Giới Thiệu
Luật
Quốc Tế ngày nay cấm nước này dùng vũ lực xâm lăng nước khác. Không vì thế mà
khi bị đe dọa xâm lăng thì rụt rè như gà thấy cáo. Có nhiều phương tiện phi vũ
trang giữ được nước toàn vẹn lãnh thổ như ngoại giao(phát đơn kiện lên Liên Hiệp
Quốc), biểu tình và xịt “vòi rồng” như các bạn thấy trong ảnh trên đây. Đầu năm nay
truyền thông loan tin Philippines đệ đơn kiện TQ và Nhật Bản dùng vòi rồng xua đuổi tàu Đài
Loan xâm phạm lãnh hải.
BAN GIAO NHẠY CẢM
Trang
web RFA ngày 1-1-2013 dẫn báo Tuổi Trẻ
nói Thứ Trưởng bộ Quốc Phòng VN Nguyễn Chí Vịnh nói không nên biểu tình chống
TQ. Nghĩa là nuốn có 1 sự ban giao tế nhị mềm dẻo(dư luận trên mạng nói là tư
tưởng đầu hàng). Ban giao nào lại không dùng sự tế nhị, thuật ngữ ngày nay gọi
là nhạy cảm, để các nước đối đãi lẫn nhau một cách hòa bình tránh dùng bạo lực
để trấn áp lẫn nhau. Không tế nhị thì chỉ có
nước là “oánh”, công việc của bộ Quốc Phòng. Giao tiếp để tránh dùng vũ
lực là việc của bộ Ngoại Giao. Đàm và Đánh là cách để giữ nước mà thời đại nào
cũng có và nước nào cũng có. Điều để con dân và lịch sử đánh giá là mức độ ý chí và bản lãnh trong đàm và đánh. Nhân đây tìm đọc lại những trang sử đàm
và đánh của cổ nhân trong ban giao với láng giềng Phương Bắc và Phương Nam.
1-Người Phương Bắc là người Hán gốc sống du mục cưỡi ngựa xuất phát ở
phía Bắc Trung Quốc(TQ) tiến xuống phía Nam(Hoa Nam và các vùng lân cận) sống về
nông nghiệp và chèo thuyền. Thoạt đầu nước TQ có 9 châu rồi sau đó tiến chiếm
các vùng ngoại vi thành lập châu mới để trở thành nước lớn. Đơn vị nhà nước là
châu, dưới châu là quận. Năm 111 TCN Lộ Bác Đức đánh nước Nam Việt của Triệu Đà
thì đất nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương(đã mất nước vào tay nhà Triệu năm
208 TCN) trở thành 1 châu của nhà Tây Hán, đất Giao Châu. Từ đó đất này trải qua ngàn năm Bắc Thuộc. Rồi dân nổi
lên “oánh” để được độc lập từ năm 939 thời Ngô Vương Quyền. Nhưng về sau dân đất
ấy vẫn không thoát khỏi sự chi phối kìm kẹp và xâm lăng của TQ. Đất này vẫn là đất
nước phải chịu sự phong vương và chịu triều cống mới được người Phương Bắc để họ
yên(Bản đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Lưu Cầu(Okinawa), Chiêm Thành…cũng cùng số phận
như Giao Châu, gọi chung là các nước nhỏ làm chư hầu). Đó là địa lịch sử, trật
tự nước lớn nước nhỏ ngày xưa. Nay, sau khi bị liệt cường xâu xé TQ làm mất địa
vị nước lớn ở đây, TQ lại chỗi dậy cũng muốn trở lại trật tự như thế, một vấn đề
Địa lịch sử muôn nghìn năm. Con dân các nước nhỏ ở xung quanh phải tỉnh táo. Lịch
sử cho thấy 1 khi nước nhỏ đánh mất 1 tấc đất, 1 lít nước biển rơi vào tay nước
lớn sông liền sông núi liền núi, biển liền biển thì khó mà đòi lại được.
2-Lịch sử bang giao. Ngày nay TQ chỗi dậy muốn vươn ra biển(1 số gới chức
binh vực hành động này nói vì TQ bị Nam Hàn-Nhật-Mỹ bao vây!). Biển Hoa Đông và
Biển Đông đều là mục tiêu họ nhắm tới. Người Nhật, người Phi phản đối kịch liệt,
người Mỹ xen vô vì sợ mất trật tự thế giới. Con dân Việt sốt ruột cứ phải nghe
câu từ “bang giao nhạy cảm.” Cụm từ “Nhạy cảm”, “nhạy cảm”cứ lởn vởn trong đầu
con người ta. Nhân đây thử mở từng trang lịch sử xem ông cha ngày xưa xử sự với
lân bang ra làm sao.
2.1-Bang giao thời nhà Tiền Lê. Ngay từ thời mới lập quốc, bang giao tế nhị đã thấy ở thời
Lê Đại Hành nhằm cân bằng 2 thế lực thù địch Bắc Phương là nhà Tống và Phương
Nam là Chiêm Thành.
Năm
979 Đỗ Thích ám sát Đinh Tiên Hoàng. Hoàng
thái hậu lấy áo Long Cổn khoát lên người Lê Hoàn(LH) mời lên ngôi. Tức
thì năm 980 nhà Tống đem quân sang. Năm 981 LH chém được Hầu Nhân Bảo, bình định
được biên giới phía Bắc. Quay sang biên giới phía Nam, năm 982 vua thân đi phạt
Chiêm để tránh cái họa như năm 979 quân
Chiêm theo Ngô Nhật Khánh(NNK), cháu của Ngô Quyền và là 1 trong số 12 sứ quân,
sang đánh vào cữa Đại Ác và cữa Tiểu Khang giúp NNK trả thù Đinh Tiên Hoàng đã
thôn tính sứ quân của ông. Hồ Văn Châm(HVC) trong bài viết “Một Người Việt Làm
Vua ở Nước Chiêm Thành-Quảng Giáp Lưu Kế Tông”- nói năm 980 tướng Chiêm Bê My
Thuê ước hẹn với Tống đánh vào Đại Cồ Việt.
Đánh
xong thì đàm, đàm trong thế mạnh. Năm 983
vua Lê sai sứ sang thông hiếu với nhà Tống. Năm 985
sứ Tống sang ta. Vua sai sứ sang Tống và
xin chức Tiết Trấn. Người mình cai trị xứ của mình sao phải đi xin chức? Có phải
là vì bang giao tế nhị? Tế nhị như thế là để làm phép trong giao tế chứ không cuối
đầu xin xỏ ai hết. “Xin” là xã giao chứ không thực chất xin, vua Lê đánh giặc dựng
nước chứ có ai cho đâu. Không cho cũng tự do trị được nước kia mà. Năm
Bính Tuất(986)Tả Bổ Khuyết Lý Nhược
Chuyết và Quốc Tử Giám Bác Sĩ Lý Giác đem chế sắc vua Tống sang phong vua Lê làm
An Nam đô hộ Tĩnh Hải quân Tiết Độ Sứ. Nêu đủ chức tước của 2 sứ giả để thấy
cái giá trị và tầm mức bang giao 2 nước Đại Cồ Việt-Tống. Vua nhận chế cung
kính, thết đãi sứ rất hậu, hàng ngày đem những thứ quý lạ bày chật cả sân, để tỏ
sự giàu có(ĐVSKTT). Tạ Chí Đại Trường nói Lê Hoàn(LH) khoe giàu với sứ Tống bằng
cách bày đầy của ở sân phơi để hù dọa sứ Tống(bày đặt phơi phong của quí để
khoe của. Hoàng Xuân Hãn cũng như tác giả này nói của cải đó là của lấy ở Chiêm
Thành năm 982. Sau này Lý Công Uẩn cũng còn dùng của này để xây cung điện và
phát triển chùa chiền thu phục giới tu sĩ Phật Giáo làm cho Lê Văn Hưu than vua
Lý chỉ lên ngôi có 2 năm mà tiêu xài tiền của vào việc xây dụng cung điện chùa
chiền không biết chừng nào mà kể. Tế nhị là thế đó, khôn khéo đặt vào thế nước
mạnh dân giàu. Dân nghèo, nước yếu thì chỉ cúi đầu chứ tế nhị cái gì, ai nể mà
nói tế nhị. Hãy nghe chủ khách đối đáp. LH nói "Nước
tôi bé nhỏ, sông núi xa xôi, nghìn dặm cách trời, ở lánh góc đất, sứ thần
đi lại, lặn lội núi sông, há chẳng khó nhọc lắm ư?"(ĐVSKTT). Khách đáp
"Bản triều cõi bờ muôn dặm, các quận có đến bốn trăm, đất có chỗ bằng phẳng, cũng có chỗ hiểm trở,
một phương này lấy gì làm xa"(ĐVSKTT). “ở lánh góc đất ” đối lại “muôn
dặm” và quận thì có đến hàng trăm. Đọc đến đây ta thấy sởn gai ốc. Lại lấy tư
thế nước lớn nước rộng dân đông để răn đe nước nhỏ. Không phải lớn là lớn quảng
đại bao dung mà lớn có nghĩa có khả năng không từ bỏ 1 góc xó xỉnh nào, không tha
thứ bất cứ ai dù bé nhỏ và biết khép nép chịu ẩn mình nơi cùng cốc thâm sơn!
Ngày nay cũng dễ hiểu một tấc đất ở biên giới, 1 lít nước trong biển của lân
bang đừng hòng người TQ từ bỏ.
Cũng
trong năm này(986) sai Ngô Quốc Ân sang Tống đáp lễ và nói việc người Chiêm Bồ La Át đem hơn 100 người xin nội phụ
nhà Tống. Việc người Chiêm chạy sang Tống tị nạn được Hồ Văn Châm(HVC) nói
rõ trong bài viết có tên nêu trên đây. Việc đó xảy ra năm 983. Năm đó sử Việt
chỉ viết vắn tắt sai sứ sang thông hiếu với nhà Tống, sai người con nuôi(ghi
chú của ĐVSKTT nói không rõ tên người con nuôi đó) bắt quảng giáp Lưu Kế Tông
trốn ở lại Chiêm Thành, đem chém. Còn HVC
nói năm 983 Lê Đại Hành rút về Hoa Lư cử Lưu Kế Tông(LKT) ở lại kinh đô
Đồng Dương chiếm đóng Bắc Chiêm Thành. Indravarman IV trốn vào Nam(Đồ Bàn). Năm
985 Indravarman IV cử sứ bộ sang Tống triều khiếu nại Giao Châu xâm chiếm đất
đai, phá hủy tông miếu. Nhà Tống vừa thua trận nên phủ dụ người Chiêm. Năm 986
Indravarman IV chết LKT tự lập làm vua cử sứ giả sang triều cống nhà Tống. Người
Chiêm nổi dậy chống. LKT đàn áp nên người Chiêm phải chạy sang Quảng Châu tị nạn.
Tống cử sứ sang Hoa Lư năm 986 như nói ở trên và sai Ngô Quốc Ân cũng trong năm
ấy(986) sang Tống đáp lễ và nói việc người Chiêm Bồ La Át đem hơn 100 người xin
nội phụ nhà Tống. Nếu có bằng chứng sứ Indravarman IV và sứ của LKT sang Tống
thì việc nói trên là chuyện có thực. Trong bài viết nói trên ghi chú số 1 tác
giả HVC dẫn Tống sử nói năm 986 đời Tống Thái Tông, năm Ung Hy thứ 3 sứ giả của
Lưu Kế Tông là Lý Triều Tiên sang cống.
Vào
đời Lê Thánh Tông sau khi hạ thành Đồ Bàn cũng có sự kiện tụng và ban giao tế
nhị bộ 3 nhà Minh-nhà Lê-Chiêm Thành như thế.
Năm
987 Lý Giác(Quốc Tử Giám Bác Sĩ là 1
học giả) sang. Vua cho thiền sư Pháp Thuận giả làm người coi sông(lái đò) đối
đáp văn thơ với sứ. Sứ ngâm “Nga nga lưỡng
nga nga/Ngưỡng diện hướng thiên nha.” Người chèo đò(thiền sư Pháp Thuận)
đang cầm thuyền chèo họa lại “Bạch mao
phô lục thủy/Hồng trạo bãi thanh ba” Sứ ngạc nhiên(dân dã mà biết họa vần) nên
làm thơ tặng vua Lê. Pháp Thuận dâng
lên. Vua gọi sư Khuôn Việt đến xem. KV nói thơ này sứ tôn bệ hạ không khác gì
vua Tống. Vua hậu đãi sứ và sai KV làm bài hát để tiễn sứ. Có tài liệu nói bài
thơ tứ tuyệt nói trên có xuất xứ khác. Không phải Lý Giác và Pháp Thuận là đồng
tác giả. Nhưng sử đã chép như thế thì sử đã nói lên ngay thời Tiền Lê mà nhà
lãnh đạo biết quí trọng văn nhân, biết sức mạnh trí tuệ ngang bằng hay hơn cơ bắp,
biết giá trị cái ngày nay gọi là Think Tank không đố kỵ dẹp bỏ nó. (Think Tank
là viện chính sách như IDS ở VN gọi là viện nghiên cứu và phát triển mà Nguyễn
Quang A làm viện trưởng hoạt động được 1 thời gian rồi tự giải tán).
Năm
988 sứ Tống sang gia phong vua làm
Kiếm Hiệu Thái Úy. Năm 990 nhà Tống
sai Tống Cảo, Vương Thế Tắc mang chế sắc phong thêm 2 chữ “Đặc Tiến.” Đinh Thừa
đem thủy binh sang tận Liêm Châu đón sứ. Vua ra ngoài giao để đón, bày thủy
quân và chiến cụ để khoe(ĐVSKTT). Vua cầm cương ngựa cùng đi với sứ. Đến cữa
Minh Đức vua bưng chế thư để lên điện không lạy nói dối là đi đánh giặc man ngã
ngựa đau chân. Sứ tin thật. Bày yến đãi sứ và bảo sau này nhận Quốc Thư ở địa
giới. Sứ về tâu, vua Tống bằng lòng. Năm 991
sai sứ sang Tống đáp lễ. Năm 993
Vương Thế Tắc và Lý Cư sang phong chức Giao Chỉ Quận Vương. Năm sau(994) sai sứ
sang Tống đáp lễ. Về phía Nam năm 994
cháu của vua Chiêm là Chế Cai vào chầu vì trước đó sứ thần Chế Đông bị chê
trách trái lễ.
Nhà
Tống ngại chinh chiến. Vua Lê thả dân biên giới lấn cướp đất Tống(ĐVSKTT). Nhà
Tiền Lê giao tiếp với TQ trong tư thế kẻ mạnh. Trương Quan ở Quảng Tây, Vệ
Chiêu Mỹ ở trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu đều tâu lên vua Tống nói thuyền của
Giao Chỉ xâm phạm cướp bóc rồi đi. Châu Tô Mậu của nước ta đem hương binh xâm
lược Ung Châu bị đánh phải trở về. Vua Tống ngại dụng binh không hỏi đến. Rồi quan
biên phòng TQ lại nói dối Lê Đại Hành bị họ Đinh đánh đuổi, đem dư chúng ra ở hải
đảo, cướp bóc tự cấp, nay(năm 995) đã chết. Trương Quan dâng biểu mừng. Vua Tống
sai Trần Sĩ Long sang dò xét, biết không có chuyện gì. Năm 995 Vua Lê sai Đỗ Hanh sang nhà Tống đáp lễ.
Thế
rồi nhà Tống xử tội bọn Trương Quan(TQ), Vệ Chiêu Mỹ(VCM). TQ bịnh chết, VCM bị
xử chém. Trần Nghiêu Tẩu(làm Quảng Tây Chuyển Vận Sứ) thay Trương Quang coi Quảng
Tây. Bọn Văn Dũng(trấn Triều Dương nước ta) chạy trốn sang trấn Như Tích(Khâm
Châu) liền kề trấn Như Hồng. Trấn trưởng Trần Lệnh Đức chứa chấp. Vua Lê sai trấn
trưởng Triều Dương và Hoàng Thành Nhã đuổi bắt kẻ làm loạn. Lệnh Đức không chịu
thả về. Sau đó Nghiêu Tẩu đến Như Tích tra xét thì 113 người trai gái già trẻ
được chứa chấp trước đó bị trục xuất, gọi Thành Nhã sang nhận.
Nói
chuyện ban giao năm 996. Lý Kiến
Trung mang chiếu sách sang ta. Vua Lê sai sứ sang Tống tạ ơn. Vua Lê lại nói việc
bắt được 27 giặc biển giao trả lại cho quan chuyển vận sứ và đã răn cấm các khe
động không quấy rối nữa. Lý Nhược Chuyết mang chiếu và đai ngọc sang cho vua
Lê. Vua đón Nhược Chuyết ơ ngoài giao, có ý ngạo mạn, không làm lễ để tỏ ra cao
quí khác thường, bảo Nhược Chuyết việc cướp trấn Như Hồng là do giặc biển. Nếu
Giao Châu có làm phản, thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt,
há chi chỉ dừng ở trấn Như Hồng. Nói xong mới cuối đầu tạ lỗi.
Việc ban giao năm 997.
Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương. Vua sai sứ đáp lễ. Trước kia sứ Tống
mượn cớ đòi cống nước mắm, nhân thể bắt đóng góp. Tống Nhân Tông lên ngôi chỉ
sai quan giữ biên giới đến nhận mệnh, không sai sứ sang nữa. Năm 1004 Vương Minh Đề sang Tống. Lịch thông
sứ với Tống dày đặc: vào năm 983, 985, 986, 987, 988, 990, 991, 993, 994, 995,
996, 997, 1004. Chiêm Thành chỉ có 2 lần thông sứ là vào năm 994 Chế Cai vào chầu
vì trước đó Chế Đông sang bị vua chê trái lễ. năm 1005 Lê Đại Hành mất. Xem như
vậy thì triều Lê Đại Hành đâu có HÈN VỚI GIẶC còn ác với dân thì sao. Chắc
cũng không ác lắm đâu mặc dầu Hoàng Xuân Hãn từng nhận xét triều Đinh và Tiền
Lê là triều ở chỗ rừng rú(Hoa Lư) và xuất thân từ quân nhân(Lê Hoàn là thập đạo
tướng quân và Đinh Bộ Lĩnh thuộc 12 sứ quân) thích dùng kỷ luật sắt không khoan
dung, không văn hóa hơn triều Lý ở chỗ trung châu chuộng đạo Phật.
2.2-Bang
giao thời nhà Hậu Lý(Lý Công Uẩn). Nước
Vạn Xuân(544-605) của nhà Tiền Lý(Lý Bí) biên giới phía Nam là Đèo Ngang. Năm
992 vua Lê Đại Hành cho người Chiêm nhận 360 người ở thành cũ châu Địa Lý(cữa
Nhật Lệ Đồng Hới) về châu Ô Lý(cữa Việt Đông Hà), sai Ngô Tử An mở đường bộ từ
cữa Nam Giới tới châu Địa Lý(ĐVSKTT). Như vậy từ thời nhà Tiền Lê biên giới được
đẩy qua bên kia đèo Ngang. Sau năm 1005 Chiêm Thành lấy lại đất. Lê Long Đĩnh
đánh Chiêm không thắng. Biên giới lại trở về Đèo Ngang. Nhà Hậu Lý tiếp tục lối
bang giao như trên, tức cân bằng 2 thế lực nhà Tống và Chiêm Thành. Hoàng Xuân
Hãn(HXH) nói rõ chánh sách ngoại giao cân bằng 2 thế lực Chiêm Thành và nhà Tống
ở sách Lý Thường Kiệt.
Năm 1059 nhà
Lý đánh Khâm Châu khoe binh uy rồi về. Năm 1060
Tống đem quân sang đánh Đại Viêt(ĐV) không được. Năm 1064 sai sứ sang Tống. Năm 1069 đánh bắt Chế Củ(1061-1069). Bốn
năm liền(1065-1069) Chiêm Thành không chịu sang cống và năm 1061 Chế Củ có ý
đánh báo thù trận 1044 Lý Thái Tông(1028-1054) đánh giết vua Sạ Đẩu(HXH) thêm
vào đó Lý Thánh Tông có ý ngăn chặn Chiêm Thành thần phục nhà Tống để báo thù
ta(HXH dẫn Tống sử). Năm 1073 Chế Củ
được tha mạng cho về nước làm vua(trở nên thân ĐV) chạy sang ta tị nạn do bị kẻ
khác tranh ngôi(HXH). Kẻ khác là vua Harivarman IV, một trong các vị vua chống
ĐV kịch liệt. Nhà Tống phong Lý Nhân Tông(1072-1128) làm Giao Chỉ Quận Vương. Năm
1074 Chiêm Thành quấy phá biên giới(ĐVSKTT).
Wikipedia thì nói rõ người chủ trương đánh phá là vua Harriman IV, vị vua danh
tiếng trong sử của Chiêm Thành. Năm 1075
Vương An Thạch lên cầm quyền ở TQ chủ trương cứng rắn liên kết Chiêm Thành
đánh ĐV(sách Lý Thường Kiệt của HXH). LTK và Tôn Đán ra quân đem 10 vạn quân tiến
đánh Khâm Liêm châu, vây thành Ung Châu 40 ngày thì hạ được. Tổng cọng trận
đánh giết khoảng 10 vạn quân Tống, bắt người 3 châu đem về. Năm 1076 nhà Tống tập trung quân ở Ung châu
và xui Chiêm Thành đánh ĐV(HXH). Tháng 3 Quách Qùy và Triệu Tiết sang đánh ĐV,
tới sông Như Nguyệt bị LTK chận phá tan. Quách Qùy lui về và chiếm lấy châu Quảng
Nguyên của ta. Tháng 8 LTK vào tuần du 3 châu ở biên giới phía Nam mà Chế Củ đã
dâng, củng cố cai trị, đổi tên châu Địa Lý thành Lâm Bình, châu Ma Linh thành
Minh Linh, mộ dân đến ở(ĐVSKTT nói việc này xảy ra năm 1075. HXH nói xảy ra vào
năm sau là năm 1076 thì đúng hơn). Năm 1077
tháng 3 đại quân ta sang đánh châu Khâm và châu Liêm. Tháng 12 Triệu Tiết
đem quân xâm lấn ĐV không được nên rút về. Năm 1078 sai Đào Tống Nguyên sang Tống biếu voi và xin trả lại châu Quảng
Nguyên, châu Tô Mậu và người bị bắt. Năm 1079
nhà Tống trả châu Quảng Nguyên. Wikipedia nói năm 1080 vua Chiêm là Jaya
Indravarman II(Chế Ma Na). Năm 1081 ĐV
trả dân bị bắt ở 3 châu Ung, Khâm Liêm vì nhà Tống đã trả châu Quảng Nguyên(ĐVSKTT).
Năm 1104 Lý Giác ở Diễn Châu làm loạn
bị LTK đánh chạy sang Chiêm nói tình hình nước ta, xúi Chế Ma Na đem quân vào
cướp 3 châu ở biên giới bị LTK đánh lấy lại. Năm 1105 LTK mất. Bang giao tế nhị
là như thế đấy, chủ động cân bằng các thế lực lân bang chứ không thụ động nhịn
nhục như gà thấy cáo.
2.3-Bang
giao thời nhà Trần. Đến đây nhà Tống
yếu nên bang giao thuận hòa với ĐV. Nhà Nguyên lên tóm thâu nước TQ thay nhà Tống,
trở nên hung hãn, quyết thôn tính ĐV để sát nhập vào Đại Hán, bị nhà Trần 3 lần
đánh đuổi mới chịu buông tha để ĐV yên thân.
Chống quân Nguyên lần thứ nhất năm 1257 đời Trần Thái Tông(1225-1258) đánh
tướng Ngột Lương Hợp Đái đe dọa biên giới phía Vân Nam. Vua nao núng hỏi kế
thái úy Nhật Hiệu(NH). NH không đứng dậy nổi, lấy ngón tay thấm nước viết lên mạn
thuyền 2 chữ “Nhập Tống”(tức chạy vào đất nhà Tống còn giữ được đất ở mé Giang
Nam. Vân Nam thì bị nhà Nguyên chiếm đóng). Vua hỏi Trần Thủ Độ(TTĐ) thì được
trả lời: "Đầu thần chưa rơi xuống đất,
bệ hạ đừng lo gì khác"(ĐVSKTT). Ngô Sĩ Liên chê đại thần NH khiếp sợ
hèn nhác không có kế chống giữ mà còn xui vua chạy đi ở nhờ nước khác. Câu nói
để đời thứ 2 là câu Trần Hưng Đạo(THĐ) trong trận chống quân Nguyên vào đời
Thánh Tông và Nhân Tông: “Bệ hạ chém đầu
tôi trước rồi rồi sẽ hàng” để trả lời câu Trần Thánh Tông vờ hỏi “Thế giặc như vậy ta phải hàng thôi”(ĐVSKTT
đoạn viết về năm 1300 lúc THĐ sắp mất). Nhiều tác giả chê nhà Trần loạn luân
con cháu lấy loạn xạ nhưng hậu thế vẫn ngưỡng mộ vua tôi nhà Trần can đảm và
thành công trong việc giữ được nước. TTĐ có công lớn nhưng không được hậu thế
vinh danh chỉ vì chuyện thất đức. Phải nói cái Đức làm chết cái Tài. Nhưng lấy
loạn nhau chỉ vì muốn độc chiếm ngôi báu cho dòng họ chứ ngoài xã tắc đời Trần
không có loạn luân. Văn hóa vẫn phát huy như tiền triều đời Lý. Trận đánh nhà
Nguyên thứ 2(1282-1285) và thứ 3(1287-1289) thì được sách vở nói nhiều. Ở đây
tôi chỉ ghi lại quá trình ban giao với nhà Nguyên.
Năm 1261 nhà Nguyên sai sứ sang dụ nói cũng như Cao Ly,
ĐV vẫn giữ lệ cũ của nước mình và răn bảo tướng ở Vân Nam không tự tiện được cướp
phá biên giới. Sai sứ sang thông hiếu với nhà Nguyên(ĐVSKTT). Khâm Định Việt Sử(KĐVS)
thì kê rõ phẩm vật cống và nói thêm: vua Nguyên hiểu dụ nếu thực lòng qui phụ
thì vua đích thân sang chầu. Vua trả lời khi có chiếu của Thiên Tử thì cho con
sang làm con tin. Đến nay sứ Nguyên đến hiếu dụ như nói trên. Năm 1262
sứ Nguyên sang hỏi về lễ Khánh Hạ(ĐVSKTT).
KĐVS thì nói sứ nhà Tống sang phong vua làm An Nam Quốc Vương và Thượng Hoàng
Thái Tông làm Đại Vương. Năm 1263 sai
sứ sang Nguyên. Vua Nguyên cho ưu
đãi 3 năm 1 lần cống. Năm 1264 nhà Tống
và Trần Thủ Độ mất. Năm 1266 sứ nhà
Nguyên sang trách trước kia ĐV bắt giữ sứ Nguyên nên mới có việc dụng binh năm
1257. ĐV sai sứ sang Nguyên(ĐVSKTT). KĐVS thì nói rõ hơn là sứ ta sang xin định
lại phẩm vật cống, miễn nộp học trò, thầy thuốc và thợ thuyền…Không được bao
lâu thì vua Nguyên đòi vua Trần đích thân sang chầu, cho con em sang làm con
tin, nộp sổ dân quân, nộp tô thuế, và vẫn đặt quan giám sát việc cai trị. Năm 1268 ĐVSKTT không nói việc bang giao. Nhưng
KĐVS nói nhà Nguyên sai Hốt Lung Hải Nha và Trương Đình Trân thay quan giám sát
cũ. Vua nhận chiếu nhưng không lạy mà nói các ông chỉ là quan của Thiên Triều.
Tôi là vua của 1 nước không ngang hàng để làm lễ với các ông. Sứ nói quan của
Thiên Triều ngang bằng vua của nước chư hầu. Vua Nguyên gởi công điệp sang
trách cứ. Vua phúc đáp cãi lại và nói vả lại trước đây Thiên Triều có dụ các nước
cứ giữ tục lệ cũ của mình. Công điệp lại gởi sang nói vì Thiên Triều trước đây
không bắt thay đổi vội. Vua không nhận lời biện hộ trong công điệp, lại sai sứ
sang Nguyên biện bạch. Năm 1269 sứ
Nguyên sang nói về biên giới. Vua sai sứ sang Nguyên. Năm 1271 sứ Nguyên sang dụ bảo vua vào chầu. Vua không đi. KĐVS thì nói
vua cáo bịnh. Năm 1272 sứ Nguyên sang hỏi cột móc trụ đồng. ĐV bảo mất rồi có đâu mà
chỉ chỗ. Năm 1275 biên phòng chạy trạm
báo người Nguyên đi tuần biên giới xem xét địa thế. Sai sứ sang nhà Nguyên ngăn
việc binh đao. KĐVS thì nói thêm là nhà Nguyên thay quan Chức Đạt Lỗ Hoa
Xích(quan giám sát việc cai trị). Vua phản đối nói chức quan đó chỉ đặt nơi man
di ngoài biên giới. Nước tôi là phên giậu để che chở cho 1 phương. Đặt chức đó
chả bị nước khác chê cười hay sao? Vua Nguyên không nghe lại viễn dẫn 6 yêu
sách trước đây và có ý lấy cớ gây binh đao. Năm 1276 Nguyên Thế Tổ đánh Tống ở Giang Nam sai sứ sang bảo ĐV điều
dân giúp quân nhưng vua không nghe. KĐVS thì nói sai Đào Thế Quang giả đi mua
thuốc sang Long Châu dò xét. Thượng Hoàng Thái Tông mất năm 1277. Trần Nhân Tông lên làm vua. Nhà
Nguyên sai Sài Xuân sang ta hỏi tại sao Nhân Tông không xin mệnh Thiên Tử mà tự
lập làm vua. Sai sứ sang Nguyên. Sứ bị
giữ ở lại. KĐVS không nói sự bang giao vào năm này mà lại nói sự bang giao năm 1278 và nói Sài Xuân sang nói vua lên
ngôi không xin mệnh Thiên tử, dụ phải sang chầu. Theo lệ cũ, tiệc được thếch
đãi ở hành lang. Sài Xuân không đến dự. Hôm sau đãi ở điện Tập Hiền. Vua nói vì
sinh trưởng ở nơi cung cấm thâm nghiêm, chưa quen phong thổ nên không vào chầu
được. Sai sứ sang Nguyên. Sứ bị giữ lại. Năm 1279 nhà Tống mất. Năm 1281 sai chú(em của Thánh Tông) là Trần
Di Ái đi sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên lập Di Ái làm lão hầu nay sai Sài Xuân đem
1000 quân hộ tống Di Ái về nước. ĐVSKTT viết “Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ
Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu. Đến điện Tập
Hiền, thấy chăng bày màn trướng, hắn mới chịu xuống ngựa. Vua sai Quang Khải đến
sứ quán khoản tiếp. Xuân nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn
cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán
xem Xuân làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn(QT) đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông
đi thẳng vào trong phòng. Xuân đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh
ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. QT ngồi
xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Xuân cầm cái tên đứng sau QT,
chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt QT vẫn không hề thay đổi. Khi trở về,
Xuân ra cửa tiễn QT.” KĐVS không viết việc bang giao vào năm này. ĐVSKTT viết
năm 1282 trị tội bọn Trần Di Ái. KĐVS
thì nói rõ thêm là trước đây nhà Nguyên cho dụ đòi vua sang chầu. Vua không
nghe cho chú là Trần Di Ái đi thay. Nhà Nguyên lập Di Ái làm vua nay sai Sài
Xuân hộ tống về nước. Vua sai đón đường giết chết Sài Xuân. Bọn Di Ái trốn về
nước và bị trị tội. Phần cẩn án sách này(KĐVS) nói câu chuyện Trần Hưng Đạo tiếp
Sài Xuân ngạo mạn nói trên kia dẫn Nguyên sử đính chính chuyện đó xảy ra năm
1278 thay vì năm 1282. Đến đây nước rơi vào chiến tranh với nhà Nguyên lần thứ
2(1282-1285) chú của vua là Trần Ích Tắc(TIT) từng nhờ nhà buôn ở bến Vân Đồn gởi
thư xin nhà Nguyên đem quân sang nay ra đầu hàng được nhà Nguyên phong
vương. TIT năm 1276 được nhà Nguyên đưa
về nước trong trận chiến tranh lần 3(1287-1289).
2.4-Bang
giao thời nhà Lê. Là bang giao “nhạy cảm” bộ 3 nhà Minh-Đại Việt-Chiêm
Thành như bộ 3 Tống-Đại Viêt-Chiêm Thành và ngày nay TQ-VN-Campuchia. Sau trận
hạ thành Đồ Bàn(ĐB) năm 1471, Chiêm Thành kiện nhà Minh về việc ĐV xâm lấn lãnh
thổ. Vua Lê sợ nhà Minh đem quân sang như trường họp sang đánh Hồ Qúy Ly nên né
tránh tiết lộ tình hình biên giới phía Nam nên lịch sử 140 năm(1471-1611) vùng biên
mờ nhạt.
Sử cũ(ĐVSKTT) viết vắn tắt: Năm 1471, tháng 3 ngày mồng
1 hạ thành ĐB, mồng 2 Bồ Trì Trì(BTT) chạy vào Phan Rang tự lập làm vua chịu
triều cống, phong vương Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước ràng buộc; tháng 4 dâng
tù ở Thái Miếu; tháng 5 ăn mừng thắng trận; tháng 6 đặt thừa tuyên Quảng Nam;
tháng 11 đánh bắt em Trà Toàn là Trà Toại trốn trong núi. Không nói rõ biên giới
thừa tuyên Quảng Nam tới đâu. Sau này
sách KĐVS viết tương tự và nói Bồ Trì Trì(BTT) chạy vào Phan Rang chiếm 2/5 đất
đai(ĐVSKTT nói chiếm 1/5 đất đai). Ghi chú sách này(KĐVS) nói vua phong cho
dòng dõi chúa cũ Chiêm Thành(triều thứ 13 Bí Cai-Qúi Lai-Qúi Do do ĐV lập nên bị
triều thứ 14 Trà Duyệt-Trà Toàn chống ĐV lật đổ) làm Nam Bàn quốc vương, chia đất
từ núi Thạch Bi vể phía Tây, từ phủ Hoài Nhân theo thượng đạo đi mất 14 ngày tới
nước ấy, tức là nước Hỏa Xá Thủy Xá bây giờ(lúc sách ra đời).
