Lời mở đầu. Giáo
sư(thời VNCH dạy Trung Học Đệ Nhị Cấp gọi là giáo sư, dạy cấp thấp hơn gọi là
giáo viên) Việt Văn Trần Công Tín, một đồng nghiệp và là 1 bạn tù cùng trại của
tôi viết 1 bài gởi cho đặc san hội Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Huệ(CHSTHNH) Tuy
Hòa Phú Yên thì tức khắc được chấp nhận và được nhà văn trưởng ban biên tập Lê
Thị Hoài Niệm khen là bài viết trung thực và cảm động. Lấy đó làm ngẫu hứng tôi
viết bài này để cung cấp thêm kiến thức lịch sử Thượng Đạo Phú Yên, nơi có các trại
tù, có câu chuyện vui buồn như chuyện của thầy Tín, chuyện Hoài Cố Nhân gởi cho
người thiếu nữ chỉ gặp thoáng qua.
Thầy Trần Công Tín viết năm ấy
thầy học tập cải tạo ở trại 53 thuộc Tổng Trại 5, một hệ thống trại trên trục
Thượng Đạo Phú Yên xưa nay. Thầy nói thầy người Huế nên không được thăm nuôi chỉ
hưởng tiêu chuẩn 2 bộ quần áo trong 1 năm. Vì phải lao động nặng và vướng phải
gai góc nên quần áo rách tươm, vá víu chằng
chịt, trông chẳng ra hình thù gì cả. Lại do ăn uống cực khổ, mắc bịnh sốt rét
nên ông ta tiều tụy thảm não không giống bạn bè ở địa phương được thăm nuôi có áo
quần dày dép tươm tất. Với bộ dạng như vậy mà ra gặp người thành phố thì đáng
buồn nhất là gặp lại người quen hay học trò cũ thì thật khó coi. Thầy minh họa thân
phận bằng mấy câu thơ Truyện Kiều: “Xưa
sao phong gấm rủ là/Giờ sao tan tác như hoa giữa đường/Mặt sao dày gió dạng
sương/Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.” Thầy cắt nghĩa bỡi thế nên
thầy phải núp đàng sau mấy anh bạn khi ra đường số 7 để đón xe hàng từ Tuy Hòa
đi Củng Sơn đổ hàng tiếp tế xuống cho trại tù. Tù nhân nhận lấy rồi đem về trại.
Thầy nói có núp rồi đến phiên, mình cũng phải lộ diên thôi.
Đoạn hồi ký thầy viết: “Có 1 cô thiếu nữ ngồi cạnh cữa sổ xe, mắt
đen lánh, tròn xoe, đăm đăm nhìn tôi không nói. Cô cứ nhìn, nhìn mãi và mắt
long lanh ngấn lệ. Ôi! Ánh mắt thông cảm, xót xa, trìu mến, thương yêu! Cô
không nói mà cứ nhìn: Nhìn tôi khó nhọc đỡ hàng từ nóc xe xuống, nhìn tôi loay
hoay cột đồ, nhìn tôi oằn người nhấc thử gánh hàng… và 2 giọt nước mắt từ từ
lăn dọc theo sống mũi cô. Đến khi tất cả thực phẩm đã chia đều cho tất cả anh
em chúng tôi, ông cán bộ ra lệnh khởi hành và xe ô tô cũng chuyển bánh đi tiếp
lên Sơn Hòa, cô thiếu nữ ấy, nàng tiên hiền dịu kia mới hé môi thầm thì: “Em kính
chào thầy ạ!”. Trời ơi! Cảm động biết mấy! Hoàn cảnh thầy trò gặp nhau sao mà
éo le, mà phũ phàng, mà cay đắng!”
