Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

40 Năm Hội Ngộ



tên gọi


lễ hội của nhóm cựu học sinh liên lớp 12 cuối cùng của trường Bồ Đề Tuy Hòa. Tôi may mắn có một cái duyên được giấy mời đến đó để khỏi ngượng là khách không mời mà đến.  Tôi cứ tưởng lần này lễ hội sẽ lớn. Mình đến sẽ thu thập được nhiều tài liệu về một ngôi trường mà mình đã từng quan tâm.
Sẽ lớn vì mấy mươi năm mới có 1 ngày, ngày kỷ niệm tròn năm đánh dấu năm ngôi trường và tên của nó biến mất trong một biến cố lớn của lịch sử. Một thời kỳ lịch sử sang trang. Tổ chức sẽ lớn vì nhóm đứng ra tổ chức rất đặc biệt. Họ và thầy của họ nói là vị hiệu trưởng sau cùng chứng kiến sự đổi thay lớn của trường. Kỷ niệm chắc họ khó quên. Do đó họ sẽ sưu tầm được nhiều tài liệu để làm kỷ yếu nói lên đầy đủ lịch sử thân thương của trường họ.
Kỷ yếu đâu không thấy mà chỉ thấy tập san 40 Năm Hội Ngộ, một thứ tập san lưu hành nội bộ của nhóm, không có tính cách toàn trường và có tính chất lịch sử đồi dào tài liệu. Có một khao khát muốn tìm về quá khứ. Bề ngoài tránh thuật ngữ kỷ yếu để tránh viết lan man nhưng bên trong lời mở đầu tập san vẫn viết “…đi tìm quá khứ, tìm lại dấu chân xưa… Tập Kỷ Yếu Trung Học Bồ Đề ra đời… ” Nhu cầu tìm về quá khứ cũng thấy trong lời phát biểu của vị thầy niên trưởng, thầy Thích Minh Tâm. Thầy nói không ngại đường xa lặn lội từ Đồng Nai về đây, về trên mảnh đất trường đã tọa lạc này để tìm lại hình ảnh cũ, gặp lại trò xưa. Thầy nói cảm ơn chính quyền, dù có dự hôm nay hay là không, cho phép ban tổ chức, tổ chức lễ trên mảnh đất cũ mà trường cũ tọa lạc để thầy được đáp ứng khao khát gặp lại hình ảnh cũ, trò xưa.
Nhưng đọc tập san và hỏi chuyện người đến tham dự thì không thấy gì nhiều về lịch sử, hình ảnh xưa. Tôi có cảm nhận bây giờ trường có dáng dấp là một ngôi trường mới, trường Nguyễn Văn Trỗi đang mỉm cười nhìn xuống quần thể người dự lễ nói là gười cũ tìm về trường xưa nhưng rất ít cái gì cũ được đám người cũ này đưa ra hay đang cảm nhận.
Vài nét quá khứ được tìm thấy. Bài viết mong đợi có nhiều sử liệu là bài của cựu Giám Học Thích Thiện Đạo và vị hiệu trưởng nói là hiệu trưởng sau cùng bàn giao trường để dẫn học sinh qua học nhờ ở trường Nguyễn Huệ cho hết niên học. Hai vị chẳng đưa ra được gì ngoài việc luận về  văn hóa và cuộc sống , đề cập giáo dục của trường theo tinh thần Phật Giáo nhập thể, nhân bản đã đào tạo được 1 số “hiền tài” nhưng cụ thể không thấy thầy đưa ra những ai thành danh làm tiêu biểu như những kỷ yếu của các tổ chức khác đã đăng. Thầy giám học mà nói bề dày của trường là 19 năm(1956-1975) thì không đúng. Thầy Đàm Khánh Hạ không biết ngại điều chi mà chỉ thấy luận về mẹ về Bồ Đề Tâm và về Tết, không bàn lịch sử của trường. Một bức ảnh quí gọi là ảnh tư liệu được đưa ra nói là ảnh của 30 vị từng dạy ở đây nhưng lại không đáng tin cậy vì thấy ghi chú sai năm hay sai người. Một số người không thể đã dạy ở trường này vào thời điểm đó. Cụ thể là thầy Lê Kim Hùng xác nhận là chưa từng dạy ở đây.  Kỷ Yếu làm ra cốt để giới thiệu lịch sử của tổ chức nên phải thận trọng như viết sử. Học giả thường dùng những trang sử, sách báo, kỷ yếu trích dẫn để viết bài. Không nên khinh xuất.