Chuyện núi
Thạch Bi làm cột móc ranh giới Chiêm-Việt: chỉ thấy ở trên sách vở chứ rất lờ mờ trên thực địa như vị trí cột đồng
của Mã Viện. Nói lờ mờ vì thấy sách đời sau mỗi sách xác định ở mỗi nơi khác
nhau! Trong Phủ Biên Tạp Lục(PBTL viết vào năm 1776), Lê Qúi Đôn nói 14 ngày là
hành trình từ Hoài Nhân lên Nam Bàn qua đất Nam đèo Cù Mông(Phú Yên). Bấy giờ(PBTL
ra đời trước sách KĐVS) nước Nam Bàn mới được xác định vị trí còn lấy núi Thạch
Bi làm cột móc thì sách Hồng Đức Bản Đồ(HĐBĐ) xác định ở 2 nơi khác nhau. HĐBĐ
phiên bản Bộ Giáo Dục VNCH năm 1962 tác giả nói sách ra đời khoảng năm
1630-1653(căn cứ địa danh vẽ trên bản đồ để xác định năm ra đời của sách). Năm
1653 là năm Hùng Lộc lấy đất Nam rặng Đại Lãnh lập ra dinh Thái Khang(Thái
Khang phủ). Trong sách có bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ(GNBNĐ) trang 158 vẽ Phú
Yên Phủ giáp Thái Khang phủ và bản đồ có vẽ thạch bi làm giới mốc ở trên núi Thạch
Bi. Vậy sách phải ra đời sau năm này(1653). Trước đó là bản đồ Thiên Nam Tứ Chí
Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT). Bản đồ này vẽ rõ lũy Trường Dục và lũy Động Hải nên kết luận
sách ra đời sau năm 1630. Bản đồ TNTCLĐT ở trang 98 vẽ cái bia trên núi Thạch
Bi Sơn nhưng bản đồ ở trang 101 lại cũng có vẽ cái bia Thạch Bi ở phía Nam Nha
Trang môn và có ghi chú thích nói “ở địa
phận xã Liêm Hóa có 1 nhánh núi chạy đến biển, nước chia làm 2, lại có 2 hòn đá
như 1 cái bia. Một hòn nghiêng đầu về Tây, một nghiêng về Đông…Thánh Tông ngự
giá đánh Chiêm qua chỗ ấy…than trời đất mở mang đã chia ra ranh giới…”Xã
Liêm Hóa(bản đồ trang 101-7B). Núi Thạch Bi(bản đồ tr 101-7C). Về sau có tác giả
đem câu chú thích đó chỉ rặng Đại Lãnh(bản đồ tr 98). Như vậy ta thấy vào thời
Trịnh-Nguyễn mà các học giả còn rất lờ mờ về biên giới phía Nam. Lờ mờ vì bang
giao Đại Việt với nhà Minh gặp rắc rối do Chiêm Thành luôn luôn tố cáo ĐV xâm lấn
đất đại và nhà Minh luôn luôn can thiệp. Triều Lê dấu nhẹm chuyện xảy ra ở biên
giới với Chiêm Thành. Sử ở vùng này(nước Nam Bàn và Hoa Anh) khiếm khuyết lớn.
Bang giao
Minh-ĐV-Chiêm: Như trên ta thấy ĐVSKTT
viết vắn tắt tháng 3-1471 hạ thành Đồ Bàn, tháng 11 đánh bắt em Trà Toàn là Trà
Toại trốn ở trong núi. KĐVS thì nói rõ hơn(xem dưới đây). Phần cẩn án sách KĐVS
dẫn minh sử chép về truyện An Nam nói năm 1471 Lê Vương phá Chiêm Thành bắt
chúa Trà Toàn. Hơn 3 năm sau đánh bắt Trà Duyệt, sách đính chính là Trà Toại, rồi
đổi nước ấy làm Nam Châu(người Việt gọi là Quảng Nam?), đặt quân đồn thú. Truyện
Chiêm Thành sách ấy(Minh Sử) viết năm Thành Hòa thứ 7(1471) phá được nước Chiêm
Thành, chiếm đất đai. Em vua nước ấy là
Trà Duyệt(KĐVS đính chính là Trà Toại) sai sứ báo cáo nạn nước. Thành Hòa thứ
10(1474) An Nam lập cháu vua trước tên là Tế Á Ma Phất Yêm làm vua, lấy cho đất
phía Nam. Việt Sử Thông Giám Cương Mục Khảo Lược(VSTGCMKL) Nguyễn Thông viết:
Thành Hòa thứ 7(1471) Annam đánh chiếm
Chiêm Thành. Em nước ấy cho sứ sang TQ cáo nạn. Thành Hòa thứ 8(1472) sai sứ cầm cờ tiết sang phong cho
em vua. Sứ giả đến càng Tân Châu người giữ cảng biển kháng cự, sứ giả biết nước
đã bị chiếm cứ đổi gọi là châu Nam Giao.
VSTGCMKL nói thành Hòa thứ 14(1478)
cháu vua nước ấy chết, em là Vương Cổ đến tâu rằng người Giao Châu trước sợ uy
vua, trả đất cũ cho anh(việc phong vương Nam Bàn chăng?), chỉ có kinh đô(kinh
đô ở đâu? Chẳng lẽ là Đồ Bàn? Tất cả đều là bí mật!) và 5 xứ Chiêm Thành
thôi. Đất đai vốn có 27 xứ, 4 phủ, 1
châu 22 huyện.
Như vậy nhờ hoạt động của sử thần triều Nguyễn mà sách
KĐVS viết việc năm 1471 rõ hơn sách cũ ĐVSKTT. Cả 2 sách đều nói chia đất còn lại của Chiêm
thành 3 nước ràng buộc: Nam Bàn, Hoa Anh và nước của Bồ Trì Trì. Nhưng KĐVS nói
rõ thêm là nước Nam Bàn ở phía Tây núi Thạch Bi, từ phủ Hoài Nhân theo thượng đạo
mất 14 ngày thì tới nước đó và nói rõ việc đánh bắt Trà Toại(TT) là em của Trà
Toàn trốn vào trong núi. TT đã sai sứ đem việc hoạn nạn cáo nhà Minh và xin
phong. Đại Việt thống lĩnh 3 vạn quân(trận đánh lớn) đi đánh bắt Trà Toại và bộ
lạc đem về kinh sư. Như thế thì địa danh núi Thạch Bi mới biết sau này(đời vua
Nguyễn hay trước đó vào đời chúa Nguyễn như trong Hồng Đức Bản Đồ). Sách Nam
Hà(KĐVS) viết khách quan hơn sách Bắc Hà(ĐVSKTT), bí mật bang giao ở vùng biên
bị sách ở Bắc Hà che dấu.
Tóm tắt đoạn này: Năm 1471 bị đánh chiếm. Em của vua là Trà Toại bá cáo nhà Minh. Sứ thần
đến nơi thì biết nước bị chiếm, đổi thành Nam Châu hay châu Nam Giao. Tế Á Ma
Phất Yêm(dòng vua cũ) được ĐV phong vương. Năm 1478 vua này chết. Em vua là Vương Cổ lại sang nhà Minh tố cáo.
Lịch sử tiếp diễn. KĐVS quyển 24 nói năm 1488 tháng 12 sứ sang nhà Minh. KĐVS viết
tiếp: “Trước đây khi Chiêm Thành bị phá,
Dòng dõi nước ấy là Cổ Lai đem gia quyến đến bá cáo nhà Minh về nạn nước. Hiến Tông nhà Minh sai quân đưa Cổ Lai
về nước lập làm quốc vương, rồi làm tờ hịch sang dụ bảo vua nhà Lê. Hiếu Tông(ĐVSKTT nói Minh Hiến Tông
mất năm 1497, Minh Hiếu tông lên thay)
nhà Minh mới lập làm vua, sai sứ sang(ĐV) bá cáo về việc lên ngôi vua và ban
cho lụa hoa(tháng 11-1488). Đến nay(năm
1488) vua(vua Lê) sai Đàm Văn Lễ, Vương Khắc Thuật, Phạm Miễn Lân sang nhà Minh chúc mừng
việc lên ngôi vua(Minh Hiếu
Tông). Tống Phúc Lâm dâng hương. Hoàng Đức
Lương tạ ơn việc ban cho lụa hoa. Hoàng Bá Dương bá cáo việc Chiêm Thành quấy
nhiễu ngoài biên.” KĐVS dẫn Minh sử,mục ngoại quốc, truyện Chiêm Thành nói “năm Thành Hòa 17(1481) Cổ Lai sai sứ sang Minh nói nước tôi bị nạn An Nam đánh phá,
tôi cùng anh tôi là Trai Á Ma Phất Yêm phải lẩn trốn trong hang núi. Sau An Nam
sợ oai trời sai người dò hỏi được anh tôi, trả lại đất cũ. Anh tôi quyền giữ nước
chưa được bao lâu thì đã bị chết sớm. Theo thứ tự tôi được làm vương, nhưng tôi
không dám tự chuyên, xin bệ hạ(Minh Hiến
Tông) cho tôi sách thư ấn tín. Còn về đất
đai có hơn 3.500 dặm xin bệ hạ đặc dụ cho người Giao Châu phải trả lại hết đất
xâm lấn. Năm thứ 20(1484), vua nhà Minh(Minh Hiến Tông) sai Lý Mạnh Dương
và Diệp Ứng đem sách thư phong Cổ Lai. Bọn Mạnh Dương nói Chiêm Thành hiểm trở
xa xăm mà nước An Nam vẫn gây việc binh đao chưa chịu thôi, hiện nay Đề Bà Đài
lại vụng trộm chiếm cứ đất đại. Nếu việc phong không thuận lợi thì tổn thương đến
uy danh nước ta. Tưởng nên đem sứ thần dụ bảo Cổ Lai sang Quảng Đông nhận sắc
và ra lệnh cho An Nam ăn năn tội lỗi. Vua(Minh Hiến Tông) nghe lời. Cổ Lai
đem gia quyến sang Nhai Châu. Mạnh Dương
sắc phong xong rồi về. Sau đó Cổ Lại muốn
thân đến cữa khuyết tâu bày việc nước An Nam. Năm thứ 23(1487) Tống Mân, tổng đốc
Quảng Đông, tâu lên. Đình thần bàn nên sai 1 đại thần đến an ủi Cổ Lai và dụ bảo
An Nam nên theo nghĩa “tồn vong kế tuyệt” đón Cổ Lai về Chiêm Thành. Vua Minh(Minh
Hiến Tông) chuẩn y sai Đồ Dung sang Quảng Đông, đưa luông tờ hịch sang An Nam. Rồi
mộ 2.000 quân mạnh khỏe đi 20 chiếc thuyền vượt bể hộ vệ Cổ Lai về nước.
KĐVS viết tương tự như Nguyễn Thông nhưng tên là Cổ Lai thày vì Vương Cổ và năm
1481 thay vì năm 1478. Không biết tài liệu nào viết đúng.
ĐVSKTT viết về việc sứ nhà Minh sang tháng 11-1488 báo
cáo việc lên ngôi vua Mính Hiếu Tông.
Ngày 23 làm lễ đọc chiếu thư nhà Minh. ĐVSKTT không đính kèm chiếu thư nên không
biết vua Minh Hiếu Tông nói gì, có hiếu dụ gì về việc Chiêm Thành kiện tụng với
vua tiền nhiệm là Minh Hiến Tông hay
không. Tất cả đều là bí mật ban giao ở biên giới với Chiêm Thành.
Lê Thánh Tông(1460-1497) mất, Lê Hiến Tông(1497-1504) lên
ngôi. ĐVSKTT nói Khoảng năm Cảnh Thống(1498-1504), Trà Phúc lấy trộm hài cốt của
cha là TràToại bị an trí và chết ở cữa Bảo Khánh thành Thăng Long đem về nước,
cầu cứu nhà minh, đóng thuyền, tích trử lương thực để mưu khôi phục đất đã mất.
Nước ta rơi vào nội loạn tranh ngôi và cuộc chiến ở biên giới phía Nam Chiêm-Việt
tiếp tục cho tới năm 1611 Nguyễn Hoàng cho Văn Phong chiếm đất lập ra phủ mới là
phủ Phú Yên. Đất này mới yên hẳn.
Ngày nay TQ gần gụi và giúp đỡ Campuchia để kìm chế ta
như các triều đại tiền nhiệm dùng nước Chiêm Thành kiềm chế ta là chuyện Địa Lịch
Sử ngàn muôn năm âu cũng như thế ni.
Đồng Diều, mùa Xuân 2013
Huỳnh Bá Củng







0 nhận xét:
Đăng nhận xét