Thật cảm động. Lại cảm động
nhiều hơn nếu ai biết thầy thuộc loại nhỏ con, trắng trẻo, môi đỏ, thư sinh, mới
ra trường, thuộc loại công tử ở kinh thành(Huế). Ấy là 1 trong số các cảnh tù
thời Tổng Trại 5. Các bạn biết không. Ngày xưa trên trục đường thượng đạo này
cũng có 1 trại tù là ngục Trà Kê, nơi Pháp giam giữ cũng 1 nhà văn, nhà văn
Nguyễn Vỹ(NV). Trại tù ở đây không phải là trại tù cấp tĩnh(phạm vi nhỏ trong địa
phương tĩnh nhà) mà là trại giam rộng rãi người từ Thanh Hóa tới Phan Rang(cấp
quốc gia, cấp vùng) như kích thước vùng của tổng trại 5. Trại không phải để
giam bọn đầu trộm đuôi cướp mà giam tù chính trị. Một lần nữa lại đề cập 1 nhà
văn bị ở tù ở nơi đây. NV bị bắt từ Hà Nội đem về đây giam năm 1942.
Ngục Trà Khê. Đó là tên gọi trại tù thời Pháp Thuộc. Người Pháp thì
gọi là trại an trí nhưng thực chất đây là nhà tù(Phuyenonline). Nguyễn Vỹ nói người
tù thì được gọi là TS(Travailleur spe’cial, lao động đặc biệt). Nguyễn Vỹ nói
ông là người tù số 69(TS69).
Tác giả Trần Huyền Ân nói
Nguyễn Vỹ kể ông bị bắt ở Hà Nội tết
Nhâm Ngọ(1942), đưa vào Trà Kê với số tù TS69. Ông nói tại đây người tù có quê
quán từ Thanh Hóa tới Phan Rang thuộc nhiều đảng phái khác nhau. Tù cộng sản độ
70 người trong đó có Hà Huy Giáp, Bùi Công Trừng, Hồ Tùng Mậu, Lưu Qúy Kỳ, Trần
Công Khanh, Trần Đình Trí…Đảng Ngô Đình Diệm 4 hay 5 người. Cao Đài độ vài chục
người, hầu hết là lãnh tụ Cao Đài ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Viên đồn trưởng già
cho phép tù nhân được đọc 2 tờ báo ngày
Sài Gòn mới, tờ La Depêche và tờ Điện Tín. Chính y gởi mua dài hạn ở Sài Gòn do
ngân sách của nhà tù đài thọ.
Nữ sĩ Thu Nhi vào năm 1994 tại
Diễn đàn Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại ở Little Saigon cho biết rất chi tiết về hoạt
động của Nguyễn Vỹ:
Ngày 27-7-1941 Pháp ký hiệp ước cho Nhật vào đóng quân trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Vỹ lại viết những bài chống cả Nhật lẫn Pháp nên giao thừa năm Nhâm Ngọ, vào đầu tháng 2 năm 1942, ông bị hiến binh Nhật bắt giam. Sau mười lăm hôm ở tù Nhật ông vượt thoát được một ngày thì bị Pháp bắt lại rồi đầy vào trại tù Trà Khê. Tròn 3 năm ở tù tại đây đến đầu tháng 2 năm 1945 ông mới được phóng thích. Rồi một tháng sau chứng kiến vụ Nhật đảo chánh, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Vậy NV ở tù Pháp chứ không ở tù Nhật và không ở tù cho tới ngày “vỡ trại,”Việt Minh cướp chính quyền chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945.
Ngày 27-7-1941 Pháp ký hiệp ước cho Nhật vào đóng quân trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Vỹ lại viết những bài chống cả Nhật lẫn Pháp nên giao thừa năm Nhâm Ngọ, vào đầu tháng 2 năm 1942, ông bị hiến binh Nhật bắt giam. Sau mười lăm hôm ở tù Nhật ông vượt thoát được một ngày thì bị Pháp bắt lại rồi đầy vào trại tù Trà Khê. Tròn 3 năm ở tù tại đây đến đầu tháng 2 năm 1945 ông mới được phóng thích. Rồi một tháng sau chứng kiến vụ Nhật đảo chánh, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Vậy NV ở tù Pháp chứ không ở tù Nhật và không ở tù cho tới ngày “vỡ trại,”Việt Minh cướp chính quyền chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945.
Một bài thơ minh họa cảnh
nhà tù và tâm trạng 1 nhà văn ở tù trong ngục Trà Kê thời Pháp Thuộc(bài thơ
Trăng Chó Tù năm 1944 của NV): Ngục Trà Khê,
đoàn tù nằm trong tối/Chỗ giường tôi đối diện với Trăng Thu/Nhưng kẽm gai giăng
lưới bọc âm u/Ngoài sáng tỏ trong mịt mù bưng bít/Ai nấy ngủ, hai dãy sàn kê
khít/Cữa nhà lao giây xích khóa ba vòng/Một ánh vàng lóng lánh lọt qua song/Nằm
âu yếm bên lòng tôi khẽ bảo:/”Đêm nay rằm em giăng tơ huyền ảo”/Ngồi dậy xem chàng
hỡi giữa khuôn xanh/Em dệt thơ dệt mộng kết muôn vần/Để em tặng người yêu em
muôn thuở/Sau lưới sắt tôi nhìn trăng mê mải/Núi rừng hoang Trăng giải ánh sầu
bi/Trước sân tù con chó L’Anie/(Con chó trắng dễ thương và ngoan ngoãn/Chó độc
nhất và trung thành như bạn/Lạc ngoài rừng chúng tôi bắt về nuôi)/Giỡn với
trăng chó phe phẩy mừng vui/Chó nhảy tới, nhảy lui đùa với bóng./Trăng tha thướt
yêu kiều trong ảo mộng/Rải trên sân lồng lộng ánh huyền mơ/Mỗi nét trăng là dệt
một vần thơ/Mỗi sóng trăng là một đường tơ thắm/Chó đùa bỡn, chạy quanh rồi đứng
ngắm/Mắt nhìn Trăng long lánh ánh trăng ngà/Tôi thằng tù, như một mảnh hồn
ma/Trong ngục thẳm nhìn qua song lưới sắt/Nhìn mê-mải-thèm-thuồng không mỏi mắt/Nhìn
khát-khao, ngây-ngất ánh Trăng say/Muốn phá tung cữa ngục chạy ra ngoài/Để ngắm
nó để ngất ngây với nó/Để đùa bỡn với bóng Trăng, bóng chó/Để dệt tình dệt mộng
với trăng tơ/Nhưng bỗng dưng đôi mắt lệ hoen mờ/Tôi quỵ xuống sàn tre nằm thổn
thức/Trăng với chó tự do ngoài sân ngục/Tôi bị giam sau bốn bức tường cao/Ôi tự
do! Mi quí biết nhường bao!/Mi là cả Trăng, Sao, Trời, Thơ, Mộng!/Mi là giòng
huyết thống/Của Thiêng Liêng!/Có Tự Do là cả Thần Tiên/Không có nó, trần duyên
là ngục thẳm!/Tù Trà Khê say mê trong giấc đẵm/Trên giường tù ai lệ đẫm trong
đêm. Trích toàn bài để có cái nhìn cảnh tù thời đó.
Bài Ngục Trà Kê-Một Chứng
Tích Tội Ác Thực Dân đăng trên Phuyenonline, nói trại thành lập năm 1940. Bên cạnh
có đồn lính khố xanh trên dưới 100 người do thiếu úy người Pháp làm đồn trưởng.
Sau 9-3-1945 Phát Xít Nhật tiếp tục xử dụng và 15-8-1945 tù nhân tự giải thoát.
Ba tên đồn trưởng là Sampave, Renun và Bazia. Cao điểm có 100 tù nhân. Có đảng viên CS như kể trên và người mới tham
gia phong trào như Phan Sung, Huỳnh Lắm, Trần Chí Hiền. Chúng bắt tù nhân phải
đốn gỗ, cắt tranh, hái củi, làm ruộng, đan đát, làm bàn ghế, rèn dao, cuốc, làm
vườn nhà cho tây đồn…
Trong bài viết “Ngục Trà
Kê-Một Chứng Tích Tội Ác Thực Dân” trên Phuyenonline nói trên nói di tích này
đang được Bảo Tàng Phú Yên lập hồ sơ đề nghị tĩnh công nhận là di tích lịch sử
cấp tĩnh.
Trong một bài viết khác trên
Phuyenonline phóng viên Nguyễn Quốc Khương được người địa phương ông Ba Kha hướng
dẫn tìm đến di tích này. Họ tìm thấy 1 cây si mọc ngay góc ê ke của phế tích,
nơi 2 bức tường xây vuông góc nhau giờ chỉ cao khoảng nửa mét, dài chừng 1,5m,
gạch, vữa lộ ra, rêu phong, cũ kỹ và ẩm mốc. Họ còn tìm thấy 2 trụ cổng được tô
cement còn khá nguyên vẹn, hoa văn trên trụ còn nguyên. Biển gác ngang cũng bằng
bêton, trên đó còn dấu tích của những dòng chữ tiếng Pháp, lại có cả những chữ
sơn vàng, nhưng không còn đọc được rõ.
Trên trục Thượng Đạo Phú Yên có những trại
tù. Ngục Trà Kê cũng như tổng trại 5 ở
Ngân Điền nằm trên đường Thượng Đạo Phú Yên. Thượng Đạo tiếp nối đường từ Bình
Định vào Vân Canh đến La Hai hay từ Sông Cầu đến La Hai rồi băng qua “lòng chảo”
thung lũng sông Kỳ Lộ, sông Trà Bươn thuộc
xã Xuân Quang và Xuân Phước tứ bề có núi non bao kín chỉ thông ra bên ngoài bỡi
các “đèo.” Đèo Thị đến Chí Thạnh, đèo Cây Cưa đến Sông Cầu, Đa Lộc ra Vân Canh
và Trà Kê đến Củng Sơn. Núi La Hiên là núi cao nhất ở TâyBắc PY(có đỉnh
1309m)chạy từ ĐôngBắc xuống TâyNam thấp dần. Tới Trà Kê thì đến vùng cao độ 300m
của 2 châu thổ sông Ba và sông Cái(Kỳ Lộ) gần như tiếp xúc với nhau, tạo ra một
cái “đèo”. Dãy núi ngoặc sang Đông và cao độ tăng lên thành khối núi Vân Hòa.
Đường Thượng Đạo băng qua nơi đây(Trà Kê) để đi Khánh Hòa hay lên Đắc Lắc. Sông
Trà Bươn là 1 phụ lưu của sông Cái, phát nguyên trên dãy núi La Hiên(thuộc Sơn
Hội). Nguồn của nó song song với nguồn của sông Cà Lúi nhưng tới Trà Kê thì 2
sông “chia tay nhau.” Sông Bươn ngoặc sang Đông đổ vào sông Cái còn sông Cà Lúi
ngoặc sang Tây đổ vào sông Ba. Mô tả dài dòng để thấy tại sao nơi đây hình
thành đồn binh của Pháp và trại tù Trà Kê.
Sau năm 1945 vùng Xuân
Quang, Xuân Phước tiếp tục là nơi giam giữ. Năm 1975 đại binh VNCH tháo chạy từ
Tây Nguyên đến đây(Trà Kê) bị mắc kẹt bị bắt làm tù tàn binh và được giam giữ
cũng ở vùng này, trong thung lũng sông Trà Bươn, sông Kỳ Lộ thuộc xã Xuân
Quang-Xuân Phước, chỗ mà tù nhân gọi là trại Tống Binh. Không quen với kham khổ
và núi rừng nên tù binh bị bịnh sốt rét và bệnh đường ruột gây nhiều tử vong nên
khoảng tháng 5-1975 tù binh được chuyển lên vùng Sơn Định là nơi cao hơn ở đầu
nguồn sông Trà Bươn. Đó là xã giáp ranh với Sơn Hội. Nhiều tù nhân sức yếu phải
chống gậy mà đi. Lúc này bọn sĩ quan VNCH gốc giáo viên chúng tôi mới bị “tập
trung” đi cải tạo ở trại Sơn Định vì hết hạn “lưu dung” để dạy cho hết niên
khóa 1974-1975. Chúng tôi thoát khỏi đi cải tạo ở trại Tống Binh nên có vẻ khỏe
mạnh hơn các bạn bị tù trước đó. Tử vong tiếp tục nên tù binh chúng tôi được “hạ
san” xuống thung lũng sông Ba, vùng Ngân Điền ở lưu vực suối Bạc và suối
Câu(buôn Suối Bạc, Suối Câu) bên sườn phía Tây khối núi Vân Hòa khoảng tháng
8-1975. Đoàn tù binh không chống gậy xuyên sơn như trước mà được xe vận tải
theo đường 485(nay là đường 643) xuống Hòa Đa rồi lên Sơn Hòa. Bây giờ trại được
tổ chức hoàn chỉnh có tên đàng hoàng là trại 51, 52, 53 và 54 thuộc tổng trại 5
Liên Khu 5. Ở Sơn Định chúng tôi được chia theo cấp bâc: trại Chuẩn Úy, trại Thiếu
Úy, trại Trung Úy và trại Đại Úy cùng bạn tù cấp cao hơn. Sau Tổng Trại 5 vẫn
còn tồn tại trại cải tạo ở Xuân Phước trên con sông Trà Bươn thuộc đường Thượng
Đạo.
Trà Kê. Một vị trí nhà tù hay một vị trí chiến
lược. Dựng lại di tích trại tù Trà
Kê phần lớn người ta nghĩ ngay đến 1 di tích tù đày. Nhưng qua mô tả ta thấy có
1 đồn lính Pháp đóng ở đó. Kiểm lại nhiều trang lịch sử tôi có ý nghĩ hơi khác
là trại tù chẳng qua là duyên đưa đẩy, một thứ yếu rồi thì như một thứ tiền lệ có
trại tù ở đây mà thôi. Tính chất lịch sử nơi đây đáng lưu tâm hơn. Nguyễn Vỹ và
nhiều tác giả nói nhiều về ý nghĩa ngục tù ở Trà Kê rồi. Phuyenonline nói chúng(thực dân Pháp) bắt tù nhân phải đốn gỗ, cắt tranh, hái củi,
làm ruộng, đan đát, làm bàn ghế, rèn dao, cuốc, làm vườn nhà cho tây đồn
thì việc đó thời chúng tôi bị ở tù cũng làm đại loại như thế. Tụi tui được phân
công đốn gỗ thì toán thầy Nguyễn Văn Hàng(giáo sư Anh Văn), thầy Nguyễn Ngọc Thành đi đốt than và toán
lò rèn làm dao, làm cuốc. Toán cắt tranh làm lán trại, làm hội trường, toán trồng
khoai cuốc đất và vân vân. Cũng 2 dãy sàn
kê khít, cũng cữa trại khóa ba vòng, cũng có cảnh đêm đến ngắm trăng thèm tự do
và nhiều thứ thèm khác và “khát” nữa. Điều quan trọng là độ kỳ thị phân biệt
tù với người giữ tù nặng hay nhẹ mà thôi. Nói như thế là để nói lên vị trí chiến
lược lịch sử nơi đây quan trọng hơn chuyện trại tù.
Có “ngục” Trà Kê nơi đây có
lẽ vì nơi đây có đồn binh người Pháp cũng giống như ở Vân Hòa cũng có đồn binh Vân
Hòa. Sẵn có đồn binh nên lập trại tù để có người canh giữ. Nếu giữ tù là chính
thì Pháp sẽ giam giữ họ trong lòng chảo bên dưới tứ bề núi cao bao vây như tôi
mô tả ở trên chứ không lập ở trên đèo Trà Kê mát mẻ.
Thật vậy. Dù thực tế không
phải nơi đây là trại mát đi chăng nữa nhưng lãnh đạo người Pháp đã nghĩ trong đầu
như vậy. Ông A. Laborde trong bài viết về tĩnh Phú Yên đăng trong 29-4BAVH(Bulletin
des Amis de Vieux Hue’= Đô Thành Hiếu Cổ số 29), nói đèo Cây Cưa và Trà Kê là 1
thứ trại mát ở trên cao độ(station), kiểu như trại mát Đà Lạt ở Phú Yên(PY).
Ông ca ngợi khí hậu PY. Ông nói PY cung cấp 1 thứ khí hậu ôn hòa chắc chắn là 1
trong những nơi tốt nhất Đông Dương(elle offre
un climat tempéré qui est certainement l’un des meilleurs de l’Indochine).
Ông viết tiếp: Người ta quên ở đây cái lạnh lẽo mưa phùn mùa Đông của Bắc Kỳ
mưa dầm bất tận và cái ẩm ướt ở Huế(on
ignore ici le hideux crachin du Tonkin, les pluis interminable et l’humidité de
Huê). Ông lại viết: Thêm vào đó, hai “trại mát trên cao độ” nhỏ sẽ có thể
được triển khai ở đó, một ở Trà Khê mà tuy nhiên đường đến đó sẽ luôn luôn còn
khó khăn, một nơi khác ở Cây Cưa chỉ cách Sông Cầu 15km và rằng chính tôi đã
đánh giá cao(au surplus, deux petites
stations d’altitude pourraient y être developées, une à Trà Khê don’t l’accès
cependant sera toujours difficiles, une autre à Cây Cưa qui n’est qu’à 15km de
Sông Cầu et que j’ ai, moimême, fort appréciée).
Ông cắt nghĩa tại sao khí hậu
được mát mẻ như thế. Mát mẻ là do “thảm” bao phủ(la couverture) và do đèo ngự
trị 1 bên là biển, bên kia là sông, thuận lợi cho luồng khí liên tục thông qua
làm hạ nhiệt(à cheval sur un col,
dominant d’un côte’ la mer, de l’autre la rivière, ce point profite ansi d’un
courant d’air continuel qui abaise la temperature). Đó là địa hình đường 642
Sông Cầu qua đèo Cây Cưa, đi La Hai, theo sông Trà Bươn, đến Trà Kê ngày nay.
Dãy núi La Hiên-Vân Hòa ngăn đôi đồng bằng Sông Ba và Sông Cái. Phía bờ biển là
vịnh Xuân Đài. Năm 2002 cha sở Tịnh Sơn Phêrô Nguyễn Cấp đề cập tới nhà thờ Trà
Kê có nói nơi đây có cây thông sinh sống. Ông Lê Xuân Phức, nguyên chiến
sĩ đại đội 209 huyện đội Miền Tây nhớ lại
nói “Hồi chúng tôi mới tiếp quản nhà tù
Trà Kê thì nơi đây còn cây vải, cây mít, bông gòn…và cái nền nhà chúng
tôi tu bổ để ở.” Không biết những giống cây ôn đới nói trên là được người
Pháp đưa đến trồng hay cây tự nhiên của phong thổ vùng ôn đới.
Vị trí này không những là điểm
nghỉ mát mà còn được người Pháp đánh dấu là nơi chiến lược. A. Laborde viết:
Năm 1890 một trong các công sứ đầu tiên nói vũng tàu Sông Cầu là 1 trong các
vũng tàu đẹp nhất hoàn cầu và rằng 100 tàu đã vào đó bỏ neo(que la rade de Sông Cầu etait unes des plus
belles du monde entier et que 100 vaisseaux à l’ancre y entraient). Laborde
nói ông ta nói hơi quá nhưng chắc chắn độ sâu thay đổi từ 5 đến 15m sẽ có thể
cũng cung cấp cho tàu 1 cảng an toàn chắc chắn và có lẽ tiện lợi hơn cảng Qui
Nhơn(QN) có lối vào càng lúc càng khó khăn(les
fonds varaient de 5 à 15m pourrait offrir au bateaux un port aussi sur et peut
être plus commode que celui de Qui nhơn don’t l’accès devient, dit on, de plus
en plus difficile). Ông còn nói còn hơn QN vì nó để lưu thông dễ dàng lên
vùng cao qua La hai, nhất là qua Củng Sơn, cữa ngỏ mở ra chẳng khó khăn đến
Kontum và về Darlac(car, mieux que QN
encore, il aurait e’te’ en communication facile vers le Kontum et vers Darlac).
Vị trí chiến lược không phải đợi Tây nó thấy mà trong sử ta, ta cũng đã thấy rồi,
thấy từ thời Lê Thánh Tông hạ thành Đồ Bàn năm 1471.
Năm ấy người Đại Việt chúng ta
biết đến Tây Nguyên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT) nói Bồ Trì Trì chạy về
Phiên Lung tự xưng thần chịu nộp cống được phong vương. Vua phong 2 tước vương
nữa cho Hoa Anh và Nam Bàn rồi thì sách không nói gì đến 2 nước đó. Hậu sinh cứ
cho Hoa Anh là đất Phú Yên và Nam Bàn ở trên Tây Nguyên mà không nêu chứng cứ.
Mãi về sau Khâm Định Việt Sử Cương Mục(KĐVS)mới chú giải nói từ phủ Hoài Nhân
theo đường thượng đạo đi mất 14 ngày thì tới nước ấy(Nam Bàn), tức nước Thủy Xá
Hỏa Xá bây giờ(thời vua Nguyễn). Phủ Biên Tạp Lục(PBTL) là sách có trước thời
vua Nguyễn mô tả rõ đường lên Tây Nguyên. Cựu cai đội Luận Bình hầu Văn Thế Nghị
người ở thuộc Thời Đôn huyện Tuy Viễn, từng quản suất Nội Phủ Sơn Trường vào
núi lấy hương, kể cho Lê Qúi Đôn nghe đường lên Thủy Xá Hỏa Xá: “Tự nguồn An Lạc đi lên các thôn Hà Nghiêu, Đất
Cày, qua đèo La Hai, giáp đất Phú Yên. Đến các xứ sông Lôi, Nước Nóng, Thượng
Nhà. Đến nguồn Hà Lôi là chỗ các người Đê người Man ở. Cọng 3 ngày. Lại từ đó
cho người Man tiền bảo họ dẫn đường theo đường núi mà đi hết 14 ngày thì đến
nơi 2 vua Thủy Xá Hỏa Xá nước Nam Bàn.” Theo như mô tả thì đường đi theo sông
Kỳ Lộ lên núi La Hiên hiểm trở hơn đường theo sông Trà Bươn qua đèo Trà Kê ở cuối
dãy núi La Hiên mà người Pháp vạch ra thời Pháp Thuộc.
Tây Nguyên gồm 2 cao nguyên
Lang Biang-Dijring ở phía Nam và Kontum-Pleiku-Darlac ở phía Bắc, ngăn cách
nhau bỡi rặng Đại Lãnh cao chớn chở. Cả 2 cao nguyên đều có đỉnh cao ở phía Bắc
và nghiêng xuống phía Nam và qua phía Tây. Cao nguyên Kontum giáp với Quảng Tín
có đỉnh cao 2378m và 2299m, giáp với Quảng Ngãi có đỉnh NgọcKrinh cao 2066m,
giáp với Bình Định có núi KonKaKinh cao 1748m. Đây là đầu nguồn của các sông
Thu Bồn và Trà Khúc đổ về phía bắc. Đổ về Nam thì có sông Ba theo sườn phía Tây
và sông Côn theo sườn phía Đông. Sau đó chúng ngoặc sang Đông chảy vào Biển. Đổ
về phía Tây có sông Dak Bla(bắt nguồn ở phía Tây núi NgocKrinh), chảy qua địa phận
tĩnh lị Kontum rồi vào sông Se San để vào sông Mekong.
Cao nguyên Kontum-Pleiku hạ
thấp cao độ dần dần theo dòng sông Ba(Ae Ba). Tới đầu nguồn sông Ayun(Ayunpa),
1 phụ lưu bên hữu ngạn sông Ba(Ae Ba) ở Cheo Reo(PhúBổn), thì cao nguyên mằm
trên vùng cao độ 300-400m. Và cứ thế mà cao nguyên trải rộng ra ở cao độ 400,
500m cho tới tận chân dãy Đại Lãnh. Vùng rộng lớn bằng phẳng này là Darlac. Rồi
dãy Đại Lãnh đột ngột tăng cao độ với vòng cao độ 500m
rồi 600, 700, 800m; 900m, 1000m, 1.100m, 1.200
,1.300, 1.400m; 1.500, 1.600, 1.700, 1.800, 1.900, 2000m, 2.100m; 2.200m, 2.300 rồi tới đỉnh Chư Yang Sin cao 2442m. Đỉnh
Chư Tup Sa ở kế bên cao 1977m. Văn Thế Nghị nói núi Bà Nam ngăn chia Thủy Xã-Hỏa
Xá có lẽ là núi này. Bên kia rặng Đại Lãnh là cao nguyên Langbiang ở cao độ 1400-2100m,
cao nhất Miền Nam. Đỉnh LangBiang cao 2167m. Cao nguyên Kontum và Dijring chỉ cao
từ 800-1400m.
Phú Yên đóng vai cữa ngõ Tây
nguyên tự ngàn xưa nhờ cữa ngõ châu thổ sông Ba nằm giữa 2 cao nguyên Bắc Nam nói
trên. Tây Quảng Ngãi là vùng núi cao hiểm trở khống chế bỡi Man Đá Vách mà tới
đời vua Gia Long vẫn chưa bình định được. Tây Bình Định núi hãy còn cao, giáp
Phú Yên có đỉnh La Hiên cao 1309m. Tới Trà Kê thì hết núi non chớn chở. Rõ ràng
Phú Yên là cữa ngõ đi vào Tây Nguyên.
Người ta nói vào thập niên
1930-1940 Pháp dựng nhà tù để giam cầm tù chính trị. Nhưng trường họp đồn Trà
Kê không phải thuần túy dựng lên vì lý do đó. Nơi đây đã từng có nhà thờ đạo
Thiên Chúa năm 1861 và khi người Pháp đặt nền bảo hộ ở đây thì các nhà cai trị
Pháp đã có nhận xét vùng chiến lược như nói trên.
Khi người Pháp cai trị thì đất
Tây Nguyên đặt dưới tên gọi là Đại Lý Hành Chánh Kontum, Darlac trực thuộc Lào(Attopeu).
Rồi tĩnh Darlac được lập ra. Đại lý Kontum còn trực thuộc Bình Định. Năm 1904
thành lập tĩnh tự trị Pleikou Derr bao gồm Darlac, Kontum rồi cũng bị bãi bỏ.
Tây Nguyên lại chia ra nhiều đại lý khi trực thuộc các tĩnh lân cận khi tách ra
thành tĩnh. Ví dụ Darlac có lúc là đại lý trực thuộc Lào, trực thuộc tĩnh Kontum(năm
1923
tách ra tái thành lập tĩnh Darlac); Kontum có lúc trực thuộc Lào, trực thuộc
Bình Định(năm 1913
thì tách ra thành tĩnh Kontum); Cheo reo có lúc là đại lý trực thuộc
Phú Yên, có lúc tách ra(thành tĩnh như tĩnh Phú Bổn hay nhập vào tĩnh Pleikou).
Pleikou là đại lý trực thuộc Kontum. Năm 1932 tách ra thành tĩnh Pleikou. Nghĩa là tới đây, vào thập
niên 1930-40, thì tổ chức các đại lý hành chánh ở Tây Nguyên trở nên ổn định vì
thế Trà Kê trên đường đến những xứ đó phải có đồn binh là lẽ thường và là điểm chiến
lược đáng lưu tâm. Nhân đó Pháp lập trại tù cho lính canh giữ. Nếu mục đích chỉ
để làm nơi lưu lưu đày thì đày trong lòng chảo Xuân Quang, Xuân Phước tứ bề núi
non bao bọc, khí hậu xấu hơn có phải tốt hơn không? Nên xem đồn binh và trại tù
Trà Kê như 1 di tích đại diện 1 giai đoạn lịch sử trên tiến trình khai phá đất
nước như di tích Nam Bàn, di tích người Pháp để lại trên Langbiang hay đập Đồng
Cam trên sông Ba.
Một ngày
sang Thu 2012,
HuynhBaCung.











0 nhận xét:
Đăng nhận xét