Nhưng một  số nét xưa của trường cũ rồi cũng được tìm thấy ở bài viết phóng khoán hơn như bài của thầy Đinh Văn Cận và Trương Xuân Huy. Nét xưa được tìm thấy trong bài viết và hình ảnh cũ mà thầy đã đưa ra.  Viết về lớp 12A1 niên khóa 1972-1973 thầy để lộ hình ảnh học sinh thời VNCH. Đồng phục trắng lợp “nữ áo dài quần lụa trắng. Nam áo trắng quần xanh.” Hình ảnh đó rất đặc thù không tìm thấy lại một thời gian dài sau 1975. Hình ảnh cho là mang tính chất tiểu tư sản. Tôi còn nhớ sau ngày Giải Phóng tôi chở nhà tôi qua trường Hòa Thành dạy học bị các chú bộ đội gác cầu Đà Rằng quở phạt: “giờ này mà còn nả nước. Áo phết gót, quần thì quét đất!” Thầy còn đưa ra hình ảnh lớp học thời xưa. “Ngồi chật ních. Hai dãy bàn băng kê sát vách tường, chỉ chừa lối đi từ cữa xuống cuối phòng rộng khỏang 40cm.” Dù con số không chính xác đi nữa mô tả cũng nói lên được hình ảnh lớp học 1 thời trường tư khai thác hết công suất nhất là ở lớp 12 là lớp quan trọng và học phí cao. Thầy kể chuyện có 2 nữ sinh ngồi 2 bên lối đi tinh nghịch mỗi đứa xỏ một ngón tay vào đai quần của thầy kéo lại không cho thầy lên bục giảng. Kết quả 2 cô bị thầy hiệu trưởng là Thích Đồng Tiến giữ lại ở phòng phạt cầm túc và đánh mỗi đứa 3 roi. Thầy nói “Châu Thị Đức nhanh nhẩu đáp: “Tại thầy đó. Mỗi đứa bị đánh 3 roi có lằn ở mông thoa dầu mà đến nay còn đau.””Đến đây ta lại được cảm nhận 1 hình ảnh đặc thù nữa. Trái với thầy giám học Thiện Đạo nói về giáo dục nhân bản thì thầy Đồng Tiến lại đánh học sinh. Kỳ quặc lại là học sinh nữ to đùng! Ta có dịp chiêm nghiệm lại sinh hoạt trường tư ở 1 thời dĩ vãn. Ở lớp 12 A1 niên khóa 1973-74 thầy mô tả số nam tương đương với số nữ. Trong đó có 4 thầy tu và 1 ni cô nói lên hình ảnh đặc thù của trường Phật Giáo thời đó. Hình ảnh sinh hoạt của học sinh thời đó được thầy mô tả trong cuộc đi picnic ở Đại Lãnh. Một hình ảnh đặc thù và lạ lùng là “lể” ốc luộc (khều ruột ốc ra khỏi vỏ) bằng gai cây bàn chải. Đoạn viết về lớp 12A1 năm 1974-75 thầy đề cập đến chuyện đi chơi ăn củ sắn nước(củ đậu) ở vùng chân núi Chóp Chài, một nông sản địa phương đặc thù nơi đây ngày nay không còn nữa. Hồi đó học sinh đứa nào cũng 1 phen rủ ra vùng này vui chơi ăn sắn nước và vào nghỉ mát ở trong rừng dương. Đọc đến đây người ta sẽ nhớ hình ảnh ngày xưa gần gụi với tuổi học trò “cắm trại rừng dương”.  Thầy Trương Xuân Huy thì đưa ra hình ảnh học sinh được huy động đi lao động hè, một thứ sinh hoạt ở học đường lạ hoắc mà trước đây không có. Từ xa xưa thời Pháp Thuộc đã có cảnh mùa hè là mùa nghỉ ngơi của tuổi trẻ: “Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết/Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về/Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê/Ôi tất cả Mùa Xuân trong Mùa Hạ/Một nét mặt trăm tiếng cười rộn rã/Lời trên môi chen chúc nói nghìn câu/Chờ đêm nay sáng sớm bước lên tàu/Ăn chẳng được lòng nôn nao khó ngủ.” Không biết thầy Xuân Huy không nhớ chi tiết hay thầy ngại không dám vẽ phong phú bức tranh mà hình ảnh ngược với cảnh trên là cảnh học sinh đi lao động hè năm ấy. Cảnh nam thanh nữ tú(lớp 12 mới lớn) gác lại văn ôn để thi hết cấp tham gia lao động hùng dũng như 1 binh đoàn. Thầy không vẽ bức tranh chi tiết chỉ bình vài từ ngắn trong ngoặc đơn “nghe oách quá!”khi đề cập tới đoàn thầy trò đi lao động hè biên chế tổ chức như nhà binh: Đại đội, tiểu đoàn với đủ tổ chức hậu cần và các thứ nhưng họ chưa được học kỷ năng bước vào vùng có bom mìn còn sót lại. May mắn cho thầy trò Miền Nam năm ấy là không có mìn nổ, không có ai thương vong. Chỉ có ổ heo rừng con bị sa lưới để một phen thầy trò được đánh chén. Lãnh đạo giáo dục hồi đó ngày nay nghĩ lại có giật mình hay không. Liệu thành quả lao động chân tay của các trinh nữ, tân nam “áo dài phết gót, quần quét đất” từ lâu chỉ nghĩ đầu tư tương lai bằng con đường lao động trí óc dùi mài kinh sử bị rủi ro bom mìn. Thành quả lao động cơ bắp có bù lại được mạng có thể là của 1 bác sĩ hay kỷ sư tương lai quen lao động trí óc hay không.  Những bài viết phản ảnh sinh động một thực tế lịch sử như vậy mới đáng đọc kỷ yếu.  50  năm sau thường lệ sự kiện lịch sử thường được bạch hóa ngại ngùng chi kỷ niệm 40 Năm Ngày Mất Tên Trường không dám đặt tên và những bài viết đụng chạm không dám viết để tâm hồn trở nên cằn cỗi cuộc đời bị gò bó hình ảnh thực lịch sử bị phai mờ.
Dữ liệu thu thập bên lề. Vì có quan tâm đến ngôi trường 57 năm trước tôi từng theo học(http://ongtam2013.blogspot.com/2015/01/ky-uc-ve-truong-bo-e-tuy-hoa.html) nên tôi nhân dịp này tìm được 1 số thông tin nêu ra đây để cùng chia xẻ.
Đầu tiên tôi tìm vị hiệu trưởng đầu tiên. Hỏi thầy Nguyễn Bá Quát thì ông nói hiệu trưởng đầu tiên là ông rồi tới thầy Nguyễn Đãm, thầy Nguyễn Vỹ, thầy Đồng Tiến. Để kiểm tra, tôi đến hỏi thầy Đãm thì được văn bản cụ thể: Nghị định số 1.248-GD/HV/NĐ ngày 6-8-1960 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho phép tĩnh hội Phật Giáo Phú Yên mở tại thị xã Tuy Hòa một tư thục Tiểu Học và Trung Học Đệ Nhất Cấp Việt Nam mệnh danh là “Tư Thục Bồ Đề” đặt dưới quyền điều khiển của ông Nguyễn Đãm sinh ngày 5-11-1935 tại Hòa Bình(Phú Yên). Tư Thục gồm 5 phòng học và được phép thâu nhận tối đa 300 học sinh ngoại trú mỗi buổi học(điều I của NĐ).  Bộ Trưởng BQGGD Trần Hữu Thế ký tên.
Bây giờ tôi mới hay tên chính thức của trường là “Tư Thục Bồ Đề” và ngày chính thức mở trường là ngày 6-8-1960. Vậy từ năm 1957 đến đây ai là hiệu trưởng tạm thời? Ai là người đứng tên xin mở trường? Ai đã ký tên vào các học bạ? Cần tìm hiểu. Trước đây có thầy Viên Dung. Thầy có chức vụ gì?
Nhờ văn bản này mà mặt mũi ban đầu của trường được biết tới. Trường có 5 phòng. Tôi nhớ không lầm thì có phải phòng thứ 5 là cái phòng nhỏ tí xíu dùng làm văn phòng? Nhà trường nối thêm 1 loại sảnh đường gọi là cái preau để cho học sinh vui chơi và sinh hoạt văn nghệ văn gừng. Là cựu học sinh Bồ Đề không ai là không nhớ cái “nhà” thân thương này! Có lẽ sau 1975 cái preau mới bị đập phá đễ xây cánh lầu bên trái ở phía Tây của trường và cái logo hình 2 lá Bồ Đề thêm 1 chùm trái ngự trị từ lâu trên đỉnh văn phòng cũng bị đập phá? Tôi cố tìm hình ảnh cái logo này mà chưa có. Ai có xin gởi về cho tôi.
Viết về Tư Thục Bồ Đề mà thiếu phần nói về thầy Huỳnh Diệu là rất thiếu sót. Sợ “phạm húy” mà né viết về thầy là điều không nên. Thầy không có bằng Tú Tài nên không đứng tên hiệu trưởng được nhưng mọi việc điều hành để trường hoạt động thành công đều do thầy cả.
Đọc tập san 40 Năm Hội Ngộ tôi mới biết tên vị cựu Giám Học là thầy Thích Thiện Đạo. Một vị Giám Học nữa là Thích Thiện Trì, thầy Nguyễn Đãm nói. Thầy Trì nói ông là hiệu trưởng sau cùng bàn giao trường để đến trường Nguyễn Huệ. Tôi hỏi xin văn bản thì chưa được thầy Trì trao cho.
Qua lễ hội tôi biết tình trạng về các lớp 12 ở trường tư. Thầy Đinh Văn Cận nói các lớp 12 niên khóa sau cùng bị xé lẻ để bổ sung vào các lớp 12 ở trường Nguyễn Huệ tiếp tục học từ 30-4-1975 cho hết niên khóa. Thầy Thiện Trì thì nói rõ hơn. Các lớp 12 trường tư tập trung về trường Bồ Đề để thầy dẫn sang trường Nguyễn Huệ. Thầy nói các lớp bị xé lẻ. Riêng lớp học sinh ngữ Pháp Văn thì được giữ nguyên và trở thành lớp 12H của trường Nguyễn Huệ do giáo sư Pháp Văn Trương Xuân Huy làm chủ nghiệm, lớp của cựu học sinh Diệp Xang.  Lớp 12 ở trường Bồ Đề được mở ra từ năm nào? Mỗi người trả lời một năm. Kiểm nghiệm lại thì thông tin này chính xác nhất. Thông tin nói năm 1971 bỏ chế độ phải đậu Tú Tài I mới được lên lớp Đệ Nhất. Từ đó các trường tư Tân Dân, Bồ Đề, Văn Minh, Minh Tân, Đặng Đức Tuấn được phép mở các lớp 12. Cụ thể thầy Đinh Văn Cận phụ trách các lớp 12A1(1972-1973), 12A1(1973-1974) và niên khóa sau cùng 1974-1975 ở trường Bồ Đề.
Nên có tư tưởng rộng rãi cho phép viết lách tự do để có những thông tin khá chính xác về chuyện quá khứ. Mong rằng những lần lễ hội sau này tổ chức được phóng khoáng hơn. Mời vào các link sau đây xem sinh hoạt các cựu học sinh dù trường đã mất tên từ lâu.
https://www.youtube.com/watch?v=naqcll9ciNM         Canh Dan 2010.
Xuân Ất Dậu(2015).
Cựu học sinh Đệ Thất đầu tiên(1957-58)
Huỳnh Ba Cung.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét