Trước năm 1946 Phú Yên chưa có bậc Trung Học.
Học sinh Phú Yên(PY) phải ra Qui Nhơn
vào College de Qui Nhơn(Quốc Học Qui Nhơn).
Quốc Học
Qui Nhơn(QHQN) mở vào niên khóa 1921-1922. Đó là 1 trong 3 trường College duy
nhất ở Miền Trung. Quốc Học Vinh(College de Vinh) mở năm 1920, Quốc Học Huế(Primaire
Superieure) mở năm 1896 mà tên tiếng Việt gọi là Pháp Tự Quốc Học Trường Môn dạy
người Việt bằng tiếng Pháp vì vậy các trường College kiểu như thế đều gọi là Quốc
Học cả. Riêng trường Bưởi ở Hà Nội gọi là Trường Bảo Hộ(College du
Protectorat). Các lớp thì được gọi là Nhất Niên, Nhị Niên, Tam Niên và Tứ Niên.
Bằng tốt nghiệp gọi là Thành Chung. Bậc học thì gọi là Cao Đẳng Tiểu Học(Primaire
Superieure). Dưới đó là cấp Sơ Học Yếu Lược(Elimentaire) gồm lớp 5, 4 và 3. Cấp Tiểu Học(Primaire)
gồm lớp Nhì và lớp Nhất(có nơi thêm lớp Nhì nhỏ nữa). College de Qui Nhơn là Quốc
học có đủ 3 cấp nói trên. Về kích thước như vậy thì Quốc Học Qui Nhơn lớn nhất ở
Miền Trung.
Phải vượt
qua 10 lớp học bằng tiếng Pháp để đậu được bằng Thành Chung(TC) nên bằng TC rất
có giá trị. Bằng này dùng để vào bậc Đại Học. Khi có nền Trung Học tách ra khỏi Tiểu Học(Primaire
và Primaire Superieure) thì đầu vào Đại Học là bằng Tú Tài (baccalaureat).
Tài liệu
ghi niên biểu Quốc Học Huế là 1896-1936 và tiếp sau là trường Trung Học
Khải Định(1936-1954) ở bên cạnh trường nữ trung học Đồng Khánh. Tôi chưa tìm được
tài liệu ghi rõ Quốc Học Huế biến thành 1 trường Trung Học vào năm nào(tức chấm dứt
tên gọi Cao Đẳng Tiểu Học và bỏ cách gọi Nhất Niên, Nhị Niên Tam và Tứ Niên mà gọi Thất, Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị và Nhất).
Phú Yên có tú Suyền(Trần Suyền) có lẽ xuất thân từ trường Trung Học thời Pháp Thuộc thay trường
College(Cao Đẳng Tiểu Học). Nguyễn Thanh Liêm nói vào thập niên 1930-40 trong 4 trường Trung Học ở Nam Bộ Petrusky, Gia Long, College de Mỹ Tho(Nguyễn Đình Chiểu), College de Cần Thơ(Phan Thanh Gian) thì chỉ có Petrus ký đủ các lớp đệ nhị cấp. Do đó nghi tú Suyền tốt nghiệp tú tài ở Huế.
Hoàng Gia
Việt Nam(3-1945 đến 8-1945) ra đời. Tháng 4 thủ tướng Trần Trọng Kim lập nội
các có Hoàng Xuân Hãn làm bộ trưởng Giáo Dục. Sau đó Quốc Gia Việt Nam(QGVN) nằm
trong Liên Hiệp Pháp cũng được sinh ra. Trung Học thời QGVN tách khỏi Tiểu Học(Cao Đẳng Tiểu
Học). Các lớp thì được gọi là Đệ Thất, Lục, Ngũ, Tứ(bậc Đệ Nhất Cấp); Tam, Nhị,
Nhất(bậc Đệ Nhị Cấp). Tiểu Học thì có lớp 5, 4, 3, Nhì và Nhất như thời Pháp
Thuộc. Không tìm được tài liệu nói hệ 12 năm học này xuất hiện vào năm nào. VNCH(1955-1975)
tiếp tục duy trì hệ 12 năm đó, hệ thống mô phỏng theo giáo dục Pháp: Bậc
Premier Cycle: Classe(lớp) Xixieme, Cinquieme, Quartrieme, Troisieme(trường người Việt thời Pháp Thuộc gọi là Second). Tên trường
thì gọi là College. Bậc này thi lấy bằng Brevet(tương đương Trung Học Đệ Nhất Cấp
của người Việt). Bậc Second Cycle gồm lớp Premiere tương đương lớp đệ Nhị và
Terminale tương đương lớp đệ Nhất của người Việt. Tên trường thì gọi là Lycee.
