Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

HẬU TRẬN HẠ THÀNH ĐỒ BÀN

Mời xem


Lịch sử vùng đất Nam đèo Cù Mông sau trận hạ thành Đồ Bàn năm 1471 không rõ ràng gì vì chính sử là sách ĐạiViệt SửKý ToànThư(ĐVSK) do chính triều Lê biên soạn viết đoạn kết thúc trận đánh và sau đó quá vắn tắt: “Năm 1471 tháng 3, mồng một  hạ thành bắt sống 3 vạn, chém 4 vạn, mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu nộp cống được phong vương. Phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước để dễ ràng buộc. Mồng 7 lấy người đầu hàng Ba Thái, Ba Thủy làm Đồng Tri Châu và ThiêmTri Châu đất Thái Chiêm. Ngày 11 lấy Đỗ Tử Qúi làm Đồng Tri Châu Thái Chiêm quân dân sự, Lê Đà làn Cổ Lũy tri châu quân dân. Ngày 15 viết chiếu thắng trận. Tháng 4 dừng ở Nghệ An. Tháng 5 mừng thắng trận. Tháng 6 đặt thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Tháng 11 Ngày mồng 8, lại đi đánh Chiêm Thành. Bắt được chúa nó là Trà Toại và bè lũ đem về kinh.”
Đến khi triều vua Nguyễn soạn sách KhâmĐịnh ViệtSử ThôngGiám CươngMục(KĐVS) thì mới biết thêm tên 3 phủ 9 huyện của thừa tuyên QuảngNam là gì. Nhưng chuyện đánh bắt em TràToàn sách này dẫn MinhSử để lộ sự mâu thuẫn với ViệtSử. ViệtSử nói trận đánh bắt em TràToàn xảy ra vào tháng 11-1471 còn MinhSử thì nói 3 năm sau mới đánh bắt. Mâu thuẫn đưa đến sự tồn nghi cần xét lại. Nay nhờ tiếp cận sách Minh ThựcLục(MTL) những tồn nghi được soi sáng thêm ra.
Trận đánh hạ thành ĐồBàn, bắt TràToàn thì hầu hết sử trong(ĐVSK, KĐVS) sử ngoài(MinhSử và MTL) mô tả rõ ràng và phù họp với nhau.
Ngày 27/5 năm TH7(15-6-1471) Minh ThựcLục(MTL) viết nói sứ thần QuáchĐìnhBảo, NguyễnĐìnhAnh của ĐạiViệt đến ThiênTriều tâu việc muốn đánh phạt ChiêmThành vì ChiêmThành quấy nhiễu ĐạiViệt.
KĐVS viết việc năm 1471, tháng 9 nói sai sứ sang nhà Minh. Sách dẫn Sách Bang giao bị lãm của GiápTrưng chép nói tháng 10 năm 1471, Lê Thánh Tông sai bọn Nguyễn ĐứcTrinh và PhạmMục sang báo cáo với nhà Minh, đại lược trong lời tâu nói: "Tháng 8 năm ngoái, vua nước ChiêmThành đem quân đánh úp đất HóaChâu nước tôi, tôi thân hành đem người trong nước đi cứu viện HóaChâu. Tháng 5 năm nay, vua ChiêmThành lại bắt hơn 10 vạn quân vây hãm tôi mấy trùng; trong lúc nguy cấp, tôi phải phá vòng vây để đón đánh lại. Người nước Chiêm vẫn oán giận họ, không còn có chí chiến đấu, cùng nhau người thì phản lại, người thì bỏ trốn. Quân tuần tiễu của tôi kéo đến quốc đô nước ấy, thì dân chúng nước ấy không giúp rập vua, nên người bỏ binh khí chạy trốn, người quay giáo đầu hàng, vua ChiêmThành đem quân đi về phương nam, tôi thấy thế, liền đem quân về nước giữ vững lảnh thổ cũ nước mình. Tôi trộm nghĩ: ChiêmThành xưa nay vẫn thù địch với nước tôi, nay lại đem quân đến đánh úp cướp bóc, tôi bất đắc dĩ phải mạn phép tập hợp binh sĩ để ứng phó, trong lúc vội vàng chỉ muốn gỡ mối lo nhiễu nhương ở nơi biên quận. Làm như thế, cũng e rằng trái với lời ân cần răn bảo của bậc thánh minh, tôi rất lấy làm lo sợ. Bây giờ việc tiến lui của tôi chỉ xin theo mệnh lệnh thiên triều định đoạt." MTL viết việc này(việc Nguyễn Đức Trinh đi sứ) vào năm sau, tức năm 1472
Ngày 21/5TH8(27-6-1472) MTL đăng lời tấu cấp báo của sứ LạcSa nước ChiêmThành: “Nước chúng tôi tiếp giáp với AnNam mấy lần bị nước này xâm đoạt. Mới đây vài người đến đòi sừng tê giác, ngà voi, đồ vật quí, lại đòi hỏi phải phụng sự người AnNam đưa đến nghi lễ giống như phụng sự sứ thần ThiênTriều. Nước chúng tôi nghĩ rằng đã cùng nước AnNam nhận lịch ChínhSóc của HoàngTriều nên không chịu khuất tuân theo vì lý do đó nên AnNam gây hấn. Vào tháng 2 TH7 quân AnNam đến đánh phá kinh thành bắt được quốc vương Bàn LaTràToàn cùng gia thuộc hơn 50 người, tịch thu ấn quí, phá hủy nhà cữa, cướp giết quân dân nam nữ nhiều không kể xiết. Nay em của vương là BànLaTràDuyệt tạm thời coi việc nước. Cúi xin phân xử.” Nội dung trận đánh bắt chúa TràToàn giống sử Việt. Có phải ĐVSK viết “bắt sống 3 vạn, chém 4 vạn” đúng như MTL viết “cướp giết quân dân nam nữ nhiều không kể xiết”? Và nội dung khác cũng rất trùng hợp không ngờ. MTL để lộ hai nước có lời qua tiếng lại sau trận đánh bắt này. Có điều tên gọi em của TràToàn thì sử Ta, sử Tàu gọi khác nhau.
Tên của em Trà Toàn. SửViệt gọi em TràToàn là TràToại. MinhSử và MTL gọi là BànLaTràDuyệt. KĐVS đính chính TràDuyệt là TràToại. Viết việc năm 1471 phần cẩn án, KĐVS viết: "Trà Duyệt chết bèn truyền ngôi cho em hắn là TràToàn", nay Minh sử lại chép "AnNam đã bắt TràToàn, hơn 3 năm sau lại bắt em nó là TràDuyệt." Như thế thì chữ "TràDuyệt" có lẽ là "TràToại" mà chép lầm đi.” Viết việc năm 1469, ĐVSK viết “Trước đó, người ChiêmThành ở ThiNại BànLaTràDuyệt là con người vú nuôi, giết chúa hắn là BíĐiền mà cướp lấy nước, rồi truyền cho người em là TràToàn.
Ngày 13/9 TH4(27-9-1460), MTL thực lục viết nói MaHa BànLaDuyệt nối nghiệp quản lý việc nước, chưa được 4 năm đã vội mất. Người em là BànLaTràToàn được nhà Minh phong vương. Vậy Duyệt là anh của Toàn. Kết luận em Toàn là Toại.
TràDuyệt là người dân dã phố phường ở ThịNại, con của người vú nuôi giết chúa đoạt ngôi, không thuộc dòng vua NamBàn chính thống ở kinh đô.
Văn cảnh suốt đoạn Minh ThựcLục thực lục về sự cố tiếp theo trận hạ thành ĐồBàn cho ta nhận ra người của triều TràToàn còn sống sót tên là BànLaTràDuyệt tiếp tục lo việc nước này là em TràToàn mà sử Việt gọi là TràToại.
 Trận đánh bắt em TràToàn là TrToại. Viết việc năm 1471, KĐVS viết việc này rõ hơn ĐVSK nhưng vẫn giữ thời điểm đánh bắt em Trà Toàn vào tháng 11 năm 1471 như sử cũ. Phần Cương viết: “Tháng 11, mùa đông. TràToại nước Chiêm Thành, làm phản. Nhà vua sai LêNiệm, bình chương tướng quân, đi đánh, dẹp yên được.” Phần Mục giải thích rõ thêm: “Trước đây, chúa ChiêmThành là TràToàn đã bị bắt, em hắn là BànLaTràToại trốn vào trong núi, sai sứ đem việc trong nước bị hoạn nạn báo cáo với nhà Minh và xin nhà Minh phong vương cho, thống lĩnh ba vạn quân đi đánh, bắt TràToại và bộ lạc đưa về kinh sư. ĐVSK viết nói là “Bắt được chúa nó là TràToại.”Sách này công nhận TràToại là chúa của Chiêm Thành, chúa thứ 2 sau TràToàn.
KĐVS viết việc năm 1471, phần cẩn án dẫn MinhSử viết Truyện AnNam nói “Thành Hòa thứ 7 Lê vương đánh TràToàn. Hơn 3 năm sau đánh TràDuyệt  rồi đổi nước ấy làm NamChâu, đặt quân đồn thú”.
Sách này dẫn Truyện ChiêmThành viết: “ThànhHòa thứ 5  AnNam đòi ChiêmThành nộp tê tượng của báu cung phụng lễ nghi như ThiênTriều. ChiêmThành không theo. Đem đại binh đánh dẹp. Đến năm thứ 7 phá được nước ChiêmThành, bắt vua là TràToàn, chiếm đất đai. Em vua nước ấy là BànLaTràDuyệt chạy vào trong núi, sai sứ báo cáo nạn nước. ThànhHòa thứ 10. AnNam lập cháu vua trước tên TếÁ MaPhấtYêm làm vua, lấy cho đất phía Nam.” Tức là 3 năm sau khi hạ thành(1474)  mới đánh bắt em TràToàn rồi lập vua TếÁ MaPhấtYêm. 
 NguyễnThông trong ViệtSử ThôngGiám CươngMục KhảoLược(VSTGCMKL) cũng viết tương tự: TH7(1471)  An Nam đánh ChiêmThành. Em nước ấy cho sứ sang TQ cáo nạn. TH8(1472) sai sứ cầm cờ tiết sang phong cho em vua.  Sứ gỉa đến cảng TânChâu người giữ cữa biển kháng cự, sứ giả biết nước đã bị chiếm cứ, đổi gọi là châu NamGiao. NguyễnThông viết sai năm. MTL viết việc sứ thần TrầnTuấn không vào được cảng để phong vương cho em TràToàn vào năm 1475. Như vậy có trận đánh thứ 2 bắt chúa thứ 2 là TràToại của ChiêmThành vào thời điểm 3 năm sau trận hạ thành ĐồBàn bắt chúa thứ nhất là TràToàn.
Sử cũ ĐVSK lờ đi trận đánh bắt thứ 2; viết vắn tắt và gộp trận đánh bắt em TràToàn là TràToại vào sự kiện năm 1471 đánh bắt TràToàn; gộp việc phong vương 3 nước NamBàn, HoaAnh, nước của BồTrìTrì cũng vào thời điểm năm 1471; việc đặt ra thừa tuyên QuảngNam  cũng gộp vào thời điểm năm 1471. Mãi tới năm 1488 đất Quảng mới yên lo chuyện học hành. Năm 1488, tháng 10 ở thừa tuyên QuảngNam cho con trai 15 tuổi trở lên tuấn tú ham học được lựa chọn cho vào sinh đồ của bản phủ để dạy bảo(ĐVSK). Tháng 4 năm 1490 chia nước làm 13 xứ. Lấy đất QuảngNam làm thừa tuyên thứ 13, đặt 3 ty Đô, Thừa, Hiến(KĐVS). Tất cả làm cho sử hậu trận hạ thành ĐồBàn trở nên mù mịt rối rắm gây nhiều hiểu lầm. Sự việc giống như LiệtTruyện TiềnBiên gộp chuyện cả đời người của ông LươngVănChánh vào 1 đoạn văn vắt tắt sinh ra những tồn nghi về thân thế sự nghiệp của danh nhân này. Đoạn sử mù mịt rối rắm gây nhiều hiểu lầm. Nhiều tác giả đời sau chủ quan thêu dệt nên nhiều sự việc trở nên huyền thoại ví dụ chuyện “ThạchBiSơn”. Mời vào link xem thiên hạ nói về cái bia phân ranh biên thùy Chiêm Việt: http://ongtam2013.blogspot.com/2013/12/thach-bi-son-huyen-thoai.html 

CÁC TRIỀU VƯƠNG. Đọc Minh Thực Lục(MTL) sẽ thấy sự kiện lịch sử hậu trận hạ thành Đồ Bàn diễn ra tuần tự và thấy rất rõ ràng các triều vua Chiêm tiếp theo sau trận hạ thành.
Các triều vua Chiêm trước trận hạ thành Đồ Bàn(Vijaya).Triều vương thứ 13(1390-1458) theo Wikipedia bắt đầu từ La Ngải, bại tướng của ChếBồngNga, lui về nước lập ra triều đại; BaĐịchLại còn có tên là Jaya Sinhavarman V;  Maha Vijaya hay Maha Bi Ca(1441-1446); Maha QúiLai(1446-1449); MaHa Qúi MaDo(1449-1458).
Triều vương thứ 14 là triều TràDuyệt, TràToàn. ĐạiViệt không công nhận triều vương này là triều ChiêmThành chính thống, triêù do người dân dã ở ThịNại lật đổ vua triều trước mà lập ra. TràDuyệt giết QúiDo, tự lập làm vua rồi truyền ngôi cho em là TràToàn(KĐVS).
ChiêmThành lập quốc từ 2 tộc Cau và Dừa thường gọi là NamChiêmThành và BắcChiêmThành. Trong lịch sử của họ ta thấy khi thì NamChiêmThành(Panduranga) họp nhất với BắcChiêmThành(Vijaya), khi thì phân li ra. Có nhiều bằng chứng cho thấy triều TràDuyệt-TràToàn thuộc bộ tộc NamChiêmThành. Triều vương thứ 13 lập quốc đóng đô ở ĐồBàn(Vijaya) được nhiều sử gia gọi là triều vua NamBàn thuộc dòng giống BắcChiêmThành.
Triều TràToại, em Trà Toàn(1471-1474).  Nhận biết qua Minh Thực Lục thực lục việc thông sứ của “triều”này với nhà Minh như sau đây:
 Thực lục ngày 21/5TH8(27-6-1472) đăng lời sứ LạcSa của ChiêmThành đến cấp báo AnNam đánh ChiêmThành. Lời cấp báo có đoạn: “Vào tháng 2 TH7 quân AnNam đến đánh phá kinh thành bắt được quốc vương BànLa TràToàn cùng gia thuộc… Nay em của vương là BànLa TràDuyệt tạm thời coi việc nước. Cúi xin phân xử.” Người sống sót sau trận hạ thành là em của vương nước này tiếp tục coi việc nước và xin nhà Minh phân xử. Tức đường truyền ngôi còn tiếp tục.
Thực lục viết tiếp nói thượng thư bộ Binh triều Minh tấu lên nói năm TH7 AnNam tâu ChiêmThành vượt biên giới xâm lăng. Cần ngăn cản sự tàn ngược. Bọn thần ở bộ Binh tâu rằng LêHạo(Lê Thánh Tôn) có âm mưu thôn tính ChiêmThành. Họ nói AnNam mấy lần đánh phá ChiêmThành, bắt vua nước này nên không có cách xử trí thì mất lòng qui phụ của ChiêmThành, dung dưỡng kẻ ngang ngạnh. Nên sai quan mang sắc dụ, bắt phải trả lại ấn tín, quốc vương cùng gia quyến bị bắt.
Thực lục đăng chỉ dụ phán “Bắt phải sai quan đi, đợi sứ thần AnNam đến sẽ trao sắc dụ.
Thực lục ngày 22/6 TH8(27-7-1472) viết nói phong cho BànLa TràDuyệt, em cố quốc vương BànLa TràToàn kế lập chức quốc vương ChiêmThành. Thực lục viết nói BànLa TràToàn bị AnNam bắt, ấn tín bị lấy mất. Nay em là BànLa TràDuyệt tạm thời trông coi việc nước tâu xin phong tước, cấp ấn tín. BộLễ tâu xin theo lệ sai quan đến phong thế tử MaHa BiCai (BíCai là triêu trước) để làm vẻ vang cho lời xin. Được chấp nhận, Hữu cấp sự trung khoa Công TrầnLăng, hành nhân LýSang thuộc ty HànhNhân đến phong.
Thực lục ngày 5/9 TH8(6-10-1472) viết nói sứ thần LạiSaLộng ChiêmThành đến cống.
Thực lục ngày 6/9 TH8(7-10-1472) viết nói Bồi thần BùiViếtLương AnNam đến cống.
Thực lục ngày 13/9TH8(14-10-1472) viết nói sắc dụ LêHạo chớ xâm vượt lãnh thổ ChiêmThành. Hạo sai NguyễnĐứcTrinh dâng thư tự trình bày nói ChiêmThành xâm lấn HóaChâu. Gởi binh tiếp viện. ChiêmThành làm phản nên bị thua. Thực lục viết tiếp nói HoàngThượng sai ĐứcTrinh mang sắc dụ LêHạo. Dụ nói là ChiêmThành tâu tháng 2 TH7 Hạo đánh phá bắt quốc vương thân thuộc hơn 50 người, cướp ấn, đốt nhà cữa, giết người già trẻ em không kể xiết. HoàngĐế cho rằng lời riêng không tin được. Nay nhân được tâu, lời ý đều khác. Dụ có đoạn: “nhưng nước  vương với ChiêmThành thế lực lớn nhỏ không cần phải biện thuyết. Nếu bọn họ gây hấn trước, thì thật không biết độ đức lượng sức nên gây ra sự bất nghĩa; nếu vương vin vào việc họ quấy phá nhỏ, rồi giận lên hiếp kẻ yếu gây hấn lớn thì hợp với dạo nghĩa ư! Khi sắc đến  vương nên bỏ qua những mất mát nhỏ tăng điều đại nghĩa, trả lại những người bị bắt, răn đe quan lại nơi biên giới đừng sinh sự lập công, hưng binh gây oán hoặc chyên việc báo thù gây nên sự đau buồn, ngỏ hầu trời soi sáng, vĩnh viễn hưởng danh thơm. Khâm thử!”
Ta nhận biết được triều vương này, triều TràToại, chấm dứt nhờ đoạn thực lục sau đây: Thực lục ngày 14/12TH10(21-1-1475) viết: “Hữu cấp sự trung khoa Công TrầnTuấn đi sứ ChiêmThành không vào được, bèn nạp trở lại thứ đã mang đi như chiếu  sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa đoạn. Bọn Tuấn đi sứ ChiêmThành để phong cho quốc vương BànLa TràDuyệt, khi hàng hải đến cảng TânChâu ChiêmThành, quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch cho biết đất này đã bị AnNam chiếm còn quốc vương ChiêmThành tị nạn tại LinhSơn. Khi đến LinhSơn thì được biết cả nhà BànLa TràDuyệt bị AnNam bắt và đất ChiêmThành đổi tên thành châu NamGiao. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân nên giả lấy cớ bị gió bão rồi đi tiếp đến MãnLạtGia(MãLai) buôn bán, lại dụ vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc AnNam chiếm cứ ChiêmThành , cùng việc quốc vương MãnLạtGia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ.” Lần trước vào năm 1472, Hữu cấp sự trung khoa Công TrầnLăng, hành nhân LýSang thuộc ty HànhNhân đến phong không biết có vào được trong nước Chiêm Thành hay là không? Ghi chú số 1997 của ĐVSK bảng điện tử nói LạtGia là MãnLạtGia, tức Malacca.
 Thực lục viết tiếp nói việc được đưa xuống cơ quan hữu trách. BộLễ tâu nói nên đợi sứ MãnLạtGia nhập cống. Lúc trở về giáng sắc khen thưởng vương nước này. BộBinh tâu nói AnNam cậy mạnh thôn tính nước được triều đình phong tước. Việc quan hệ không nhỏ. Nên bàn luận rộng rãi. Bọn Anh quốc công TrươngMậu tâu hài tội thảo phạt. nhưng có lời bàn nói nay chưa biết được nguyên do ChiêmThành diệt vong, không nên kinh động. Chờ năm sau vào kỳ AnNam triều cống.
Đọc đến đây thì ta thấy KĐVS dẫn MinhSử nói theo truyện AnNam thì năm TH7 Lê vương đánh TràToàn. Hơn 3 năm sau đánh TràDuyệt rồi đổi nước ấy làm NamChâu, đặt quân đồn thú. Té ra đúng là như vậy! 3 năm sau tức vào năm 1474, trước năm 1475 là năm sứ TrầnTuấn không vào cảng TânChâu đuwọc. Sử nước ngoài chép đúng hơn sử Ta. ĐVSK thì muốn dấu sự kiện, chỉ viết vắn tắt:  “Tháng 11 Ngày mồng 8, lại đi đánh ChiêmThành. Bắt được chúa nó là TràToại và bè lũ đem về kinh” và lại gộp nó vào sự kiện đánh bắt TràToàn xảy ra năm 1471 làm cho đoạn sử này tối nghĩa khó hiểu. KĐVS phần Cương sách vẫn giữ móc thời điểm trận đánh là tháng 11 năm 1471 như sử cũ. Nhưng phần Mục có đoạn:  “em hắn là BànLa TràToại trốn vào trong núi, sai sứ đem việc trong nước bị hoạn nạn báo cáo với nhà Minh và xin nhà Minh phong vương cho, thống lĩnh ba vạn quân đi đánh, bắt TràToại. Xử dụng đến 3 vạn quân là đánh lớn đấy! Trận đánh phải xảy ra 3 năm sau thì họp lý  hơn. Triều TràToại tồn tại 3 năm sau.
Còn về đất đai thì triều này đóng ở đâu? Câu trả lời là chính ở tại đất ĐồBàn, Vijaya. HoàngXuânHãng tầm nguyên từ “Đồ Bàn” cho “Đồ Bàn” do từ “Vijaya”mà ra. Vijaya biến thể thành từ “Phú Đa Gia” hay “Phú Đa”.
Các sách sử đều nói là em TràToàn trốn trong núi đem việc trong nước hoạn nạn bá cáo nhà Minh nhưng không nói rõ là núi nào. Ở đây sứ TrầnTuấn nói núi đó có tên là LinhSơn.
Thực lục ngày 21-1-1475 nói về sứ thần TrầnCôngTuấn đến cảng TânChâu bị chận không vào được có đoạn: “Người thông dịch cho biết đất này đã bị AnNam chiếm còn quốc vương ChiêmThành tị nạn tại LinhSơn”. Thực lục ngày 18-10-1481 có đoạn sứ của CổLai tâu: “Em vương là BànLa TràDuyệt trốn chạy đến PhậtLinhSơn.” Vậy LinhSơn ở đâu?
Tra sách HồngĐức BảnĐồ thấy ở phần bản đồ của ThiênNam TứChí LộĐồThư(TNTCLĐT) thấy có địa danh “Phật Tĩnh”, “Phật Tĩnh Sơn” ở phía Nam con sông thứ 3 tên là “Thiển Giang” và ở Nam “Chà Bàn Cổ Thành.” Thành Chà Bàn lại ở phía Nam con sông thứ nhất ở về phía Bắc tên là “Phú Đa giang.” 3 con sông đó đổ ra cữa “Nước Mặn hải môn” Ngoài khơi cữa có 2 hòn núi. Phần ghi chú của TNTCLĐT viết nói ở địa phận xã Phú Đa, có thành ChàBàn…Ở phía ngoài cữa NướcMặn hải môn có 2 hòn núi gần nhau gọi là RổĐó và Ông KhổngLộ. Phần lộ đồ sách ghi: “Túc tháp Con Gái, thực thì Nước Mặn, túc Phật Tĩnh quán, thực thì QuánLễ. Có nghĩa là ở thì ở Tháp ConGái, ăn thì ở NướcMặn, ở PhậtTĩnh quán, ăn thì ở quán Lễ.” Xem như vậy thì địa danh PhậtTĩnh là địa điểm quan trọng trên con đường ThiênLý xuyên ĐạiViệt ở địa phương này.
Ở sách GiápNgọ BìnhNamĐồ(GNBNĐ), PhậtTĩnhSơn được vẽ to ra; trên đó ghi chú 7 chữ “tự” chỉ 7 ngôi chùa và 1 cái gì gọi là “ThạchTĩnh.” GNBNĐ ghi chú thêm cữa ThịNại hải môn ở phía Nam cữa NướcMặn hải môn thâm. Xem như thế thì PhậtTĩnhSơn là trung tâm tôn giáo linh thiêng ở bên cạnh kinh đô ĐồBàn giống như thánh địa MỹSơn ở cạnh kinh đô ĐồngDương ở QuảngNam.
Gỉa thuyết đưa ra là “Phật Tĩnh”, “Phật Tĩnh Sơn” trước kia là LinhSơn,  Phật Linh Sơn. Sau khi thành bị phá tàn quân của em vua tụ về đây lánh nạn rồi đưa sứ giả đến bá cáo triều Minh.
Có thể tin em vua vẫn còn ở Vijaya lý do vì ĐạiViệt chỉ đặt quan cai trị ở ĐạiChiêm mà ĐVSK gọi là Thái Chiêm và ở CổLũy(xem đoạn trích ĐVSK trên đây). Hai xứ này 1 thời ChiêmThành lấy lại từ tay cha con HồQúiLy. Nay vua Lê Thánh Tông mới vừa chiếm lại. Còn đặt quan cai trị ở ĐồBàn không thấy ĐVSK nói đến.
Gỉa thuyết nói em vua còn ở Vijaya được củng cố bỡi chứng cứ là còn tồn tại việc thông sứ bộ 3 Minh-Chiêm-Việt: Ngày 21/5TH8(27-6-1472 sứ LạcSa đến triều Minh cấp báo AnNam xâm lấn ChiêmThành. Đình thần họp bàn nên sai quan đi và đợi sứ AnNam đến sẽ trao sắc dụ. Ngày 22/6 TH8(27-7-1472) phong cho Bàn LaTràDuyệt kế lập chức quốc vương ChiêmThành. Hữu cấp sự trung khoa Công TrầnLăng, hành nhân LýSang thuộc ty HànhNhân đến phong nhưng thực lục không nói là có vào được trong nước hay là không. Ngày 5/9 TH8(6-10-1472) sứ Chiêm LạiSaLộng đến cống. Ngày 6/9 TH8(7-10-1472) sứ AnNam BùiViếtLương đến cống. Ngày 13/9TH8(14-10-1472) LêHạo sai NguyễnĐứcTrinh dâng thư tự trình bày lý do phạt Chiêm. HoàngThượng sắc dụ LêHạo chớ xâm vượt lãnh thổ ChiêmThành, sai NguyễnĐứcTrinh mang dụ về nước.  Triều Minh mãi tới năm 1475 mới sai Trần Tuấn mang chiếu sắc, ấn đi phong nhưng không vào cảng TânChâu được vì em vua bị bắt và nước bị chiếm.
Một chứng cứ nữa cho thấy sau khi hạ thành, người Chiêm vẫn còn làm chủ được đất ĐồBàn. Viết việc năm 1471 ĐVSK có đoạn: “Trà Toàn sai em là ThịNại và 6 viên đại thần đem 5.000 quân và voi, ngầm đến sát dinh vua… Tướng giặc trông thấy ngự doanh thì tan vỡ, giày xéo lẫn nhau chạy về ChàBàn…TràToàn nghe tin em mình thua chạy, rất sợ hãi, sai người thân tín mang biểu tới xin hàng.” Như vậy em TràToàn ở vòng ngoài chạy thóat được với lực lượng 5.000 quân và voi cùng với 6 viên đại thần. Sau này ĐạiViệt phải dùng tới đến 3 vạn quân để đánh bắt. Việc tàn quân làm chủ được ĐồBàn 1 thời gian có thể tin được.
Bằng chứng cuối cùng là năm 1473 sứ TrầnTuấn cập cảng TânChâu để phong vương cho TràToại chứng tỏ nhà Minh tin tưởng TràToại còn đang ở Vijaya.
CảngTânChâu: Viết việc năm 1446, KĐVS dẫn Minh Sử: “Minh sử chép: "Tuấn sai tướng đi xâm lấn ChiêmThành, cướp lấy TânChâu cảng, bắt sống vua Chiêm là Ma HaBíCai đem về”. Tuấn là vua LêNhân Tông. TạChí ĐạiTrường dẫn Nguyên sử mô tả ChiêmThành cảng trong trận ToaĐô đánh ChiêmThành: “Cữa cảng phía Bắc liền với biển. Bên cạnh có 5 cảng nhỏ thông với ĐạiChâu của nước ấy. Phía ĐôngNam có núi ngăn. Phía Tây có thành Gỗ.”  Thành Gỗ là thành ThịNại. Như vậy năm 1475 sứ giả TrầnTuấn bị người gác cảng không cho vào thì có thể người của họ dùng cữa ThịNại(cữa Qui Nhơn lúc đó cạn hơn cữa NướcMặn gọi là NướcMặn hải môn thâm) mà vào rồi theo 1 trong 5 cảng nhỏ để lên PhậtLinhSơn hỏi thăm tông tích em của vua Chiêm.
ChiêmThành cảng là cữa khẩu quốc tế buôn bán đông đảo nhộn nhịp. Năm 1303 ĐoànNhữHài đi sứ Chiêm lấy cớ lạy chiếu thư của vua ĐạiViệt để có cớ không lạy chúa Chiêm. Hôm sau NhữHài treo bảng cấm buôn bán ở cảng TìNi. Tuyên đọc xong thì treo bảng lên. NhữHài biết người Chiêm trong lòng không qui phục người Việt nên sẽ vứt bỏ bảng cấm. NhữHài dặn người gác cảng lấy bảng cấm cất đi khi sứ trở về nước lấy cớ vì nơi đây là bến tầu xung yếu buôn bán phức tạp. Cảng TìNi còn gọi là cảng ThìLị BìNại tức là Sri Vinaya. Năm 1475, TrầnTuấn giả danh thương nhân bị gió bão ghé vào đây rồi tiếp đi thẳng xuống MãnLạtGia(Malacca) buôn bán.
Triều Trai Á Ma Phất Am(1477-1481). ĐVSK viết vắn tắt và viết gộp sự kiên nên gây hiểu sai.  ĐVSK viết việc năm 1471 viết: “Năm 1471 tháng 3… mồng 2 đem quân về, BồTrìTrì chạy về PhanLung xưng thần chịu nộp cống được phong vương. Phong vương cho HoaAnh và NamBàn thành 3 nước để dễ ràng buộc.” Đến năm 1488, tức 13 năm sau trận đánh bắt TràToại, KĐVS dẫn Minh sử mới viết việc vua TraiÁ MaPhấtYêm và CổLai nhân việc viết tháng 12 sai sứ sang cống nhà Minh. KĐVS viết tiếp nói nước ChiêmThành sau khi bị phá. CổLai đem gia quyến sang nhà Minh bá cáo nạn nước. HiếnTông nhà Minh sai quân đưa CổLai về nước lập làm quốc vương, đưa hịch dụ bảo vua Lê. Nay sai sứ sang nhà Minh. Trong phái bộ có HoàngBáDương báo cáo ChiêmThành quấy nhiễu ở biên giới. KĐVS viết tiếp dẫn Minh sử, truyện ChiêmThành, nói ThànhHòa 17(1481), CổLai sai sứ sang nhà Minh nói nước bị AnNam đánh phá. CổLai cùng Anh là TraiÁ MaPhấtYêm phải lẩn trốn trong hang núi. Sau AnNam sợ oai trời tìm được anh ông để trả đất cũ. Chưa bao lâu anh ông chết sớm. Ông đáng được làm vương nhưng không dám tự chuyên. Ông xin ban ấn sắc, xin dụ GiaoChâu trả lại hết đất hơn 3.500 dặm. KĐVS viết tiếp. TH20(1484) vua Minh sai LýMạnhDương và DiệpỨng đi phong. Dương và Ứng nói ChiêmThành hiểm trở xa xăm mà AnNam vẫn gây việc binh đao chẳng thôi. Hiện ĐềBàĐài vụng trộm chiếm cứ đất đai. Nếu việc đi phong có chút nào không tiện lợi thì tốn hại uy danh nước TQ; nên sai sứ thần dụ CổLai sang QuảngĐông nhận sách phong và sắc lệnh cho AnNam ăn năn hối lỗi. Vua Minh nghe lời. CổLai đem gia quyến đến NhaiChâu. MạnhDương làm xong việc sắc phong rồi về. CổLai lại muốn thân đến cữa khuyết tâu bày. Đình thần bàn sai 1 đại thần đến an ủi CổLai, dụ bảo AnNam đón CổLai về nước. Vua Minh đồng ý sai ĐồDung sang QuảngĐông và đưa tờ hịch sang AnNam, rồi mộ 2000 quân mạnh khỏe đi trên 20 chiếc thuyền vượt biển hộ vệ CổLai về nước. AnNam không dám kháng cự. CổLai mới được vào trong nước(xem MinhThựcLục thực lục ngày 29.10.1487).
Ta nhận ra triều này và các triều kế tiếp nhờ sách Minh Thực Lục, đăng việc nước ChiêmThành thông sứ với triều Minh và nhờ các lời tấu, lời bàn ở trong quá  trình thông sứ đó. Sự việc diễn biến ngay từ năm 1478, 3 năm sau TràToại bị bắt và diễn biến tới năm 1543. Sự việc trải qua từ triều LêThánhTông đến thời ĐạiViệt rơi vào nội chiến giữa triều MạcPhúcHải  và triều Lê Trung Hưng-Trịnh Kiểm. Mời theo dõi sách Minh ThựcLục(MTL) thực lục:
Ngày 30/7TH14(27-8-1478) MTL thực lục viết: ”Quốc vương Chiêm Thành sai người chú Ba La Á Đệ cùng bọn sứ thần LaTử đến dâng biểu viết trên vàng lá và triều cống sản vật địa phương.” Việc thông sứ này xảy ra sau năm 1475 là năm TrầnTuấn đi sứ ChiêmThành tâu nói không vào được cảng TânChâu để phong cho quốc vương BànLa TràDuyệt. Tuấn biết cả nhà BànLa TràDuyệt bị bắt và đất này đã bị AnNam chiếm đổi tên thành châu NamGiao.
Ngày 6/8TH14(2-9-1478) thực lục viết: ”sai Cấp sự trung khoa Lễ PhùngNghĩa, hành nhân Trương Cẩn mang chiếu chỉ phong cho TếÁ MaVậtAm  làm quốc vương ChiêmThành . TếÁ MaVậtAm sai người tâu rằng người AnNam trả lại một cõi đất phía Nam(Đất NamCùMông?) để cai quản và làm chủ nước này nhưng sợ uy trời không dám tự tiện chủ trì, bèn sai sứ tâu trình và xin phong. Bỡi vậy mới có mệnh này. Việc này phù họp với thực lục ngày 27-8-1478 nói có người chú BaLa ÁĐệ của vua Chiêm cùng bọn sứ thần LaTử đến triều cống.
Ngày 9/5TH15(29-5-1479) thực lục viết: ”Tá phó ty hành nhân TrươngCấn mang chiếu thư đến phong cho quốc vương ChiêmThành. Qua huyện ThanhGiang, GiangTây gặp sóng gió phá hư thuyền, chiếu thư và đồ vật đều bị hư ướt. Quan thủ thần trình lên. BộLễ tâu bàn rằng “Chiếu thư và lễ vật nên thay mới, riêng sai hành nhân đưa đến cho Cẩn; những vật khác không cần lấy ra từ kho trong triều, lệnh ty BốChính QuảngĐông cho chế ra giống y như vậy. Lại bảo rằng “tờ tấu không có tên họ viên chánh sứ; lệnh tuần án GiangTây, ngự sử xét sự thực trình lên” HoàngThượng chấp nhận  ”
Ngày 26-9/TH17(18-10-1481). Thực lục viết nói chiếu dụ LêHạo trả lại đất cho ChiêmThành. Bấy giờ CổLai nước Chiêm Thành sai sứ tâu: “Vào tháng tư năm ThiênThuận thứ 5 GiaoChỉ hưng binh xâm lăng nước thần, bắt quốc vương, phá thành trì, cướp ấn quí rồi đi. Em vương là BànLa TràDuyệt trốn chạy đến PhậtLinhSơn. Vào năm ThànhHòa thứ 6 tấu xin ấn và thỉnh phong. Thiên sứ đến nơi nhưng trước đó BànLa TràDuyệt đã bị GiaoChỉ bắt. Thần cùng anh là TềÁ MaPhấtAm trốn trong rừng; sau đó người Giao sợ ThiênTriều, tự sai người tìm kiếm  con cháu người nước thần, cho trở về đất cũ. Giới hạn từ quốc đô tới Chiêm Lạp gồm 5 xứ, lập TềÁ MaVậtAm làm vương. Chẳng bao lâu TềÁ MaVậtAm chết, nay thần đang tạm giữ chức nhưng không dám tự tiện; thỉnh cầu triều đình sai Thiên sứ mang ấn quí đến, phong chức vương. Xin dụ người Giao trả toàn lãnh thổ nước thần gồm 27 xứ gồm 4 phủ, một châu, 22 huyện; phía Đông tới biển Đông, phía Nam tới Chiêm Lạp, phía Tây tới núi Lê Nhân, phía Bắc tới A Mộc Thử Bô gồm hơn 3.500 dặm, ngưỡng ơn Thiên Tử vì tiểu quốc chủ trì việc này.”Sách dịch chú giải nói sứ Chiêm sai lầm năm tháng. Dẫn Toàn Thư nói việc đánh bắt trà Toàn vào năm TH7(1471) không phải ThiênThuận 5. Dẫn Minh Thực Lục thực lục đề ngày 27-6-1472 cũng nói việc đánh bắt TràToàn vào năm TH7. Việc sứ đến phong không được xảy ra năm TH10(1475) không phải TH6(1470). Thực lục viết tiếp nói hội các quan bàn định. Thượng thư bộ Lại DuẫnMân bàn:”ChiêmThành bị AnNam xâm đoạt đã lâu, triều đình thường răn dụ, AnNam chỉ trả lại 5 xứ. Nay CổLai không ngại xa xôi đến tố cáo , nếu không chấp nhận lời xin, thì không có gì an ủi người xa xôi có lòng ngưỡng vọng. Nên sai 2 cận thần có uy vọng, giỏi về văn từ lý lẽ, đi sứ AnNam , dụ vương nước này trả lại đất cũ của ChiêmThành” Thực lục viết tiếp: “Chiếu dụ rằng không cần sai quan đi. Vừa lúc sứ thần AnNam trở về, bèn sắc dụ Hạo.” Dụ rằng: “Trẫm phụng mệnh trời, coi dân như con, suốt biển trong ngoài đều đối xử chung một lòng nhân. Mà các ngươi AnNam và ChiêmThành thời Tần Hán trở xuống đều là quận huyện của TrungQuốc; cũng không quá xa kinh đô. Mới đây ChiêmThành tố cáo ngươi hưng binh bắt sống quốc vương nước này, giết nhân dân, đoạt thành trì đất đai. Trẫm động lòng trắc ẩn, hai lần xuống chiếu lệnh ngươi trả lại những thứ đã lấy  để hợp với nghĩa lớn. Ngươi tâu rằng số đàn ông đàn bà bị bắt đã trở về, lại nói lãnh thổ đã yên, há lại có việc xâm tranh. Trẫm tin lời ngươi, không nghi ngờ. Nay CổLai sai người đến thỉnh phong, hỏi lý do mới biết rằng đất này bị nước ngươi chiếm cứ, số lượng trả lại chỉ bằng 1/5. Xét việc này thì ra ngươi âm mưu thôn tính nhưng bề ngoài nói rằng hòa mục lân bang, thực hiện việc đại nghĩa; phải như vậy chăng? Trẫm sở dĩ một mực sắc dụ ngươi, không phải có ý tư vị Chiêm Thành; muốn ngươi thể theo trẫm, đối xử cùng một lòng nhân, hòa mục lân bang, thương xót nhân dân, đó là phúc cho 2 nước. Nếu không thèm nghe, không thèm biết, há không xem đến việc đời trước ChiêmThành phục thù nước ngươi ư! Hãy soi kỹ việc này, những người già cả tại nước ngươi chắc còn nhớ điều đó, đáng xét và suy nghĩ. Người xưa nói rằng một nước có đạo lý cậy đức chứ không cậy sức. Người từ khi thụ phong đến nay không chỉ xâm đoạt ChiêmThành, mới đây giết sứ thần tiến cống của MãnLạtGia, xâm đen bọn tùy tùng bắt làm nô bộc; gây oán với lân quốc; họ không tố đến nơi, ngươi tự cho là phúc đấy ư! Phàm sợ trời giữ nước, sợ kẻ lớn thương người nhỏ; các bậc hiền triết đều làm, sao ngươi không lo làm việc đó. Khi sắc tới ngươi nên nghĩ đến việc đoàn kết, hữu nghị với lân quốc, trả hết đất đai cũ cho ChiêmThành, đời đời nối dõi, không đến nỗi tự tuyệt; không những sinh linh 2 nước không bị vướng vào họa binh đao, mà tiếng tốt của ngươi được để lại trong sử sách, con cháu mãi mãi hưởng ân trạch vô cùng. Hãy thực hành kỹ việc này, đừng để hối hận về sau.
Ngày 15/10TH17(6-11-1481) thực lục viết nói hành nhân TrươngCấn đi sứ Chiêm Thành mắc tội bị hạ ngục. Thực lục viết tiếp: “Trước đó Cấn cùng cấp sự PhùngNghĩa phụng mệnh mang sắc ấn phong vương cho cháu quốc vương Chiêm Thành TềÁ MaVậtAm. Bọn chúng mang nhiều hàng hóa để bán kiếm lời; khi đến QuảngĐông nghe TềÁ MaVậtAm chết, người em là CổLai sai bọn CápNaBa đến xin phong. Nghĩ rằng về không sẽ mất lời, bèn đi vội đến ChiêmThành. Người ChiêmThành cho biết sau khi người cháu xin phong bị CổLai giết. AnNam ban sắc ngụy lập ĐềBàĐài Gỉa nắm quyền quốc sự(Nước HoaAnh, tức đất NamCùMông?). Bọn Cấn không đợi mệnh của triều đình, mang ấn trao cho ĐềBàĐài Gia, phong làm vương. Bọn chúng được hối lộ hơn 100 lạng vàng, rồi đi qua MãnLạtGia bán hết hàng hóa để trở về. Nghĩa chết trên đường vượt biển. Cấn trình sự việc và nạp sắc ngụy(sắc ĐạiViệt lập ĐềBàĐài làm vua) lên triều đình. BộLễ hạc tội Cấn tự tiện phong tước; đáng tội hình, bèn ra lệnh giam tại vệ Cấm Y để điều tra, biết được lời khai như trên. Quan tòa kết vào tội đại thần tự tiện tuyển quan, xử chém. Lúc bấy giờ sứ giả ChiêmThành CápNaBa tại quán dịch bộ Lễ, trả lời qua thông dịch rằng CổLai chính là em của vương. TềÁ MaVậtAm chết vì bệnh không phải bị giết, người được gọi là ĐềBàĐài Gỉa thì không biết đó là ai. Bèn ra lệnh CápNaBa tạm trở về Quảng Đông. Lệnh quan chức địa phương lấy lễ ưu đãi. Đợi sứ tạ ơn của ĐềBàĐài Gỉa đến; thẩm xét phải trái rồi có cách đối xử riêng.”
13-10TH23(29-10-1487). Thực lục viết nói ĐồDung(DD) đến QuảngĐông phong  vương cho con quốc vương ChiêmThành CổLai tại QuảngĐông rồi hộ tống về nước và sắc cho AnNam trả đất.  Thực lục đăng sắc văn ban cho vua LêThánhTôn(LêHạo): “Mới đây được các quan coi giữ Quảng Đông tâu rằng con của quốc vương Chiêm Thành là Cổ Lai, tố cáo rằng nước này nguyên có 8 châu như Ban Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập…Vào năm Thành Hòa thứ 7 nước ngươi mang quân chiếm hết số đất  nêu trên. Vào năm Thành Hòa thứ 13, trả lại 4 châu 5 huyện trong đó có Bang Đô Lang, Mã Na Lý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế cho tên đầu mục phản phúc Đề Bà Đài. Sau đó lại ngầm ra lệnh Đề Bà Đài mang binh giết Cổ Lai; nên bị bộ hạ Cổ Lai giết chết. Bọn ngươi lại sai đầu mục mang quân bức phải trả mạng Đề Bà Đài. Vì lý do đó Cổ Lai quẩn bách, mang gia thuộc vượt biển từ xa đến tố cáo.”
Về thời gian trị vì và lãnh thổ: Đoạn thực lục ngày 29-10-1487 trong sắc văn của vua Minh trách cứ Lê Hạo cho ta biết thời điểm AnNam trả đất là năm TH13(1477). Đất trả lại gồm 4 châu 5 huyện trong đó có Bang Đô Lang, Mã Na Lý(đất NamBàn ở TâyNguyên?). Rồi AnNam đem 1 châu 3 huyện trong đó có Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế(đất NamCùMông?) cho tên đầu mục phản phúc ĐềBàĐài(người thân ĐạiViệt?).
Tới thời điểm này sứ thần TrươngCấn nhà Minh còn nhập cảnh được vào đất của vương quốc của TếÁ MaVậtAm(TAMVA) và ngụy vương ĐềBàĐài(ĐBĐ). Cảng TânChâu bị mất vào năm 1475. Vậy năm 1477 TAMVA và ĐBĐ ở đâu để sứ nhà Minh TrươngCấn năm 1481 vào làm lễ tấn phong và nhận hối lộ 100 lượng vàng? Đất ấy phải ở gần bờ biển. Gỉa thiết đưa ra là đất Nam đèo CùMông có các địa danh là Thành Hồ, BàiĐài, BàDiễn được biết đến vào thời ông LươngVănChánh làm quan ở huyện TuyViễn, phủ HoàiNhân năm 1596-97. Nếu các câu hỏi nêu ở trong ngoặc đơn nêu trên kia được trả lời là đúng thì ĐạiViệt chia làm 3 nước của BồTrìTrì ở PhanLung, nước HoaAnh và nước NamBàn vào năm Th13(1477) chứ không phài vào năm 1471 sau hạ thành ĐồBàn như ĐVSKTT viết “Năm 1471 tháng 3, mồng một  hạ thành bắt sống 3 vạn, chém 4 vạn, mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu nộp cống được phong vương. Phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước để dễ ràng buộc.”
Trở lại các đoạn thực lục trước đây để tìm hiểu: Thực lục ngày 6/8TH14(2-9-1478) có đoạn: “Tế Á Ma Vật Am sai người tâu rằng người An Nam trả lại một cõi đất phía Nam để cai quản và làm chủ nước này.” Một cõi đất phía Nam” có phải là đất BàĐài, BàDiễn, có cái ThànhHồ ở phía Nam đèo CùMông và đất TâyNguyên? Ngụy vương ĐềBàĐài Gỉa có phải lấy tên đất BàĐài làm tên hiệu cho vua HoaAnh? Ví dụ em Trà Toàn có tên là ThịNại. Viết việc năm 1471 ĐVSK có đoạn: “Trà Toàn sai em là ThịNại và 6 viên đại thần đem 5.000 quân và voi, ngầm đến sát dinh vua.“ ThịNai vừa là tên đất vừa là tên của em vua. Trong sử Chiêm thường có nhiều trường họp vua lấy tên đất làm tên hiệu.
Triều TAMVA tồn tại tới khoảng năm 1481. Thực lục ngày 21/9TH17(13-10-1481) có đoạn: ”Ngày Nhâm Thìn, Cổ Lai nước Chiêm Thành sai cháu vương là Cap Na Ba dâng biểu cống voi, cọp, sản vật địa phương, cùng thỉnh phong” Thực lục ngày 26-9/TH17(18-10-1481) viết nói chiếu dụ LêHạo trả lại đất cho ChiêmThành bỡi vì lúc bấy giờ CổLai sai sứ đến tố cáo. Trong lời tâu tố cáo có đoạn: “lập TềÁ MaVậtAm làm vương. Chẳng bao lâu TềÁ MaVậtAm chết, nay thần đang tạm giữ chức nhưng không dám tự tiện; thỉnh cầu triều đình sai Thiên sứ mang ấn quí đến, phong chức vương”. Nhưng khi TrươngCấn đến ChiêmThành, Cấn lại trao ấn cho ĐềBàĐài Gỉa nên bị hạ ngục(xem thực lục ngày 6-11-1481). Như vậy TAMVA chưa được phong thì chết. Tháng 10/1481 Cổ Lai xin phong. Tháng 11  TrươngCấn bị hạ ngục vì phong vương cho ĐBĐ. TAMVA trị vì được 4 năm(1477-1481). Về đất đai thì trước nước Chiêm gồm 8 châu, 25 huyện.  Trả cho TAMVA 4 châu 5 huyện. Đất thì bằng nhau(4 châu). dân thì rút còn 1/5(5/25). Tức lãnh thổ của TAMVA là vùng sâu vùng xa thưa dân?
Triều ĐềBàĐài do ĐạiViệt lập(1477-1486).  Tới bây giờ, năm 1477 mới là “thời đại” có 3 nước sinh ra làm thế chân vạc mà ĐVSK trong đoạn sử năm 1471 nói trên kia viết: Phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước để dễ ràng buộc.”Tức 6 năm sau trận hạ thành ĐồBàn và 4 năm sau TràToại bị bắt, cảng TânChâu bị mất.
Triều ĐềBàĐài được nhận ra nhờ các đoạn sách MTL thực lục sau đây:
Thực lục ngày 26-9/TH17(18-10-1481). CổLai sai sứ sang nhà Minh xin phong vương.
Thực lục ngày 15/10TH17(6-11-1481) thực lục viết nói sứ giả TrươngCấn bị phạt giam vào ngục do tội khi đến QuảngĐông hay tin TềÁ MaVậtAm mất mà không đợi mệnh triều đình, lại mang ấn trao cho vua được ĐạiViệt lập lên với cái tên là ĐềBàĐài Gỉa và nhận hối lộ 100 lạng vàng. Trong khi đó ở kinh có sứ CápNaBa của Cổ Lai phái đến. CápNaBa còn ở tại quán dịch của bộ Lễ. Qua thông dịch, CápNaBa trả lời nói rằng CổLai chính là em của vương. TềÁ MaVậtAm chết vì bệnh không phải bị giết, người được gọi là ĐềBàĐài Gỉa thì không biết đó là ai. Bọn CápNaBa tạm trở về QuảngĐông đợi sứ của ĐềBàĐài Gỉa đến tạ ơn sẽ thẩm vấn xét phải trái.
Ngày 16/9TH18(27-10-1482) thực lục viết nói cấp thuyền cho sứ ALaSa của CổLai nước Chiêm Thành về nước. Sứ ALaSa lưu lại ở QuảngĐông đã 1 năm để chờ sứ của ĐBĐ đến đối chứng việc sứ giả TrươngCấn trao ấn ngụy.
Thực lục ngày 7/7TH20(28-7-1484) viết: “Sắc dụ quốc vương Chiêm Thành Cổ Lai hãy phủ dụ Đề Bà Đài; lệnh nạp ấn quốc vương Chiêm Thành trước kia trao cho y. Tha tội cho Đề Bà Đài đã nhận sắc phong ngụy của An Nam; lệnh cho làm đầu mục của nước này.
Thực lục ngày 5-8TH20(25-8-1484)
Sứ BaLaChất của ĐBĐ đến kinh đo được ban cho phẩm vật. 
Thực lục ngày 7-12-1486 viết nói quan TừĐồngÁi ở QuảngĐông tâu rằng con của Cổ Lai giết chết Đề Bà Đài. AnNam mang binh đến đòi mạng. CổLai sợ đem vợ con chạy sang ChâuNhai.
Thực lục ngày 13-2-1487 viết nói tổng đốc LưỡngQuảng TốngMân tâu rằng CổLai tố cáo AnNam trả lại những khu vực căn cỗi điêu tàn.
Thực lục ngày 29-10-1487 nói ĐồDung tâu theo lời của CổLai khai báo về đất đai. ĐạiViệt cho ĐềBàĐài 1 châu 3 huyện(nước HoaAn ở NamCùMông?). Nay ĐềBaĐài đã chết, AnNam đòi cho được mạng sống của y, ý đồ muốn lấy hết đất và lập con ĐềBàĐài làm vương. LũMa, con của CổLai, cùng đầu mục VạnNhânPhương cố thủ đê đợi. Thực lục đăng sắc văn ban cho vua LêThánhTôn(LêHạo).
ĐBĐ làm vua được 9 năm(1477-1486). Có những chánh biến xảy ra: Năm 1481 TAMVA chết, ĐBĐ được TrươngCấn trao ấn ngụy cho. Cổ Lai sai sứ sang nhà Minh xin phong.  Năm 1486 ĐBĐ đem binh giết CổLai bị thủ hạ CổLai giết chết. ĐaiViệt lại sai đầu mục đòi mạng ĐBĐ. Cổ Lai chạy sang Nhai Châu.
Diễn biến dẫn đến TriềuCổLai. Trở lại đoạn thực lục ngày 21/9TH17(13-10-1481) thực lục viết nói CổLai sai cháu vương là Cap Na Ba dâng biểu cống cùng thỉnh phong. Năm đó có biễn cố là Trai Á Ma Vật Am chết.
Ngày 26-9/TH17(18-10-1481) thực lục viết nói chiếu dụ Lê Hạo trả lại đất cho Chiêm vì Cổ Lai sai sứ sang nhà Minh tố cáo.
Thực lục ngày 7/7TH20(28-7-1484) viết nói sắc dụ Cổ Lai phủ dụ Đề Bà Đài nạp trả ấn.
Ngày 17/8 TH20(6-9-1484) thực lục viết nói Chánh sứ MãnhDương, phó sứ DiệpỨng mang chiếu thư cùng lễ vật phong cho em quốc vương ChiêmThành TềÁ MaVậtAm  là CổLai làm quốc vương. Bọn Mãnh Dương tâu: “Chiêm Thành bị ĐềBàĐài chiếm cứ lâu rồi(năm 1481), vậy trước khi làm lễ phong nên cho sứ giả của ĐềBàĐài về nước, loan báo việc triều đình định phong cho CổLai để dân chúng yên lòng;  người cháu của vương cũ do ĐềBàĐài đưa đến tạ ơn, rồi bị lưu lại làm con tin tại Quảng Đông cũng nên cho về luôn. Bọn thần định khi thuyền làm xong, thuận gió, sẽ đến nơi CổLai trú đóng để truyền đọc sắc văn.Hoàng Thượng họp đình thần bàn bạc và chấp thuận.”
Ngày 5/10 TH20(24-10-1484) thực lục viết nói tha cho TrươngCấn tội chết, đày làm lính thú vì trước đây không xin lịnh, tự động sang Chiêm Thành trao ấn cho Đề Bà Đài.
Ngày 3 tháng ChạpTH21(8-1-1486) thăng cấp cho LýMãnhDương phụng mạng đi sứ ChiêmThành nhưng trì hoãng không muốn đi. Lấy cớ bị bịnh, lưu lại ở QuảngĐông. Nay mãn hạng, cho nghỉ.
Ngày 12 tháng Một TH22(7-12-1486) thực lục viết: “Con quốc vương Chiêm Thành  Cổ Lai đánh giết ngụy vương Đề Bà Đài do Giao Chỉ đặt lên. Giao Chỉ giận, mamg binh đến biên giới đòi cho được mạng sống của Đề Bà Đài. Cổ Lai sợ hãi, mang vương phi, cháu vương, bộ lạc hơn 1.000 người, cùng sản vật địa phương vượt biển đến châu Nhai, Quảng Đông.” Thực lục viết tiếp nói  việc đưa xuống bộ Lễ bàn rồi Hoàng Thượng phán: “Cổ Lai trong lúc tàn bại, còn chút hơi thừa, vượt qua vạn dặm, mang quyến thuộc đến qui phụ Trung Quốc; tình cũng đáng thương. Nay lệnh cho các quan Tổng Binh, Trấn Thú, Tuần Phủ lưu tâm an ủi, ban cho lương thực, chọn chỗ thích hợp để cư trú, không để đến nỗi đói khát’ Thực lục viết tiếp “Vẫn ra lệnh nghiêm nhặt canh phòng biên giới.
Ngày 20/Giêng TH23(13-2-1487). Thực lục viết: “Mệnh Đô ngự sử Nam Kinh Đồ Dung đến Quảng Đông dụ quốc vương Cổ Lai. Bọn Tổng Đốc Lưỡng Quảng Hữu đô Ngự sử quân vụ Tống Mân tầu rằng: “Cổ Lai tại châu Nhai rất muốn được triều yết, để tố cáo sự tai hại gây ra bỡi Giao Chỉ xâm lăng, và nói rằng số châu huyện mà Giao Chỉ hoàn lại là những khu vực căn cỗi điêu tàn.” Nội vụ đem xuống dưới bàn, bộ Binh tâu rằng lời của Cổ Lai và lời tâu của An Nam trước đây không giống nhau; xin ra lệnh thêm nhiều quan đến họp bàn. Lúc này Anh quốc công Trương Mậu, Thị lang bộ Binh Hà Tông bàn rằng việc của 2 nước khó đoán cho chính xác; nên sai 1 viên đại thần đến khao thưởng Cổ Lai và bảo rằng triều đình thương ngươi vì nước, từ chốn xa xôi mệt nhọc lăn lội đến đây; tuy nhiên đừng nên vào triều vì sống bên ngoài lâu kẻ chiếm đóng có cơ hội củng cố vững vàng, còn người ở đất khách lại dễ thay  đổi lòng; chi bằng về nước sớm, để yên người trong nước. Xin gởi văn thư cho An Nam, hãy quí việc phục hưng nước bị diệt, nối dòng họ bị đứt. Nếu chuyện ấy xảy ra không phải là ý của vương, xin sai sứ đón Cổ Lai về để lấy lại nước, thì sẽ tự cởi bỏ mọi sự hiểu lầm. Hoàng Thượng ban chiếu chấp thuận, và mệnh Dung khởi hành.
Triều Cổ Lai chính thức(1487-1499). Cổ Lai thay Tế Á Ma Vật Am trông coi đất nước từ năm 1481 đến nay mới được phong vương. Ta sẽ biết được việc làm của triều vương này nhờ các đoạn viết trong sách Minh Thực Lục.
Ngày 13-10TH23(29-10-1487) thực lục viết nói phong  vương cho con quốc vương ChiêmThành CổLai tại Quảng Đông rồi hộ tống về nước  và sắc cho nước An Nam trả đất xâm chiếm. Thực lục viết nói trước kia LýMạnhDương, DiệpỨng  đi phong vương cho ChiêmThành. Nhưng đi chưa tới nơi thì CổLai bị An Nam xâm đoạt bỏ nước theo đường biển đến QuảngChâu  và định đến triều tố cáo. Nay sai ĐồDung đến QuảngĐông để thu xếp việc nên làm. Đến nơi Dung tâu lên nói nước có 8 châu 25 huyện. AnNam trả các xứ BangĐôLang, MãNaLý 4 châu 5 huyện, cho ĐềBàĐài 1châu 3 huyện. ĐBĐ nay đã chết. Thực lục viết tiếp  “ An Nam đòi cho được mạng sống của y, ý đồ lấy hết đất như Bang Đô Lang và lập con Đề Bà Đài làm vương. Sau đó Lũ Ma, con của Cổ Lai, cùng đầu mục Vạn Nhân Phương cố thủ đê đợi. Ý  của Cổ Lai muốn được thụ phong tại Quảng Đông, xin bộ Binh hộ tống về nước, lại xin văn thư công nhận cương thổ để được an toàn. Bọn thần muốn lời xin được chấp nhận, xin mệnh bọn Mãnh Dương đến nơi này sắc phong, đến mùa Đông sai quan võ đến hộ tống trở về nước. Bọn Mãn Dương không cần phải thân hành đến đó. Lại xin sắc cho An Nam trả lại đất đã xâm lấn.” Bộ Binh phúc tấu đồng ý theo” Thực lục đăng sắc ban cho LêHạo. Sắc có đoạn  “Lại tra xét lời các ngươi trước đây tâu rằng đất đai Chiêm Thành do thổ tù nước đó tranh giành cát cứ; nay xét lại lời tố cáo của Cổ Lai thì ra các ngươi chiếm đoạt rồi đuổi họ đi. Nếu không vậy thì làm sao Cổ Lai lâm vào cảnh lưu ly đến như vậy. Nhưng nước ngươi vốn xưng lễ nghĩa, há lại ngoài mặt làm vẻ thiện, nhưng ngầm trong chứa điều ác, chỉ trang sức trên văn từ, trên thì thiếu lòng trung thờ nước lớn, dưới thì mất nghĩa hòa mục với lân bang. Hoặc giả vương không biết, nhưng ở dưới quan phòng thủ, đầu mục, đảng nghịch gây oán; che dấu mọi điều đến như vậy ư! Ty Bố Chính Quảng Đông đã thông báo cho nước ngươi, nhưng vẫn chưa nhận được phúc đáp. Nay nhân sứ trở về, đặc mệnh ban sắc cho vương hãy đem lòng giúp đỡ kẻ hoạn nạn để đáp ứng với ý muốn phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đức của triều đình; nghiêm khắc cấm chỉ những người phòng giữ biên giới cậy mạnh hiếp người yếu, gây điều độc ác; lấy 8 châu, 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả lại cho Cổ Lai, tạo nên sự hòa mục giữa lân bang, cùng chung hưởng thái bìnhNhứng sự việc này ngươi hãy hồi tấu để thấy được lòng thành của ngươi. Nếu không ngay thẳng, vu khống, thì đạo trời làm phúc được thiện, họa đến cho kẻ ác; Vương hãy nên lo xét. Hãy kính cẩn nghe theo lời dụ này!”
Ngày 3/2 Hoằng Trị thứ nhất(15-3-1488) Thực lục viết có bọn bồi thần và cháu là CápNaBa đến cống.  
Ngày 13/10HT2(5-11-1489) thực lục viết: “Quốc vương Chiêm Thành trở về nước, lại sai em là bọn Bốc Cố Lương thông báo cho quan đại thần coi giữ Lưỡng Quảng rằng “An Nam vãn còn chiếm cứ, không có chỗ để ở. Xin như thời Vĩnh Lạc; mang binh che chở.”” Thực lục viết tiếp nói  sự việc đem bàn. Bộ Binh tâu: “An Nam và Chiêm Thành vị trí nơi bờ biển hoang tịch, đời đời triều cống , tổ tiên có di huấn là những nước không nên chinh phạt. Mới đây Cổ Lai mang gia quyến đến Quảng Đông; triều đình đã giáng sắc cho An Nam  lệnh xem xét xót thương, nhưng đến nay chưa nhận được lời tâu trở lại . Còn việc thời Vĩnh Lạc sai tướng mang quân đi chinh phạt là do Lê Qúi Lý thoán đoạt giết vua, không phải là do sự xâm lấn nước láng giềng. Mới đây Lê Hạo lo việc triều cống rất cẩn trọng, nhưng Cổ Lai tố cáo  nặng nề; như vậy cũng có phần quá đáng. Nếu chỉ căn cứ lời của 1 bên, rồi mang binh mạo hiểm vượt biển để đánh kẻ không đáng đánh, thì sai với đạo mềm dẻo với nước xa xôi. Nên lệnh các quan trấn thủ báo lại cho Cổ Lai rằng:Trước đây quốc vương đến tố cáo với triều đình, đã mệnh quan đại thần giúp đỡ săn sóc đầy đủ. Bây giờ hộ tống người của vương trở về xong. Sự tình được biết người Giao giết con của vương là Cổ Tô Ma, vương mang binh đánh lại chúng, sự rửa thù đã xong; sau không thấy An Nam mang quân đến đánh nước của vương. Đất của vương trước kia mất nay đã lấy lại được; bộ lạc của vương đã tan nay đã tụ lại được; đó là nhờ uy của Thiên Triều mới được như vậy. Nay lại kêu An Nam muốn chiếm đoạt đất trước kia; An Nam vốn xưng là nước biết lễ nghĩa; há lại hôn âm chuốc lấy sự trái. Nay viên quan phòng thủ nước ta trình lời của vương lên triều đình, mà lời hồi tấu cua An Nam thì chưa đến, sự kiện chưa rõ ràng  minh bạch; lai e vương oán xưa chưa bỏ được, nói quá sự thực; ta không thể chỉ nghe riêng một bên mà quyết định. Khi lời tấu của An Nam đến, ta sẽ xem xét, rồi báo cho ngươi hay. Vương hãy tự tin, điều hành quản trị, an ủi nhân dân và bảo vệ đất đai. Vương cũng nên tìm cách nối lại bang giao tốt với An Nam, quên hết đi những sự nghi ngờ. Từ xưa đến nay, không có 1 nguyên tắc nào cho nhà cai trị không tự tin ỏ mình, lại cầu xin triều đình mang quân đi đến từ miền xa xôi để bảo vệ họ. Sắc của Thiên tử sẽ giao cho Bốc Cố Lang(trên kia viết “Bốc Cố Lương”), y cũng được thưởng quà, rồi mang về nước.” ”
Ngày 21/5HT3(8-6-1490) thực lục viết nói em của Cổ Lai là Bốc Cổ Lang sang cống, tâu báo An Nam xâm chiếm đất đai, cho người chặn lấy đồ vật triều đình ban cho. Xin đưa quân đến cứu giúp.
25/5HT3(12-6-1490) thực lục viết nói nay Lê Hạo sai sứ tấu chương biện bạch rằng việc tại Chiêm Thành do các thổ tù tranh dành cát cứ. Thực lục viết tiếp nói sứ Chiêm tố cáo An Nam vẫn nuốn thôn tính nước này, mong Thiên Triều mang binh che chở. Thực lục viết nói lúc bấy giờ HoàngBáDương còn tại sứ quán. Mệnh quan bộ Binh đòi tới bộ Lễ rồi dụ rằng: “Hãy về báo với quốc vương ngươi đừng nói nhiều lời, mỗi bên lo giữ gìn cương thổ để hưởng thái bình; nếu không vậy thì một ngày nào đó triều đình nổi giận, quân Thiên Tử đến biên cảnh như dưới thời Vĩnh Lạc thì không còn hối hận được nữa.” Thực lục viết tiếp: “sứ giả sợ hãi rút lui”
Ngày 10/6HT3 (27-6-1490) thực lục viết nói ban yến cùng phẩm vật cho cống sứ Chiêm Thành.
Ngày 26/7HT3(11-8-1490) thực lục viết nói Đồ Dung đến Quảng Đông nay đã trở về. Sứ Chiêm BanBàĐế đến tạ ơn và mang phẩm vật tặng cho Dung. Có chỉ dụ bảo Dung nhận. Dung từ chối nhưng không được chấp thuận. Dung dâng sớ: “Thần trước đây quyền nghi xử trí công việc, tuy hết sức làm, có được chút hiệu quả bỡi tuân theo chỉ thị của triều đình, do sự tính toán của Hoàng Thượng. Nay Chiêm Thành từ chỗ diệt vong mà phục hưng, đều do uy đức của Hoàng Thượng, còn thần thì chẳng có sức lực gì! Đáng cho Cô Lai và con cháu đời đời báo đền công đức của triều đình, sao phải tạ ơn thần! Vả lại thần ở địa vị đứng đầu hiến quan, phong cách đòi hỏi phải trọng kỷ luật; nếu cẩu thả nhận đồ tặng, sau này sự việc sẽ đưa ra thiên hạ, truyền xuống hậu thế. Việc này không phải là điều vinh cho thần, mà lại lụy đến danh tiếng của triều đình, nên đồ lễ vật này thần không dám nhận”Sách dịch ghi chú nói hiến quan là quan coi về hình luật. Thục lục viết tiếp nói Hoàng Tượng chấp nhận lời tâu. Thực lục viết tiếp nói Sứ Chiêm trở về chưa xa. Bộ Lễ sai người đuổi theo mang đầy đủ lễ vật trả lại cho ChiêmThành nói để vua tôi nước ngoài biết được phong cách tự xử của vị đại thần. HoàngThượng chấp nhận.
Ngày 16/10   HT8(2-11-1495) thực lục viết nói cháu của CổLai cùng bọn sứ SaCốTính sang cống.
Ngày 28/10HT8(14-11-1495) thực lục viết “Ngày Đinh Sửu quốc vương Chiêm Thành Cổ Lai tâu rằng nước này bị An Nam chiếm đất, giết người. Tuy được triều đình giáng sắc dụ phải hòa mục, nhưng An Nam ngoài mặt ra vẻ thuận lòng, còn âm mưu thì ác độc không ngừng. Nên sai cháu là Sa Cố Tính đến kinh khuyết xin đại thần đến nơi để giảng hòa, lời tâu rất bi ai. Sự việc đưa xuống để đình thần tập hợp bàn bạc, lời bàn cho rằng từ xưa chưa có lệ sai quan đại thần ra nước ngoài để hòa giải giữa các Di. Xin giao Lưỡng Quảng gửi văn thư cho An Nam, dụ phải hòa mục với lân bang, hoàn lại đất  đã xâm chiếm. Cùng sắc dụ Cổ Lai chăm sóc nhân dân, tu luyện võ bị, để làm kế lâu dài. Khi sự việc đã yên. Lệnh 2 nước trình bày đầy đủ  sự thực rồi tâu lên. Lời bàn được dâng lên, ý Hoàng Thượng muốn sai quan đại thần đi xem xét. Bọn Đại Học Sĩ Từ Phố tâu: “Nước Chiêm Thành xin sai đại thần đến nước họ, báo cho An Nam trả lại hết đất đai đã xâm chiếm; các nha môn 2 lần hội nghị đều cho rằng không nên làm như vậy. Bộ Lễ được yêu cầu nêu rõ vấn đề rằngThánh Thiên Tử muốn sai quan đến dụ; nhìn lên thấy được Thánh ý đối xử chung một lòng nhân không phân biệt Di, Hạ; tuy nhiên bọn thần phân tích bằng sự lý, thấy sách Xuân Thu dạy”Không cai trị Di”; vì rằng sự chế ngự Di Địch và cai trị trong nước không giống nhau. An Nam tuy tuân thuận theo lịch Chính Sóc, làm tròn chức cống, nhưng vốn là ngoại Di; cậy hiểm và sức mạnh, thường làm chuyện xâm nhiễu ngoài vòng trật tự; các triều đại trước cũng thường bỏ qua. Còn nước Chiêm Thành kia thì quá nhỏ mà sơ viễn; bọn thần kính cẩn xem xét lời dạy của tổ triều Minh rằng Chiêm Thành và một vài nước khác triều cống lại đưa hàng đến bán có nhiều sự gian trá nên từ năm Hồng Vũ thứ 8 bị cấm, mãi đến năm Hòng Vũ thứ 12 mới được triều cống trở lại. Sau đó vào năm Thành Hòa thứ 7 bị An Nam xâm chiếm, mấy lần đến tố cáo. Hiến Tông Hoàng Đế mấy lần sắc Tổng trấn Lưỡng Quảng, Đô Ngự Sử khu xử. Nhưng An Nam khẳng định rằng họ đã trả lại đất; thực ra thì chúng không khai thực và không chịu nhận tội. Nay nếu giáng sắc, sai quan đến nước xa xôi này cũng chỉ phí lời, khó mà thi triển uy lực của triều đình, mặt khác hải đảo rộng  mênh mang không có cách gì khám xét đất đai; hơn nữa làm sao An Nam có thể tự động cải hối, bỏ cả mối lợi hàng mấy chục năm của chúng! Nhỏ thì che dấu lỗi lầm, lớn thì chống cãi lại; như vậy sứ thần không thể thi hành lệnh của triều đình, tưởng không nên dương oai nơi cõi ngoài, chỉ làm giảm quốc thể, gây sự nguy hại cho địa phương. Đến lúc đó, thì xử sự ra sao đây? Nếu bỏ qua mà không hỏi đến, thì tổn thương uy danh; đem sự việc ra hạch hỏi thì phải hưng binh, mối lo lại càng lắm. Hãy nghiền ngẫm những lời giáo huấn của tổ tiên: “Di Địch bốn phương, cách núi ngăn biển, riêng biệt một góc trời; có được đất đó không đủ cung cấp cho nhu cầu, có được dân đó không đủ để sai khiến. Nếu chúng đến quấy phá biên giới của ta, tự nó sẽ gặp điều không lành; nếu nó không làm hại đến Trung Quốc, mà ta kinh xuất mang quân đi chinh phạt cũng là làm điều không lành vậy. Ta sợ con cháu sau này, ỷ thế Trung Quốc cường thịnh, tham chiến công nhất thời, mang quân đi đánh gây thương tổn chết chóc; điều đó không được phép làm.”Lời thánh Thiên Tử đáng làm khuôn phép vạn đời. Cho dù hiện nay kế hoạch quốc gia hư thực như thế nào, binh lực mạnh yếu ra sao; thì việc hao phí tài nguyên không kể hết, để tranh giành mảnh đất cằn cỗi cây cỏ không mọc được, là việc làm vô ích, càng không thể làm! Như việc Cáp Mật bị Thổ Phiên xâm đoạt trong hai ba mươi năm, mang quân khiển tướng, giành đi giành lại  đến nay vẫn chưa yên. Bọn thổ quan các xứ thù nghịch nhau, không thể lấy vương pháp mà cấm đoán được; vì thế bọn chúng đánh nhau là sự thường tình. Nay Chiêm Thành danh hiệu vẫn như xưa, triều cống cũng không khác; việc bị xâm đoạt có hay không, thực hay dối rá, vẫn chưa biết rõ. Tuy tình cảnh đáng thương, nhưng về lý không nên can thiệp đến cùng. Nay quan ty chỉ dùng văn thư hiểu dụ cũng được rồi; hà tất phải nhân danh Thiên Tử sai đại thần đi khám. Huống việc đại sự của triều đình không thể không hỏi quần thần. Nay mọi người đều một lòng tâu là không nên, nhưng chỉ nói chung về sự lý, chưa trình bày hết về lợi hại được mất. Bọn thần ở địa vị thân cận, là kẻ tâm phúc; nếu không trình bày hết, vạn nhất việc xấu nảy sinh, thì đến chết cũng không chuộc hết tội. bỡi  vậy không nề rờm lời khó nghe; trình bày những vấn đề liên quan đến Hoàng Thượng; xã tắc, sinh dân; chứ không phải muốn về hùa với đám đông. Nếu như thời thế có thể làm được, sự việc không gây tai hại, bọn thần đáng phải giúp Hoàng Thượng; đâu dám dâng lên những lời trái tai này. Hoàng Thượng nghe lời, bèn theo lời bàn của quần thần”
Ngày 21/6HT12(28-7-1499) thực lục viết: “Quốc vương Chiêm Thành Cổ Lai tâu rằng: “Vùng cảng Tân Châu của bản quốc đã bị An An xâm đoạt từ lâu, chúng cướp giết nhân dân, mối lo chưa hết. Nay thần già lão, khi chưa chết muốn cho con trưởng là Sa Cố Bốc Lạc được nối ngôi, mong ngày sau có thể giữ được đất tại cảng Tân Châu.”Thiên Tử mệnh bộ Lễ, bộ Binh họp lại để bàn bạc, rồi cả 2 bộ đều trình lên rằng: “An Nam gây tai hại tại Chiêm Thành không phải mới xảy ra trong một ngày, triều đình thường nhân Chiêm Thành tố cáo bèn gửi tỷ thư chỉ dạy, lại sai thủ thần lấy đại nghĩa trách vấn, giảng điều họa phúc; nhưng An Nam trước sau tâu lên đều xưng rằng: “Đã tuân theo mệnh lệnh của triều đình, trả lại hết tất cả đất đai và nhân dân; ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa đều do thổ tù cát cứ, nước tôi hoàn toàn không can thiệp” Nhưng An Nam vừa mới đưa lời biện bạch thì Chiêm Thành lại tố cáo, khó biết đâu là thật tình. Xin lệnh thủ thần gửi văn thư nghiêm khắc dụ  An Nam chớ tham nhân dân đất đai sẽ gây nên họa hoạn, nếu không tuân sẽ bàn định mang quân đi hỏi tội. Về việc con trưởng của vương Chiêm Thành, thì khi cha còn sống không có lý được phong kế tập, hãy lập lên làm Thế Tử để coi việc quốc sự; sau này như lệ định sẽ phong thế tập.” Điều này được chấp thuận

Ngày 27/6HT12”3-8-1499” thực lục viết nói bọn sứ SaBấtĐăng CổLỗ của Chiêm Thành đến cống.
Ngày 6/8HT12”10-9-1499” thực lục viết nói cháu của CổLai SaBấtĐăng CổLỗ cùng bon sứ YểnThiệnNô BaĐịa đến cống.
Ngày 12/8 HT12”16-9-1499” thực lục viết nói ban mũ và dây đai cho SaBấtĐằng CốLỗ cùng bọn sứ.
Ngày 12/9HT12”16-10-1499” thực lục viết nói cấp cho cống sứ ChiêmThành 60 người, mỗi người 9 đấu gạo ăn đường vì thuyền cũ bị gió bão làm tổn hại. Sai thủ thần LưỡngQuảng  cho sửa chữa lại.
Viết việc năm 1488, KĐVS dẫn Minh sử viết sự việc tương tự như Minh Thực Lục trên đây viết nhưng KĐVS viết quá vắn tắt nên khó hiểu. Tức sau khi ĐềBàĐài bị con của CổLai giết(MinhThựcLục thực lục TH 22, ngày 7-12-1486), CổLai tiếp tục đòi đất, đòi cảng TânChâu. Chiến tranh Chiêm-Việt tiếp diễn. Đất NamCùMông bất an triền miên.
Về thời gian trị vì thì có các móc thời gian như sau đây: Năm 1481, TraiÁ MaPhấtAm mất. Cổ Lai thay anh coi việc nước, tố cáo An Nam xâm chiếm đất đai và xin phong vương(Thực lục ngày 18-10-1481). Năm 1484 được Lý MãnhDương và DiệpỨng định đến phong vương(Thực lục ngày 6-9-1484). Nhưng Dương trì hoãn không muốn đi cho đến năm 1486(Thực lục ngày 8-1-1486). Cũng trong năm này con của CổLai đánh giết ngụy vương ĐềBàĐài. An Nam mang binh đến đòi mạng. CổLai phải chạy sang NhaiChâu tị nạn(Thực lục ngày 7-12-1486). Chính biến được sử liệu sau này viết rõ: Bộ hạ của CổLai giết ĐềBàĐài(ĐBĐ) vì An Nam ngầm ra lệnh ĐBĐ mang binh giết Cổ Lai(Thực lục ngày 29-10-1487).Thực lục ngày 5-11-1489  cho biết sự tình là người GiaoChỉ giết con của CổLai là CổTôMa, CổLai mang binh đánh lại. Như vậy ĐBĐ ra tay trước. CổLai đánh lại. AnNam đòi mạng ĐBĐ. CổLai chạy trốn sang QuảngĐông rồi được đưa về tiếp tục đòi đất.
Năm 1487 CổLai muốn đến triều đình nhà Minh tâu bày việc AnNam xâm chiếm đất đai nhưng được khuyên không nên đến mà nên trở về lo việc nước. Triều đình cử quan đại thần là ĐồDung đến an ủi CổLai và phong vương cho(Thực lục ngày 13-2-1487). CổLai được phong vương tại QuảngĐông rồi được hộ tống về nước(29-10-1487). Năm 1488 CổLai sai sứ và cháu là CápNaBa sang cống tạ ơn(Thực lục ngày 15-3-1488). Năm 1489 CổLai trở về nước, sai em là BốcCốLương báo quan coi LưỡngQuảng rằng An Nam vẫn còn chiếm cứ nên ông không có chổ để ở, xin mang binh che chở(Thực lục ngày 5-11-1489). Năm 1490 CổLai sai em là BốcCốLang sang cống nhà Minh, tâu báo AnNam, xâm chiếm đất đai, cho người chặn lấy đồ vật mà triều ban cho, xin quân đến cứu giúp(Thực lục ngày 8-6-1490). Lúc bấy giờ sứ HoàngBáDương của AnNam sang biện bạch việc ở ChiêmThành còn ở sứ quán được triệu đến bộ Lễ nhận sắc dụ của triều Minh bảo vua AnNam chớ có nhiều lời, mỗi bên lo giữ gìn cương thổ để hưởng thái bình. Nếu không triều đình nổi giận quân Thiên Tử sẽ đến như thời VĩnhLạc thì không hối được nữa(Thực lục ngày 12-6-1490). Năm 1495 CổLai sai cháu và bọn sứ SaCốTính đến cống đáp lễ(Thực lục ngày 2-11-1495). Cổ Lai sai cháu là SaCốTính sang tâu AnNam vẫn còn chiếm đất, giết người, xin đại thần đến nơi giảng hòa. Lời tấu rất bi ai. HoàngThượng muốn sai đại thần đi. Nhưng đình thần luận bàn không nên sai đi vì có nhiều rủi ro(Thực lục 14-11-1495). Ba năm sau(1498) thì LêThánhTôn mất. CổLai chưa đòi lại được đất đã mất. Năm 1499 CổLai lại tâu nói vùng cảng TânChâu chưa đòi lại được. Nay ông già lão muốn xin con SaCố BốcLạc được nối ngôi mong ngày sau có thể giữ được đất ấy. Đình thần bàn không có lệ cha còn sống phong con kế tập mà chỉ nên lập làm ThếTử coi việc nước. Sau này sẽ phong kế tập(Thực lục ngày 28-7-1499). Bọn sứ SaBấtĐăng CổLỗ sang cống(Thực lục ngày 3-8-1499). CổLai lại sai cháu SaBấtĐăng CổLỗ cùng sứ YểnThiệnNô BaĐịa đến cống(Thực lục ngày 10-9-1499). Họ được ban mũ và dây đai(Thực lục ngày 16-9-1499). Sáu mươi người cống sứ Chiêm Thành mỗi người được cấp 9 đấu gạo ăn đường vì thuyền cũ bị bão gió làm hại được thủ thần LưỡngQuảng sửa chữa lại(thực lục ngày 16-10-1499). Triều CổLai tồn tại được 18 năm(1481-1499), đồng thời với Lê Thánh Tông.
Về Đất Đai thì được nhận định như sau đây: Năm 1487 Cổ Lai được hộ tống về nước không thấy Minh Thực Lục nói đổ bộ vào đất nào. KĐVS dẫn minh sử cũng nói mộ 2000 quân mạnh khỏe đi trên 20 chiếc thuyền vượt biển hộ vệ Cổ Lai về nước. An Nam không dám kháng cự. Cổ Lai mới được vào trong nước. Nhưng cũng không nói vào chỗ nào.
Trở lại các đoạn mà sách MinhThựcLục(MTL) viết ta đoán được đất này ở đâu.
CổLai sai sứ tố cáo đất bị chiếm gồm 27 xứ gồm 4 phủ, một châu, 22 huyện; phía Đông tới biển Đông, phía Nam tới ChiêmLạp, phía Tây tới núi LêNhân, phía Bắc tới AMộc ThửBô gồm hơn 3.500 dặm. Trả lại đất từ quốc đô tới ChiêmLạp gồm 5 xứ, lập TềÁ MaVậtAm làm vua(Thực lục ngày 18-10-1481). CổLai tâu báo với ĐồDung nói nước nguyên có 8 châu, 25 huyện bị AnNam thôn tính.  Sau AnNam trả các xứ Bang Đô Lang, Mã Na Lý, 4 châu 5 huyện. AnNam cho ĐềBàĐài 1 châu 3 huyện; ChiêmThành chỉ còn 3 châu 2 huyện. AnNam có ý lấy hết đất như BangĐôLang và lập con ĐềBàĐài làm vương. Sắc của triều đình gởi cho LêHạo nói quan ở QuảngĐông nói CổLai tâu nguyên có 8 châu như Ban Nhược, Ban Thành và 25 huyện như Đá Lập bị chiếm năm ThànhHòa thư 7. TH 13, trả lại 4 châu 5 huyện trong đó có BangĐôLang, MãNaLý. Rồi đem 1 châu 3 huyện trong đó có MaiĐáLý, BônĐế BaĐế cho ĐềBàĐài(Thực lục ngày 29-10-1487). Một điều thú vị là trong sắc văn ban cho LêHạo(LêThánhTôn) trong đoạn thực lục 29.10.1487 có câu “lấy 8 châu, 25 huyện, phía ngoài núi Mao Lĩnh trả lại cho Cổ Lai.”Nhờ câu thực lục này mà ta đoán núi HảiVân có tên là núi MaoLĩnh?
Con số 8 châu 25 huyện là lảnh thổ của BắcChiêmThành có vẻ đúng nhất(Từ đèo HảiVân tới ĐèoCả). Sứ của TếÁ MaVậtAm tâu rằng người An Nam trả lại một cõi đất phía Nam để cai quản và làm chủ nước này(Thực lục ngày2-9-1478).
Vùng cảng Tân Châu bị chiếm nên “ một cõi đất phía Nam” là đất Nam đèo Cù Mông chăng? Không thấy sách MTL viết về sứ thần NamChiêmThành(Panduranga) đến ban giao. Sách chỉ đề cập tới việc ban giao với BắcChiêmThành. Vậy có phải lãnh thổ 8 châu 25 huyện mà Cổ Lai đề cập là lãnh thổ của dòng vua NamBàn(Vijaya) gồm Đại Chiêm Cổ Lũy, ĐồBàn(Vijaya), Kauthara(PhúYên-KhánhHòa). Có tác giả nói PhúYên là một tiểu vương có tên là Aryaru và TâyNguyên? Tới thời LêThánhTôn thì Vijaya rõ ràng là phủ HoàiNhân của thừa tuyên QuảngNam gồm 3 phủ 9 huyện. Tám châu 25 huyện còn lại 4 châu, 5 huyện. Đất thì bằng nhau(4 châu) nhưng dân chỉ bằng 1/5(5/25). Vậy lãnh thổ trả lại là vùng sâu, vùng xa, thưa dân hẻo lánh. Thực lục ngày 16/7CĐ10(25-8-1515) vào đời con của CổLai SaCố BốcLạc, sứ nhà Minh LýQuán tâu: “Y(CổLai) chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc.”Có phải chạy đến Xứ ĐấtĐỏ của vương quốc triều CổLai? Có phải là vùng TâyNguyên sau này có tên là HỏaXá Thủy Xá mà ĐạiViệt gọi là nước NamBàn ở phía tây núi ThạchBi?
Suốt dọc các đoạn thực lục đời vua CổLai không thấy sách MinhThựcLục thực lục chuyện hậu duệ của ĐềBàĐài. Nước HoaAnh bị diệt vong? Thay thế vào đó là các đầu mục cát cứ như lời tâu của vua ĐạiViệt trong đoạn thực lục ngày 28-7-1499 nói: “Ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa đều do thổ tù cát cứ, nước tôi hoàn toàn không can thiệp.”Vương quốc BangĐôLang Mã Na Lý của CổLai còn thông sứ với nhà Minh chứng tỏ nó hãy còn mở ngỏ ra bờ biển. Cảng TânChâu thì bị chiếm đóng rồi. Cữa ngỏ là đoạn NinhHòa-PhúYên. Vùng núi phía Tây DiênKhánh thì cao chót vót, hiểm trở. Còn vùng PhuYên thì bất an vì là nơi các thổ tù cát cứ. Mãi tới năm 1611 NguyễnHoàng đánh lấy đất. Đất này mới yên được.  Đường thông sứ có lẽ đường ra NinhHòa. Đến đời con CổLai sự thông sứ dần dần khó khăn rồi mất. Có lẽ chỗ ở của vua lùi dần vào nội địa, đến xứ  “Xích khâm bang”là vùng đất đỏ TâyNguyên? BangĐôLang có lẽ cùng nghĩa như ĐôLang quốc và là TâyNguyên? MãNaLý có lẽ là cữa ngõ của TâyNguyên gồm đoạn NinhHòa-PhúYên. Chính chi tiết  sử liệu như thế này mà sách cổ HồngĐức BảnĐồ đánh dấu ThạchBiSơn ở 2 nơi: GiápNgọ BìnhNam Đồ thì ghi núi ở chỗ “PhúYên phủ giáp TháiKhang phủ.”Ơ ThiênNam TứChí LộĐồ Thư ghi núi ở 2 nơi. Trang 98 vẽ núi ở bờ HữuNgạn BànThạch giang. Trang 101 vẽ núi ở gần NhaTrang hải môn!(xem ThạchBiSơn HuyềnThoại)

TriềuSa CốBốcLạc(1505-1521) là con của CổLai khởi nghiệp tương đương với triều Lê Uy Mục(1505-1509).
Ngày 17/6HT18(17-7-1505) thực lục viết nói con quốc vương ChiêmThành SaCố BốcLạc sai sứ SaBấtĐăng CốLỗ đến cống, xin đại thần đến nước này, vẫn tại các xứ cảng TânChâu phong tước. Nhưng không tâu rõ về việc cha đã mất, lại nói qua về số đất  bị chiếm đoạt.  Bọn cấp sự Trung NhiệmLươngBật có lời tâu rất dài trong đó  có những đoạn: “Lời di huấn của Hoàng Tổ cho rằng Chiêm Thành triều cống  mang thương nhân đi theo, nhiều trí trá, cần ngăn cấm.” Có đoạn viết: “Trước đây Cổ Lai  đã xin phong cho Sa Cố Bốc Lạc làm thế tử nhưng chưa được chấp nhận, nay lại xưng Cổ Lai đã mất, thực hư khó biết.” Có đoạn viết: “Mới đây nước này suy nhược; nên mượn việc tiến cống, sắc phong  để báo động lân quốc; kỳ thực quốc vương nước này lập hay không, không lệ thuộc vào việc phong tước hay không phong tước của triều đình.”  Có đoạn viết: “nay nếu không xử trí được vấn đê lãnh thổ, lại đến phong, nếu sứ giả bị câu lưu để chờ phân xử, không biết triều dình xử trí như thế nào.
Thực lục viết tiếp nói việc đưa xuống, bộ Lễ họp bàn tâu: “Theo lệ quốc vương mất trước hết phải sai người trong họ đến cáo ai, nay không làm như thế. Vả lại trong tờ tấu xin phong  của Sa Cố Bốc Lạc không nói rõ năm tháng Cổ Lai mất; vậy nên sai ty bố Chính Quảng Đông gửi văn thư để nước này trình báo, rồi bàn xét sau. ” Thực lục viết tiếp: “Hoàng Thượng chấp nhận.”
Ngày 13/7HT18(12-8-1505) thực lục viết nói ban cho sứ ChiêmThành Sa Bất Đăng Cố Lỗ phẩm vật.
Ngày 26/7 Chính Đức thứ 5(30-8-1510) thực lục viết : “Ngày Canh Thìn, người tạm coi việc nước Chiêm Thành thế tử Cổ Sa Bốc Lạc sai chú là Sa Hệ Bà Ma đến xin phong tước, cùng cống sản vật địa phương. Bộ Lễ tâu: “Sa Hệ Bà Ma đến kinh đô đã 1 tháng, quan bạn tống và  mang sản vật địa phương vẫn còn đi sau , nên trị tội trì hoãn.” Chiếu ban thưởng cho Sa Cổ Bộc Lạc cùng sứ thần như lệ. Về quan bạn tống, lệnh ty Pháp xét hỏi.
Ngày 3/8CĐ5(5-9-1510). Thực lục viết: “Sai cấp sự trung bộ Lễ Vu Thông sung chánh sứ, Hành nhân Lưu Mật thuộc ty Hành Nhân sung phó sứ phong thế tử Sa Cổ Bộc Lạc chức quốc vương Chiêm Thành. Trước đó Tả cấp sự trung Lý Quán đến lượt đáng phải đi, trong nội bộ sửa lệnh bắt Thông đi. Vì người làng của Quán hối lộ cho Lưu Cận, vài ngày sau bị bãi; rồi bị Thông khiếu nại; nên lại ra lệnh Quán đi. Quán đến Từ Châu, gặp cướp cắt ngắn tóc; tâu xin dưỡng ở nhà, chờ tóc dài rồi đi. Được chấp thuận. Sau đó Mật chết trên đường đi; Quán đến Quảng Đông tâu mấy lần nên việc trì hoãn đến 7 năm không đi; triều đình bàn cho nước này lãnh sắc phong mang về
Ngày 18/8CĐ5(20-9-1510) thực lục viết: “Ngày Qúy Sửu, ban cho sứ thần Chiêm Thành Sa Hệ Bà Ma lụa tốt và y phục làm bằng lụa; bọn này đến thỉnh phong. Chúng còn được ban mũ và dây đai có sai biệt
Ngày 13 tháng Chạp CĐ7(19-1-1513). Thực lục viết: “Trước kia cấp sự trung khoa Lễ Lý Quán, hành nhân Lưu Mật nhận sắc để phong cho quốc vương Chiêm Thành Sa Cố Bộc Lạc. Đến Quảng Đông Mật bị bệnh mất. Sai hành nhân Luu Văn Thụy đi thay. Thụy chưa đến, Quán tâu rằng Chiêm Thành có những năm vào đầu triều đại đã không đến cống, mới đây các quan bàn không nên đi xa để phong; vậy xin tuyên sắc phong tại quán dịch Hoài Viễn tại Quảng Thành, cùng ban thưởng cho vương và phi những đồ vật; lệnh cho sứ giả là bọn chú vương, Sa Hệ Bà Ma, lãnh mang về. Sự việc đưa qua bộ Lễ bàn rằng Sa Cố Bộc Lạc nước Chiêm Thành xin phong đã hơn 2 năm rồi, nay vô cớ dừng lại không phong, là sai với chế độ phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt. Nếu trong muôn một Sa Hệ Bà Ma không tuân theo, hoặc phong người khác, rồi đi đến tranh chấp, thì xử sự làm sao đây? Xin như cũ, sai bọn Quán đến sắc tại nước này, để khỏi thất tín Di bên ngoài, mà thể chế của Trung Quốc cũng không tổn thất. Hoàng Thượng chấp thuận
Ngày 16/7CĐ10(25-8-1515) thực lục viết: “Sứ thần Chiêm Thành bọn Lục Na Ba lãnh sắc cùng sắc phong  trở về nước. Trước đây Sa Cổ Bộc Lạc sai sứ đến thỉnh phong, sai cấp sự trung Lý Quán mang sắc đưa đi. Quán đến Quảng Đông, xin theo lệ năm trước đây sách phong cho Cổ Lai, cho sứ thần lãnh sách phong trở về. Đình thần bàn rằng: “Đã sai sứ đi trên 2 năm, nay nếu dừng lại nửa chừng, thì không họp với đạo phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt! Nếu sứ thần không chịu lãnh sắc phong, hoặc lãnh sắc rồi lúc trở về không trao đúng người nhận, thì lại một lần nữa gây mối tranh chấp, lấy cách gì để xử đây? Vậy lệnh Quán đi gấp.” Quán lại tâu: “Đi sứ nơi xa cần có hướng đạo biết đường, thông dịch viên biết ngôn ngữ và chữ viết; nay tất cả đều không có, xin bàn và phân xử.” Đình thần bàn lại: “Lệnh các quan tuần phủ địa phương, bằng mọi cách tìm cho được người hướng đạo và thông dịch. Nếu không có được; chấp nhận theo lệ cũ thi hành.” Rồi Quán lại tâu thêm: “Phụng mệnh đã hơn 5 năm , máy lần dâng sớ lên nhưng chưa quyết định được cách đi. Ai mà chẳng biết rằng sóng gió nguy hiểm đáng sợ; nhưng đáng lưu ý là đất Chiêm Thành từ đời Cổ Lai, sau khi bị An Nam thôn tính, thì vị trí không rõ ràng. Y chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang quốc; không còn ở chỗ cũ, xét không thể đi được. Huống Cổ Lai là đầu mục của vua Chiêm Thành Tề Á Ma Vật Am, đã giết vua đoạt ngôi, vua có 3 con, hiện còn 1 người. Theo đạo nghĩa hành động của y không đúng; xét theo sử Xuân Thu nếu không mang quân đi hỏi tội thì cũng nên chấm dứt con đường triều cống. Thần cho rằng cho họ lãnh sắc phong mà đi, còn giữ được điều lễ nghĩa; thì cần gì phải tìm kiếm hướng đạo, thông dịch, rồi đình thần họp bàn vô ích.” Gặp dịp tuần án Quảng Đông ngự sử Đinh Giai tấu tương tự như lời của Quán; bèn đem xuống họp phủ, bộ, khoa đạo; bàn như sau: “Trung Quốc đối các Di Địch, đến thì vỗ về, không đến thì cắt đứt. Nay thế tử ở rừng núi bưng biền không đến được; vậy nên ra lệnh Tuần Án Quảng Đông triệu chánh sứ Lục Na Ba đến dụ rằng sứ thần không thể đi xa được, rồi lấy sách phong cùng lễ vật từ quán trao cho sứ thần mang về; như vậy không mất lòng nước Di xa xôi, mà toàn vẹn thể chế của Tiều đình.”Chiếu chấp nhận rồi lệnh Quán trở về”Tới đây ta thấy lãnh thổ của triều này có một dịa danh khác là Xích Khâm bang.  Đường đi đến đó thì khó khăn. Triều Minh sai sứ đi thì sứ hẹn rày hẹn mai tìm cách chối từ. Sứ thần LýQuán đã phụng mạng hơn 5 năm mà chưa quyết định được cách đi. Nhắc lại lãnh thổ ĐV trả cho triều CổLai có tên địa danh là Bang Đô Lang, Mã Na Lý Trong đó có xứ Mai Đá Lý, Bôn Đế Ba Đế ĐạiViệt cấp cho ĐềBàĐài. “Xích Khâm bang”gợi lên tên xứ sở đất đỏ. Sứ thần Lý Quán tâu: “Y (CổLai) chạy trốn đến Xích Khâm bang, Đô Lang Quốc.”Có phải CổLai chạy trốn đến xứ đất đỏ của nước Đô Lang? Khâm Định Việt Sử chú thích về nước NamBàn(NB). Viết việc năm 1471 phần chú giải KĐVS viết: “Phong dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành là Nam Bàn quốc vương, và chia cho giữ đất đai từ núi Thạch Bi này trở về phía tây, từ phủ Hoài Nhân đi theo đường thượng đạo  thì phải đi 14 ngày mới đến được nước này, tức là đất của hai nước Thủy Xá và Hoài Xá bây giờ.” Trong Phủ Biên Tạp Lục có đoạn mô tả đường đi tìm trầm của LuậnBình hầu VănThếNghị kể cho LêQúiĐôn: “ Đi từ nguồn An Lạc đến Hà Nghiêu, Đất Cày, đèo La Hai, giáp đất Phú Yên, đến Sông Lôi(sông KỳLộ), Nước Nóng, Thượng Nhà, rồi tới nguồn Hà Lôi là chỗ các sách người Man người Đê ở, cọng 3 ngày. Từ đây thuê người Man dẫn đường đến chỗ ở của 2 vua Thủy Xá Hóa Xá của nước Nam Bàn mất 14 ngày.”

Ngày 5/8CĐ15 (16-9-1520). Thực lục viết: “nước Chiêm Thành sai sứ thần, đầu mục, Thông sự Phiên Sáo và chú của vua là Sa Một Đế Đại  đến triều cống
Ngày 17/Chạp CĐ15(25-1-1521) thực lục viết: “Quốc vương Chiêm Thành Sa Cổ Bốc Lạc sai chú là Sa Một Đế Đại cùng bọn chánh phó sứ Sa Bát Thoát Na Biện tiến cống, tạ ơn được sắc phong. Mỗi người được ban cho mũ, dây đai có sai biệt
Triều này hãy còn thông sứ đứợc. Tức ĐôLang quốc hay BangĐôLang hãy còn mở ngỏ ra biển như vua thì ở sâu trong nội địa nên sứ nhà Minh không dám đến.
Triều Công Sa Nhật Đế Tề(1521-1543). Thời nội chiến Lê-Mạc và TổngTrấn NguyễnHoàng(1558-1600).
Ngày 21/6 GT22(22-7-1543) thực lục viết: “Vương nước Chiêm Thành  Công Sa Nhật Đế Tề sai chú là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ dâng biếu văn khắc trên vàng lá, cống sản vật địa phương
Ngày 11/7 GT22(11-8-1543) thực lục viết: “Sứ thần nước Chiêm Thành bọn Bất Đăng Cổ Lỗ viện dẫn lệ cũ, tấu xin cấp cho mũ và đây đai. Lại than rằng nước này mấy lần bị An Nam đánh phá, đường sa trở ngại không về được, xin cho  người hộ tống xuất cảnh. Chấp nhận.
Tiếp theo mấy đời vua Minh: Mục Tông, Thần Tông và Hy Tông không thấy Minh Thực Lục đăng việc ban giao với Chiêm Thành nữa. Dòng vua Nam Bàn bị xóa sổ chẳng? Đất mà họ ở trở thành nước Thủy Xá Hỏa Xá? Không thông sứ vì bị diệt vong hay vương quốc Bang Đô Lang không thông ra biển. Vùng tiểu quốc Aryaru(PhúYên) có cái ThànhHồ bị quân NamChiêmThành tiến lên chiếm đóng và tiếp tục tranh chấp với ĐạiViệt. Suốt nội chiến Trịnh-Mạc vùng này bất yên. Khi NguyễnHoàng(NH) trở vào Nam năm 1600 và trở thành chúa Tiên của họ Nguyễn thì đất NamCùMông mói thuộc ĐạiViệt. NH đánh ChiêmThành lấy đất lập phủ mới, cho VănPhong làm lưu thủ. Đất này mới yên. Phủ PhúYên ra đời với 2 huyện ĐồngXuân và TuyHòa. Suốt chiến tranh Trịnh-Mạc biên giới phía Nam(đất ThuậnQuảng) do quân địa phương canh giữ. ThuậnHóa thì có TổngTrấn(TT) thái phó Đoan quận công(NH). QuảngNam thì có TT Trấn quận công(TQC). TQC mất, Dũng quân công thay thế.  Chỉ có 2 lần trung ương can thiệp đất NamCùMông. Năm 1573 sau khi loại được TrịnhCối và vua AnhTông(1557-1573), LêThếTông(1573-1600) phong TrịnhTùng(TT) làm Trưởng quận công TiếtChế. Trung ương được bình định, TT lo củng cố biên giới phía Nam, sai LươngVănChánh(LVC) “tiến tới sông ĐàDiễn lấy ThànhHồ-ĐNLT TiềnBiên."
Lần thứ 2 vào năm 1597. Năm 1593 TT lấy được ĐôngĐô(ThăngLong) cho nhà Lê từ tay nhà Mạc. Năm 1596 ĐôTướng TT phong chức tước cho LVC. Năm 1597 sai LVC đi di dân lập ấp ở đất NamCùMông(văn bản ký năm 1596-97 được lưu ở nhà thờ họ Lương ở PhụngTường, TuyHòa trông coi MiếuThờ LVC). Sai đi nhưng thành công là chuyện khác. Đến năm 1611 NH còn phải đánh lấy đất để lập ra phủ mới.
Đoạn lịch sử sau triều LêThánhTông mù mờ. Nhà Lê vào thời suy vi. Chiến tranh liên miên. Có mấy ai viết lách. Lịch sử tồn tại nhiều góc khuất. Vào triều nhà Mạc có sách ÔChâu CậnLục người ta biết một số việc ở ThuânHóa. Khi họ Trịnh vào kinh đô PhúXuân, LêQúiĐôn viết PhủBiên TạpLục. Người ta biết một số việc ở Xứ ĐàngTrong. Khi GiaLong thống nhất đất nước sử quan triều vua Nguyễn viết bộ ĐạiNam trong đó có ĐạiNam ThựcLục, LiệtTruyên Tiền và ChínhBiên người ta biết thêm một số việc nữa. Sử quan triều Nguyễn soạn KhâmĐịnh ViệtSử ThôngGiám CươngMục ghi những việc như sử cũ. Phần ghi chú thì thêm những khám phá mới để làm sự kiện rõ ra như ghi đánh bắt TràToại vào năm 1474 hay ghi chú về nước NamBàn như nói ở trên. Năm 1824, thời MinhMạng, LêĐăngHiển làm quan ở QuảngNgãi sao lục quyển QuảngNam PhủTập KýSự(QNPTKS) của Mai thị, người họ Mai. Bản sao lục thất truyền nên có dị bản. Bấy giờ người ta mới biết Trấn quận công(sử cũ ghi như vậy) coi giữ QuảngNam có tên là BùiTáHán(BTH). Dũng quận công thay BTH có tên là MaiĐìnhDũng(MĐD). LiệtTruyện viết nói Nguyễn ỨngDị(Tị), cậu của NguyễnHoàng(NH), có con là MĐD. NƯD(Tị?) cưu mang cháu NH, con của NguyễnKim(NK). NK chống nhà Mạc, lập ra nhà Lê TrungHưng nên Dũng đổi họ thành MĐD. LiệtTruyện cũng viết nói MĐD theo cha vào Nam năm 1571 đánh dẹp QuảngNam rồi ở đó. Nhiểu tác gỉa cho QNPTKS soạn từ năm 1558 đến 1571 và tác giả là MĐD. Nhiều “sử gia”người PhúYên cho LVC là người của NH là do thành kiến vì không tiếp cận sử liệu ghi như trên đây. NH và MĐD là con cô cậu. Hai nhà nặng nghĩa nặng tình. NH để QuảngNam tự quản. Có thể tin như thế. Tiết Chế TrịnhTùng(TT) trước kia và ĐôTướng sau này điều binh khiển tướng cả nước, sai LVC 2 lần đi bình định biên giới phía Nam. LVC là người của TT, không phải là người của NH. NH chỉ có trách nhiệm ở ThuânhHóa mà thôi!
Hai văn bản triều LêThếTông ký năm 1596 và 1597 tưởng thưởng chức tước và sai LVC đi bình định xứ NamCùMông là sử liệu rất quí cho lịch sử PhúYên. Nhà cầm quyền PhúYên không đưa về trung ương lưu giữ mà để địa phương lưu giữ làm mai một là sự sai lầm.
Sứ mạng đòi đất được trao cho các triều vua Nam Chiêm Thành. ĐVSK viết việc năm 1509 có đoạn: “Trà Phúc mang trộm hài cốt của cha là Trà Toại trốn về nước… sai con là Ma La sang cầu viện nhà Minh, lại đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương” nhưng trong Minh Thực Lục không thấy có sự xuất hiện sự kiện này. Chỉ thấy độc nhất triều Nam Bàn nối bang giao với nhà Minh mà thôi. Gỉa thiết là Trà Phúc chạy về vùng Phan Rang. Triều Nam Chiêm Thành không có thông lệ ban giao với TQ. 
Thực lục ngày 28-7-1499 đăng lời tâu của vua An Nam:“Đã tuân theo mệnh lệnh của triều đình, trả lại hết tất cả đất đai và nhân dân; ngoài 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa đều do thổ tù cát cứ, nước tôi hoàn toàn không can thiệp” Tức theo vua An Nam thì đất Chiêm Thành bị các đầu mục xâu xé tranh chấp. Còn Cổ Lai thì luôn luôn tâu bị An Nam chiếm đất, giết người và cố đòi cho được vùng cảng Tân Châu. Không thấy Cổ Lai nói tới tên Đại Chiêm Cổ Lũy. Như vậy ngoài Đại Chiêm, Cổ Lũy và vùng cảng Tân Châu là vùng tranh chấp triền miên. Gỉa thiết đưa ra là sau khi nước Nam Bàn bị diệt vong thì người Nam Chiêm Thành mới tiến ra tiếp tục tranh chấp vùng giáp biên với Đại Việt. Tranh chấp trước đó là tranh chấp Nam Bàn-Đại Việt.
Các triều vương Nam Chiêm Thành. Theo Nguyễn Văn Huy thì có các triều vương như sau: Năm 1478 Bố Trì Tri mất, em là Koulai lên thay. Năm 1505 Koulai bị ám sát. Con là Chakou Poulo kế nghiệp và trị vì đến 1530 thì mất. Con Trà Toại là Po Karutdrak được tôn lên làm vua. Con Karutdrak làm vua năm 1536. Po Kanarai(Chế Bãi) lên ngôi năm 1541. Năm 1543 đời GiaTĩnh triều Minh ThếTông thấy có 2 lần thông sứ vào tháng 7(GT22: 22-7-1543) và tháng 8(GT22: 11-8-1543). Năm 1553 Chế Bãi mất, Po Ất lên thay đóng quân ở Thành Hồ, chấm dứt hậu duệ dòng vua Trà Toàn-Trà Toại. Ngôi vương thuộc về người Chân Lạp: Năm 1579 một vị anh hùng người ở Đông Bắc Chân Lạp xuyên Trường Sơn tiến vào Thành Hồ giết Po Ất rồi tự xưng vương, hiệu Po Klong Halau. Vua Khmer Chetta I đánh Po Klong Halau vì không chịu sát nhập Panduranga vào lãnh thổ Chân Lạp. Năm 1603 Po Klong Halau qua đời, con là Po Thikdhik lên thay, hiệu Po Nit. Năm 1613, Po Nit mất em là Po Chai Păran lên thay. Năm 1618 Po Chai Păran mất, con là Po Ehklang lên ngôi. Năm 1622  Po Klong Menai  giết Po Ehklang rồi tự xưng vương, hiệu Po Mahtaha. Nội loạn. Rồi ngôi vương lại thuộc về người Thượng: Năm 1627, một tù trưởng người Thượng gốc Churu tên Thốt đứng ra dẹp loạn, được tôn lên làm vua, vua Po Romé(1627-1651). Noi noi gương người hùng gốc Thượng Churu, chủ sự Văn Phong ở phủ Phú Yên làm phản năm 1629 bị Sãi Vương giết. Po Romé kết sui gia với Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên. Trước đó Sãi Vương từ Phú Yên đã vượt biển kết sui gia với vua Chân Lạp Chey Chetta II.
Không biết Nguyễn Văn Huy viết về các triều vương ở Phan Rang lấy tài liệu ở đâu. Không biết độ chính xác ra sao. Trên mạng truyền thông có các tác giả nói các dân tộc Chămpa sống ở Panduranga và tất cả các tư liệu cổ viết bằng tiếng Chăm hiện đại(Akharthrah) còn lưu trong khu vực Panduranga không còn nhớ một kỉ niệm gì dù địa danh hay biến cố lịch sử liên quan tới khu vực Bắc từ Bình Định đến Quảng Bình(Bắc Chiêm Thành). Ta thấy các bài viết lẫn lộn các địa danh cũng như nhân vật ví dụ họ viết Bàn La Trà Duyệt tên là Po Kathit. Trà Duyệt có 2 con là Po Kabrah và Po Kabih. Po Kabrah là Trà Toàn, Po Kabih là trà Toại. Nhưng họ lại viết Po Kathit là con của Parachan là La Ngải thì thời điểm không phù họp rồi. Họ viết nói Po Dam(Po Kathit) cùng chị là Po Sahinư bị Đại Việt an trí trốn chạy xuống phía Nam lưu vong thời La Ngải thì lẫn lộn với chuyện Trà Phúc trộm hài cốt của cha là Trà Toại trốn về Nam để lại 1 người chị ruột chết trong binh biến triều Lê Uy Mục năm 1509. Nhưng dù sao trong dân gian có chuyện tháp thờ Po Dam, thờ Po Kabrah, thờ Po Kabih đáng cho ta suy nghĩ. Nếu đúng có triều Trà Phúc và hậu duệ của ông ở Phang Rang như Nguyễn Văn Huy nói trên đây thì ta lý giải được 3 cái tháp nói trên có thực. Người Panduranga đã từng tôn vinh Trà Duyệt, Trà Toàn, Trà Toại thuộc triều vương thứ 14 nổi lên đánh đổ triều vương thứ 13 là Ma Ha Qúi Lai-Qúy Do do Đại Việt đặt để sau khi bắt vua Bí Cái đem về an trí chăng?
Mùa Kỷ Niệm 40 Năm Ngày 30 tháng 4.
Hai bên Thắng/Thua Cuộc tranh nhau nói “chúng tôi yêu Nước.” HBC.



0 nhận xét:

Đăng nhận xét