về đóng chật một thành Lâm truy(câu 2905-06).” Kiều trả ơn báo oán. Họ Đô kể “Sự này đã ngoại mười niên(câu 2887).”Như vậy lúc Kim đến Lâm Tri phải là năm sau năm thứ 10, khoảng năm thứ 11, 12 gì đó. Lúc này Kiều và TừHải đóng bản doanh ở HàngChâu, bên sông TiềnĐường. Năm thứ 10 là năm Từ Hải chinh phục được cõi Nam, cho thuộc hạ đón Kiều về bản doanh. Sau năm này Kiều và Từ ở tại đại bản doanh lâu tới 5 năm. Họ Đô kể tiếp nói ông chưa biết được họ tên người anh hùng. Hỏi Thúc lang thì sẽ biết. Thúc Sinh cung khai đầy đủ tên họ và trường họp Kiều gặp Từ Hải trước đó ở châu Thai. Rồi sau chỉ biết Kiều-Từ đồn trú ở cõi Đông mà thôi: “Đại quân đồn đóng cõi đông,/Về sau chẳng biết vân mồng làm sao(câu 2925-26).” Bỗng nhiên Kim, Vương nhận sắc chỉ cải nhậm nơi làm mới“Kim thì cải nhậm Nam bình,/Chàng Vương cũng cải nhậm thành Châu dương(câu 2949-50) trong tình hình Chiết Giang và Phúc Kiến trở lại thời yên bình“Xảy nghe thế giặc đã tan,/Sóng êm Phúc kiến lửa tàn Chiết giang(câu 2953-54).”Lúc này thời điểm cỡ cuối năm thứ 15. Hồ Tốn Hiến diệt được Từ Hải năm thứ 15. Bấy giờ Kim Vương tới Hàng Châu(thủ phủ tĩnh Chiết Giang) biết rõ Từ bị lừa, thất trận như thế nào và Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đương quyên sinh ra làm sao. Họ lập đàn chiêu hồn Kiều và gặp lại sư Giác Duyên bảo nàng Kiều hãy còn sống. Họ đòan tụ. Năm ấy là năm thứ 15 kể từ ngày lưu lạc.
Truyện Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh là tác phẩm mô tả một bi kịch. Người Á Đông ưa truyện có hậu nên bi kịch có thêm đoạn hậu Kim-Kiều tái họp. Và trong bể khổ tác giả vẫn để Kiều hưởng tới gần nửa thời gian là thời gian hạnh phúc. Ngoài 5 năm hạnh phúc với tướng quân họ Từ, tác giả còn để Kiều có tới những 1,5 năm 3 người tình sống say sưa yêu nàng. Với Kim Trọng ½ năm: “Từ ngày muôn dặm phù tang/Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.”Kim Trọng có tới ½ năm nuôi hi vọng! Với Thúc Sinh:Nửa năm hơi tiếng vừa quen/Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.”Với Từ Hải:Nửa năm hương lửa đương nồng,/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.”Thời gian chia đều cho 3 người tình.
Mùa Bang Giao Việt-Mỹ
Tháng 7-8 năm 2015. HBC 


0 nhận xét:

Đăng nhận xét