Bằng cấp thì gọi là bằng baccalaureat(Tú tài). Người Pháp có bằng Tiến Sĩ Đệ
Tam Cấp(Troisieme Cycle) có lẽ là cấp sau lớp Terminale(đệ Nhất). Bằng nầy khác
với Tiến Sĩ Quốc Gia(Docteur d’Etat). Trường Pháp cũng được lập ra hoạt động
bên cạnh hệ thống trường người Việt của nước QGVN. VNDCCH thì có trường cấp 2 và
trường cấp 3.
Nền
Trung Học ở Phú Yên ra đời sau năm
1945 vào năm 1946, thời nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa(VNDCCH) với Hiến Pháp
1946. Trường có tên là trường Trung Học Lương Văn Chánh(LVC).
Trường Trung Học LVC mở ngày 15-10-1946 gồm 1 lớp tứ niên, 2 tam niên, 3 nhị niên và 5 nhất
niên(Nam Đà Nguyễn Chu trên Phuyenonline). Như vậy trường tổ chức như College
de Qui Nhơn thời Pháp Thuộc. Trường tồn tại tới năm 1950. Khi dời về chợ Gò Sen
xã An Định thì nó trở thành 1 trường cấp 2 của huyện Tuy An.
Trường cấp 2.
Năm 1950 nước VNDCCH cải cách giáo dục. Trường Tiểu Học có 4 lớp gọi là lớp 1,
2, 3 và 4(bên phe QGVN tiểu học vẫn còn giữ 5 lớp như thời Pháp Thuộc). Tách Cao
Đẳng Tiểu Học(Nhất Niên, Nhị niên, Tam Niên và Tứ Niên) ra để thành lập trường
cấp 2 gồm có lớp 5, 6 và 7(thua Cao Đẳng Tiểu Học 1 lớp). Cấp sau cùng là trường
cấp 3 gồm lớp 8, 9 và 10. Ở Phú Yên chỉ có cấp 2 mà thôi. Trường Cấp 2 Tuy An ở
An Định như nói trên. Đến lúc đó có các trường cấp 2 lần lược được mở ra ở các
huyện. Tác giả Nam Đà Nguyễn Chu trên phuyenonline nói các trường đó được mở ra
như sau: Trường cấp 2 Tuy Hòa được mở ra ở Lò Tre xã Hòa Định. Trường dời về
Phú Lộc xã Hòa Thắng. Trường cấp 2 huyện Đồng Xuân cũng được mở ra tại Gò Duối
xã Xuân Lộc. Trường dời vào Vũng Lắm thôn Triều Sơn rồi về đèo Cây Cưa. Năm
1952 mở trường cấp 2 huyện Tuy Hòa ở Cảnh Phước xã Hòa Tân. Năm 1953 dời về Phước
Bình Bắc Hòa Thành. Ngày 20-1-1954 chiến dịch Át Lăng nổ ra. Các trường cấp 2
Tuy Hòa dời về Hòa Thịnh.
Thập niên
1950 việc lấy tên danh nhân lịch sử đặt cho tên trường không còn theo lệ nữa.
Trong dân gian thì lệ gọi ông chánh 2, xã 3, Hào 4, ông hương 5 không được
dùng(bài phong kiến).
Trường Trung Học Nguyễn Huệ Phú Yên. Sau ngày đình chiến 20-7-1954 thầy Huỳnh Tô, từng dạy
trường cấp 2 Lò Tre, lập tại Phú Thứ xã
Hòa Bình 1 trường trung học và đặt tên là trường Trung Học Nguyễn Huệ thời Phú
Yên thuộc QGVN. Năm 1955 trường dời về thị xã Tuy Hòa. Thầy Đinh Thành Bài làm
hiệu trưởng dùng cả 2 con dấu Quốc Gia Việt Nam(trước 23-10-1955) và Việt Nam Cọng
Hòa sau đó. Tên trường Nguyễn Huệ tồn tại tới ngày nay.
Các thế hệ học sinh Trung Học: Trong bài viết nói trên, Nam Đà Nguyễn Chu viết: “Lớp Chỉnh Huấn tháng 11-1953 do Sở giáo dục
Liên Khu 5 triệu tập có hơn 30 giáo viên PY đi tham dự. Có các thầy: Trần Sĩ, Nguyễn Chi Thống, Cao
Thi Thăng, Huỳnh Diệu, Trần Xuân Nam, Trần Nho, Phạm Ngọc Ân, Trần Thiện Căn,
Phạm Bôn, Nguyễn Cách, Nguyễn Minh, Nguyễn Bá Quát, Nguyễn Ân, Nguyễn Trắc,
Nguyễn Tài Sum, Trần Văn Chính, Nguyễn Lam Kiều, Lê Bê, Cao Chi, Cao Lam, Nguyễn
Xanh, Tôn Thất Thọ.
Sau chỉnh huấn thầy Trần Nho, Khu phân công dạy Trường
cấp 2 Bồng Sơn, huyện Hoắc Ân; thầy Nguyễn Bá Quát được phân công dạy Trường cấp
2 Bắc Phù Mỹ. Thầy Huỳnh Diệu chạy theo trung đoàn Lê Lợi của địch.”Thầy Huỳnh Tô và thầy Võ Hồng không thấy có tên trong
danh sách.
Cũng
trong bài viết này tác giả nói trường LVC mới mở gồm 1 lớp Tứ Niên, 2 Tam Niên,
3 Nhị Niên và 5 lớp Nhất Niên. Như vậy danh sách các thầy giáo nói trên và 3 lớp
lớn của trường Trung Học LVC thuộc thế hệ tiền bối của nền Trung Học ở Phú Yên.
Họ xuất thân từ các trường College(Quốc Học) nói trên của nền Tân Học(Cựu Học
thì học chữ Hán). Nếu không được vào các trường công đó(Quốc học) thì họ đã từng
học trường tư Pellrin thuộc nhà dòng La San ở Huế(mở ra năm 1904).
Thế hệ học
sinh(thhs) trung học tiếp theo. Đó là thhs Trung Học thực thụ được đào tạo ở ngay
trong tĩnh Phú Yên. Thế hệ đó bắt đầu từ 5 lớp Nhất Niên nói trên của trường Trung
Học LVC. Đến năm 1950 nước VNDCCH cải tổ giáo dục thì họ cũng đã hoàn tất học
trình trung học ở trường Trung Học LVC qua 4 năm: Nhất Niên, Nhị Niên, Tam Niên
và Tứ Niên. Trường LVC là 1 trường trung học cấp tĩnh đúng nghĩa của nó thì bấy
giờ không còn nữa(1 thứ hậu duệ của College de Qui Nhơn còn ảnh hưởng chương
trình Hoàng Xuân Hãn của chính phủ Trần Trọng Kim thuộc Hoàng Gia Việt Nam thời
Phát Xít Nhật).
Tiếp theo
sau là thhs Trung Học thứ 2. Trung Học
LVC được thay thế bỡi các trường có danh xưng là trường cấp 2 và là các trường
cấp huyện, không một trường nào đại diện Trung Học cho cả tĩnh nữa. Từ năm 1950
đến năm 1953 thế hệ học sinh cấp 2 này cũng hoàn tất chương trình trung học đã
cải cách(1950-1951-1952-1953). Như vậy có 2 thế hệ học sinh Trung Học của nước
VNDCCH ở Phú Yên, thế hệ học sinh Trung Học LVC và thế hệ học sinh Trường Cấp
2. Không nên đánh đồng 2 thế hệ làm 1 vì danh xưng cũng như môi trường khác
nhau.
Thế hệ học
sinh thời QGVN và VNCH. Thời VNCH mỗi tĩnh chỉ có 1 trường trung học công lập. Ở
Phú Yên có trường Trung Học Nguyễn Huệ. Các thế hệ học sinh được đào tạo ở trường
Nguyễn Huệ là thế hệ học sinh Trung Học chánh cống của tĩnh cùng với các bạn học
khác ở các Trung Học tư. Mỗi tĩnh chỉ có 1 trường Trung Học Công Lập mà thôi
nên nó rất bề thế.
Thế hệ học
sinh cấp 2 chuyển tiếp chuyển từ hệ 10 năm sang hệ 12 năm vào các năm 1954 đến 1956.
Các trường cấp 2 trong vùng kháng chiến một phần vì rút gọn số năm học, một phần
vì không giao lưu tiếp xúc với bên ngoài và không có học sinh ngữ Anh Pháp nên
thế hệ học sinh(thhs) chuyển tiếp này gặp khó khăn khi vào học các lớp Thất, Lục,
Ngũ, Tứ hệ 12 năm của QGVN và VNCH.
Thế hệ học
sinh Trung Học Nguyễn Huệ Dang Dở là thhs vào Đệ Thất các năm 1955, 1956 vì lên Đệ Tam, Nhị hay Nhất phải đi tĩnh
khác mới hoàn tất bậc Trung Học. Năm 1960-1961 mở lớp Đệ Tam, 1961-1962 mở lớp Đệ
Nhị. Tới năm 1963-1964 mới mở lớp Đệ Nhất.
Thế hệ
Trung Học chánh cống của trường Nguyễn Huệ vào trường năm 1957 và ra trường năm 1964. Tức
phải tới năm 1964 mới có bậc Trung Học hoàn chỉnh ở Phú Yên. Các lớp đàng anh dang
dở phải ra Qui Nhơn, vào Nha Trang hay ra Huế học tiếp để mà hoàn tất bậc Trung Học.
Trường Trung Học Nguyễn Huệ ra đời, lớn lên, trưởng thành(Niên khóa Đệ Nhất đầu
tiên là 1963-1964)
gần như trọn trong hành tình như thế(sinh ra, lớn lên rồi trưởng thành) của nền
Đệ Nhất Cọng Hòa(1955-1963). Sự ra đời Trung Học Nguyễn Huệ trùng với sự ra đời nền Đệ Nhất Cọng Hòa. Tránh khai sinh nó năm 1954, khai sinh nó vào năm 1955 thì lại trùng năm sinh Đệ Nhất VNCH.
Trung Học Tư.
VNCH Chỉ mở tràn lan cấp Tiểu Học. Cấp Trung Học thì hạn chế mỗi tĩnh chỉ có 1
trường nên thi vào rất khó. Trường có giá trị như các College thời Pháp thuộc.
Nhưng việc học ở trung học không khép kín. Trường tư mở ra rộng rãi. Ai học giỏi
thì sang ngang thi vào trường công.
Chính quyền
của Tổng Thống Diệm được củng cố thì thành phần đối lập như thầy Huỳnh Diệu, Huỳnh
Tô được thả ra. Năm 1957 giáo hội Phật giáo mở trường Bồ Đề nhận thầy
Diệu, Tô và thầy Nguyễn Bá Quát làm giáo viên nòng cốt. Giáo hội Thiên Chúa
cũng mở trường Đặng Đức Tuấn, trường Mằng Lăng, trường Juse. Rồi các trường của
tư nhân khác lần lược cũng được mở ra.
Sau 1975
có rất nhiều trường trung học công lập trong tĩnh, trong huyện. Trường Chuyên
Lương Văn Chánh là 1. Trường này không dính dấp gì với trường Trung Học LVC năm
1946-1950 cả. Nó là 1 trường chuyên, không phải là 1 trường truyền thừa tượng trưng
Trung Học cả 1 tĩnh.
Niên khóa 1954-1955 của trường Nguyễn Huệ Phú Thứ. Niên học này xác định cái nôi sinh ra trường Nguyễn Huệ
Tuy Hòa Phú Yên. Nhiều thế hệ học
sinh Nguyễn Huệ chỉ biết trường sinh ra năm 1955 ở tại thị Xã Tuy Hòa. Ít ai biết
cái nôi của nó là Phú Thứ xã Hòa Bình và năm sanh ra nó là 1954. Người ta ngại khai sinh nó
đúng nơi, đúng ngày vì ngại lý lịch chính trị người sáng lập ra nó, thầy Huỳnh
Tô. Người ta lấy lý do quyết định thành lập nó năm nào thì khai sinh nó năm đó.
Logic thôi. Nhưng oái ăm là người ta vẫn giữ nguyên tên Nguyễn Huệ mà người
sáng lập đặt cho nó và công nhận giấy tờ, học bạ và học sinh niên khóa 1954-1955.
Hiệu trưởng kế thừa Huỳnh Tô là Đinh Thành Bài đã xử dụng cả con dấu QGVN và
VNCH ký vào các học bạ đó.
Trong học
bạ của học sinh Phan Bổ có trang niên khóa 1954-1955 được đóng con dấu Quốc Gia
Việt Nam. Bên dưới có hàng chữ: Trung Việt. Trong lòng con dấu có hàng chữ: Trường
Trung Học Nguyễn Huệ Phú Yên. Trang niên khóa tiếp theo được đóng con dấu nước
VNCH. Nền con dấu là bụi trúc. Hàng chữ bên dưới là: Hiệu Trưởng Trường Trung Học
Nguyễn Huệ. Đinh Thành Bài đã ký tên và đã dùng 2 con dấu đó đóng vào các trang
học bạ.
Trong các
trang học bạ, tôi thấy ban giáo sư buổi sơ khai đó được ghi như sau: Lớp Đệ Thất
A: Đinh Thành Bài dạy Toán, Anh, Pháp. Trần Văn Kỳ dạy Sử, Địa, Khoa Học, Công
Dân. Trần Văn Khương dạy Pháp, vẽ, Việt Văn, Vạn Vật. Hai anh em Trần Văn Kỳ và
Trần Văn Khương sau đó về Sai Gòn. Ban giáo sư năm 1955: Bùi Xuân Tri dạy vạn vật,
Quốc Văn, Địa. Hàn Huy Quang dạy Pháp. Nguyễn Xuân Giễm(có người gọi là dziễm)
dạy Anh. Nguyễn Thúc Tâm dạy Sử. Nguyễn Ngọc Nhâm dạy Toán. Nguyễn Đức Lâm dạy
Lý Hóa. Đinh Thành Bài dạy Đức Dục Công Dân. Truyền khẩu thì có nói đến thầy Huỳnh
Tô, Cao Sĩ Liễu, Trần Văn Kỳ, Trần Văn Chương, Đinh Thành Bài có dạy ở trường
Phú Thứ.
Chuyện kể
lại thì không có gì chắc chắn lắm ví dụ có người kể chỉ có 2 lớp là Thất và Lục.
Có người kể 2 lớp Thất, 2 lớp Lục. Cỡ vào gần tết thầy Huỳnh Tô bị bắt thì rút
lại 1 thất 1 lục nhưng giấy tờ học bạ vẫn là 4 lớp. Biết tin vào đâu. Nhưng học
bạ có ghi lớp Thất A thì chắc có trên 3 lớp. Vì vậy phần ghi các học sinh tôi
phải xếp theo vần abc để tránh nhầm lẫn các lớp.
Và một chút
nói về Cựu Học Sinh Nguyễn Huệ Khóa Đầu Tiên: AI nguyễn đồng, AN nguyễn thị, ANH lê quang, ẢNH trương thị, hoài ÂN lê thị, ẤN nguyễn thượng, BÁCH nguyễn ngọc, BẰNG nguyễn, BÌNH nguyễn thị, BỒ trương, BỔ phan, BƯỞI phan thị, CẢNH hồ mỹ, CẦM tạ đình, CẦU phạm xuân, bích CẦU trương thị, CHẨN nguyễn, CHÂU trần văn, CHÂU trần hoàng, CHÂU nguyễn hoài, CÔNG trương minh, CHUNG nguyễn, ngọc DIỆP hà thị, DỰ phan tấn, DƯƠNG võ duy, ĐÃM vương tấn, ĐĂNG nguyễn đình, ĐỆ nguyễn, ĐỈNH lê long, GIÁM phạm hữu, GIÁO trần văn, bích HÀ trần thị, HẠ đàm khánh, HẢI trần quang, HẠNH đào tấn, HẠNG lê cao, HÀO huỳnh, HIỆP đinh văn, HOÀNG võ phụng, tuyết HỒNG từ thị, HỒNG nguyễn văn, HUÂN trần công, HÙNG nguyễn, hoài HƯƠNG lê thị, HỮU huỳnh, HỰU lữ đức, HY nguyễn phụng, KHA phạm ngọc, KHÔI trần văn, mỹ KHẢM trần thị, KHÁN trịnh, HẢI trịnh quang, KIỆT lương văn, KỶ nguyễn khắc, xuân LAN nguyễn thị, LÂN bạch ngọc, LÂN huỳnh kim, LÂN nguyễn, LÊ đoàn, LỄ nguyễn, LỘC võ hữu, LUÂN nguyễn đình, LUÂN nguyễn trọng, LƯU võ, ngọc MAI phan thị, MÃNH lương công, MẤN đào thị, MÃO phạm, MINH trương thị, MINH nguyễn đức, MINH võ(tức Võ Huỳnh Đào cấp 2 Triều Sơn, Xuân Thọ), NHỊ huỳnh văn, NGHI nguyễn văn, NGỌC nguyễn thị, cẩm NHUNG cao thị, NGUYÊN trần văn, NHÂN huỳnh tấn, NHÂN huỳnh công, PHỐC huynh duy, PHÙNG phan, hạnh PHƯỚC trương thị, QUỸ trịnh, HÂN lê trung, SANG nguyễn ngọc, SĨ nguyễn, SOA nguyễn tài, SUM phạm thị, TÂN nguyễn đình, TÂN lê đình, TẶNG trần văn, THANH nguyễn văn, THÀNH nguyễn ngọc, THÀNH lê long, THẠNH lê chí, THĂNG huỳnh sĩ, THÊ trần đình, THIỀU nguyễn văn, THIỀU nguyễn công, THIỀM đào tấn, THÔNG huỳnh tấn, THUẬN hồ thị, TIÊU lê đình, TRANG bùi xuân, TRẤP lương công, TRỊ nguyễn ngọc, TRÍCH huỳnh tấn, THÔNG huỳnh tấn, TRẤP lương công, TRỌNG bùi xuân, TỚI phan, TU đào tấn, TUẬN nguyễn quang, TÙY nguyễn văn, VINH võ văn, kim XUYẾN nguyễn thị, YẾN tạ thị, YÊM nguyễn trọng…Họ bao gồm những học sinh của các
lớp Thất, Lục học ở Phú Thứ niên khóa 1954-1955, các học sinh cấp 2 vùng kháng
chiến thi vào trường Nguyễn Huệ ở Tuy Hòa vào năm 1955-1956 và học sinh là con
em công chức đến Phú Yên làm việc lúc đó: Đây là thế hệ
chuyển tiếp trường cấp 2 hệ 10 năm của VNDCCH sang hệ 12 năm của QGVN và VNCH,
giống như thế hệ Trung Học LVC nói trên kia là thế hệ chuyển tiếp hệ Cao Đẳng
Tiểu Học Quốc Học Qui Nhơn(College de Qui Nhơn) thời Thuộc Pháp, Hoàng Gia Việt
Nam(chính phủ Trần Trọng Kim) thời Phát Xít Nhật sang hệ 10 năm của VNDCCH.
Ngày nay cựu học sinh trường Nguyễn Huệ may mắn có được
cái trường cũ để nhớ, để thương, để ghé thăm là nhờ năm 1975 không có sự chuyển tiếp trường
Nguyễn Huệ sang trường LVC. Không mất tên trường Nguyễn Huệ ở Phú Yên.
Tuy Hòa ngày 15-8-2012
Biên tập Huỳnh Bá Củng.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét