Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

Sự Học ở Nam Trung Bộ

 









SỰ HỌC Ở NAM TRUNG Bộ
Lời giới thiệu. Nam Trung Bộ là khu vực
từ đèo Hải Vân đến đèo Cả cũng còn gọi là Liên Khu V. Khu vực này có tính chất lịch sử rất đặt biệt, xứ “Bắc có sông Linh Giang và đèo Hải Vân, Nam thì có núi Thạch Bi là nơi để các anh hùng dụng võ” như Chúa Tiên Nguyễn Hoàng căn dặn hoàng tử thứ 6 Nguyễn Phúc Nguyên lúc lâm chung như thế. Đất Bình Định dụng võ còn được thể hiện câu ca “Ai về Bình Định mà coi/ Con gái Bình Định cầm roi đi quyền”. Nhưng có mấy ai biết Bình Định cũng là 1 trong các trung tâm học hành khoa bảng như Nghệ An, Thuận Hóa.
Nhân các bạn cựu giáo sinh trường Sư Phạm Qui Nhơn(SPQN) làm kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường(1962-2012) tôi viết 1 bài nói về sự học khu vực này trước thời các bạn. Trường của các bạn là 1 trong 3 trường có danh trong lịch sử: Trường Bình Định thời Cựu Học của các ông đồ(sinh đồ: bậc Tú Tài), ông cống(hương cống: bậc Cử Nhân), trường Quốc Học Qui Nhơn(College de Qui Nhơn) thời Pháp Thuộc ngang ngửa với trường Quốc Học Huế và Quốc Học Vinh và nay là trường Sư Phạm Qui Nhơn(SPQN) của các bạn. Trường SPQN sanh ra cũng có thiên chức y như 2 trường trước đó là để đào tạo người ra dạy giỗ con em cho cả khu vực Duyên Hải Tây Nguyên Nam Trung Bộ. Các bạn đã từng thấy có sự hiên diện bạn đồng môn gốc gác người dân tộc ở Lâm Đồng, Darlac y như thời Nguyễn Vỹ, Đinh Thành Chương họ cũng có những người bạn dân tộc nói thông thạo tiếng Pháp đến Qui Nhơn học như vậy. Xa xưa hơn nữa, sự học ở vùng này kém cỏi không theo kịp xứ Thanh Nghệ và nơi kinh thành. Đó là lẽ thường tình vì đây là vùng biên sinh sau đẻ muộn.
Sự học ở miền viễn biên. Sự học nước Nam ta phát đạt từ thời nhà Lý. Thời đó vùng Thanh Nghệ vẫn còn phân biệt là trại. Năm 1256 đời Lý Thái Tông(1225-1258), lấy đỗ 43 Thái Học Sinh mà chọn kinh tới 42 người, còn trại chỉ chọn có mỗi 1 người ở vùng biên Thanh nghệ mà thôi. 19 năm sau(năm 1275) mới hết phân biệt Kinh Trạng Nguyên(ở Thăng Long) với Trại Trạng Nguyên(ở Thanh Nghệ). Bấy giờ sự học ở Hoan Ái(Thanh nghệ) mới theo kịp xứ Bắc. Đến khi nước ta có thêm đất của Chiêm Thành thì sự học đến các xứ ở vùng viễn biên phải muộn màng thôi. Đến đời nhà Mạc tiến sĩ Dương Văn An còn than sự học ở xứ của ông(Thuận Hóa: đất của Ô Châu do Chiêm Thành dâng cho Đại Việt) không bằng ở Hoan Ái(Thanh Nghệ). Trong bài tựa sách Ô Châu Cận Lục ông viết “Người Hoan Diễn có tính thuần túy chăm học xưa nay chả là câu cữa miệng…Miền Hóa Châu ta tiếp giáp với xứ Quảng, đất đai chật hẹp, phong tục quê mùa, nhân vật thì lưa thưa buồn tẻ không ví được với miền Hoan Ái. Từ Khi có Đặng Tất(hậu Trần), Dục Tài xuất thân thì nhân tài ở phong thổ xứ ta tiến bộ 1 cách rất mau. Song từ đời Quang Thiệu (Lê Chiêu Tông Quang Thiệu từ năm 1516 đến năm 1522) khuất bóng, những bậc tuấn kiệt lác đác như sao buổi sáng, thưa thớt như lá mùa thu.”Tức việc học giảm sút bắt đầu vào triều nhà Mạc(sự học bắt đầu ở nhà Lý, phát triển vào đời nhà Trần, lên đỉnh cao đời Hồng Đức của Lê Thánh Tôn. Đời Mạc vẫn tổ chức thi cử đều đặn. Sa sút vào đời Chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Đến vua Nguyễn thì dần dần phục hồi). Dương Văn An đỗ tiến sĩ khóa ĐinhMùi(1547) triều Mạc. Sự học ở xứ Quảng(thừa tuyên Quảng Nam) không thể hơn được.
Hạ thành Đồ Bàn năm 1471 nhưng mãi đến năm 1488, 17 năm sau mới có sự học ở đất Quảng. Triều đình cho Quảng Nam chọn con trai trên 15 tuổi khôi ngô tuấn tú ham học sung vào sinh đồ của bản phủ để được dạy bảo. Có thể có trường thi Hương ở Quảng Nam từ đây. Trước đó vùng viễn biên này là đất để lưu đày. Lưu cận châu thì sung vào vệ Thăng Hoa, lưu châu ngoài thì sung vào vệ Tư Nghĩa, lưu viễn châu thì sung vào vệ Hoài Nhân như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã viết(ĐVSKTT).
Đến đời chúa Nguyễn thì sự học không phát triển được như Việt Nam Sử Lược(VNSL) mô tả. Đến đời vua Nguyễn thì Gia Long chỉ mở khoa thi Hương mà thôi. Minh Mạng mới mở thi Đình. Khoa thi Hương năm ĐinhMão(1807) mở ở Nghệ An, Thanh Hóa và Bắc Thành. Từ Quảng Bình vào Nam không có ai ứng thí cả. Năm 1813 lập được trường Huế và trường Gia Định(wikipedia). Từ Gia Long đến Thiệu Trị thí sinh từ đèo Cả trở vào thi ở trường Gia Định. Từ đèo Cả tới Quang Ngãi phải ra Huế mà thi. Trong 1 bài viết, Đào Đức Chương nói năm CanhTuất(1850) triều Tự Đức(1847-1883) mới lập trường Bình Định cho thí sinh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Sau trường nhận thêm Ninh Thuận Bình Thuận. Đó là trường thứ 7 ra đời muộn nhất sau khi trường Thanh Hóa tái sinh vào năm 1848. Khóa NhâmTí(1852) là khóa đầu tiên của trường Bình Định. Tác giả dẫn Quốc Triều Hương Khoa Lục nói trường Bình Định tồn tại được 23 khóa: NhâmTí(1852), 1855, 1858, 1867, 1868, 1870, 1873, 1876, 1878, 1879, 1882, 1884, 1885, 1894, 1897, 1900, 1903, 1906, 1909, 1912, 1915, 1918(lâu cỡ trường College de Qui Nhơn). Như vậy trung tâm học hành ở Bình Định xuất hiện quá muộn so với Huế và Nghệ An.
Thời Tân Học sự học ở Bình Định mới ngoi lên tới mức ngang ngửa với Nghệ An và Thuận Hóa(Huế). Trường College de Qui Nhơn ra đời. Cũng còn gọi là trường Quốc Học Qui Nhơn. Do tên tiếng Việt Quốc Học Huế là Pháp Tự Quốc Học Trường Môn mà tên tiếng Pháp là Primaire Superieure(Cao Đẳng Tiểu Học) hay College nên các trường kiểu như thế này(trường college dạy con em người Việt bằng tiếng Pháp, chương trình Pháp) gọi là Quốc Học cả: Quốc Học QN, Quốc Học Huế và Quốc Học Vinh. Riêng trường Bưởi ở Hà Nội thì gọi College du Protectorat(trường Bảo Hộ). Quốc Học Huế mở năm 1896. Quốc Học Vinh mở năm 1920. Quốc Học Qui Nhơn mở vào niên khóa 1921-1922. College(Primaire Superieure) thì dạy từ lớp Nhất Niên, Nhị Niên, Tam Niên đến Tứ Niên. Tốt nghiệp là bằng Thành Chung(Diplome). Thời đó có bằng Cao Đẳng Tiểu Học thì vào học đại học được rồi như vào trường Y Khoa, Luật Khoa, Bách Khoa…(Kỷ Yếu Y Khoa Hà Nội) nên có người lầm Cao Đẳng Tiểu Học(Thành Chung hay Diplome) với bằng Tú Tài Tây(Baccalaureat) như thể lệ mãi sau này là bằng để được vào Đai Học.
Đặc biệt College de Qui Nhơn có đủ 3 cấp: Sơ Học Yếu Lược(Elimentaire) gồm lớp 5, 4 và 3. Cấp Tiểu Học(Primaire) gồm lớp Nhì và lớp Nhất(có nơi thêm lớp Nhì nhỏ nữa). Cấp Cao Đẳng Tiểu Học gồm lớp Nhất, Nhị, Tam và Tứ niên. Như vậy về qui mô thì Collge de Qui Nhơn lớn hơn Collge de Vinh. Người Hoài Nhân vào thời Tân Học không có mặc cảm với Nghệ An(xứ Hoan Diễn) như Dương Văn An thời Cựu Học nữa. Năm 1922 lên lớp nhị niên học sinh QHQN phải ra Quốc Học Huế mà học. Tới niên khóa 1926-1927 QHQN mới hoàn chỉnh cấp Cao Đẳng Tiểu Học. Nếu Đinh Thành Chương tới năm 1927 vào trường Sư Phạm thì ông chưa đỗ baccalaureat như 1 số bài viết. Ông Nguyễn Vỹ cũng thuộc bậc tiền bối của trường QHQN này(1924-1927).
Vào khoảng năm 1945 có phong trào ca ngợi xứ Nghệ An sản sinh nhiều nhân tài và cho có được như vậy là do hồn thiêng núi sông hun đúc. Nơi sơn bất cao, thủy bất thâm thì chỉ sản sinh những kẻ xoàng xĩnh bình thường như nam thì đa trá và nữ thì đa dâm chẳng làm được trò trống gì. Vì vậy núi Hồng Sông Lam được ca tụng. Khi lớn khôn tôi thấy xứ Nghệ đâu có núi sông hùng vĩ như Nam Trung Bộ (NTB)đâu. NTB phía Bắc thì có cao nguyên Kontum giáp giới Quảng Ngãi có đỉnh Ngọc Krinh cao 2065m. Giáp ranh với Quảng Tín thì núi cao chớn chở với các đỉnh cao tới 2378 và 2299m. Cao nguyên Kon Tum nghiêng về phía Tây và Nam. Nó là đầu nguồn của các sông Thu Bồn, Trà Khúc đổ về Bắc, sông Côn và sông Ba lần lượt theo sườn Đông và Tây đổ về Nam rồi ngoặc sang Đông đổ ra biển; và sông Se San đổ về Tây vào sông MeKông. Các sông trên đâu có thua sông Lam(s. Cả) ở xứ Nghệ. Núi Hồng Lĩnh ở Đông Nam Bến Thủy thì chỉ có 3 ngọn núi cao 395, 541, 676m mà thôi(giống như cụm  Chóp Chài-Đá Bia hơn 1 chút) và ở ngay giữa đồng bằng! Phía Nam Nam Trung Bộ núi non càng hùng vĩ hơn nữa. Sự hùng vĩ của rặng Đại Lãnh được nhà Nguyễn vinh danh cho khắc vào Cửu Đỉnh thờ ở Huế. Trên sống lưng của nó có đỉnh Chư Yang Sin cao 2442m, Mẹ Bồng Con cao 2051m. Bên cạnh nó núi non Khánh Hòa là xứ Trầm Hương và cao nguyên Lâm Viên(đỉnh Lang Biang cao 2167m) là đầu nguồn sông Đồng Nai to lớn. Sao những nơi đây xuất hiện ít nhân tài? Có lẽ nơi nào có cái học lâu đời, có trường sở lâu năm, sản sinh nhiều lớp tiền bối ăn học, thì nơi đó mới lắm nhân tài. Ngay từ thời Dương Văn An, Hoan Diễn đã dẫn đầu cái ăn cái học.
Trường Sư Phạm Qui Nhơn xứng đáng là hậu duệ của trường Bình Định(thời Cựu Học) và College de Qui Nhơn(thời Bình Minh của nền Tân Học).
Quốc Học Qui Nhơn chỉ tồn tại tới năm 1945. Năm 1945 dời về Phù Mỹ rồi An Nhơn, đổi thành trường Nguyễn Huệ rồi tách thành Nguyễn Huệ Nam, Nguyễn Huệ Bắc và tiếp tục di chuyển theo kháng chiến. Năm 1955 thời VNCH có tên là trường Cường Để. Vào thời Pháp Thuộc Quốc Học Qui Nhơn sánh vai kịp với Quốc Học Vinh, đóng góp nhiều cho nền văn học thời Tiền Chiến. Chiến tranh xảy ra sự học hành giảm sút. Khi trường Cường Để thành lập thì nó như các trường ở các tĩnh khác mà thôi. Việt Nam Cọng Hòa mất hơn 5 năm để hoàn chỉnh bộ máy. Khoảng năm 1960 thì VNCH khá trưởng thành và dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của người Pháp, tiếng Pháp. Tổ chức Đại Học hoàn thiện, chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Người Việt thay thế chuyên viên Pháp. Lần lượt trường Quốc Gia Hành Chánh, Võ Bị Đà Lạt, Hải Quân và Không Quân Nha Trang ra đời. Vào các trường này phải có bằng Tú Tài Toàn Phần, tức nâng lên cấp Đại Học. Sư phạm ngành Tiểu Học cũng theo đó mà tiến lên, bỏ cấp Cấp Tốc. Sư Phạm Qui Nhơn ra đời đào tạo giáo viên Cấp Bổ Túc một cách chính qui cung ứng giáo viên cho toàn vùng Duyên Hải và Cao Nguyên. Bây giờ thì trường SPQN mới gánh vác sứ mạng của trường cấp vùng như trường Bình Định thời Cựu Học và College de Qui Nhơn thời Bình Minh nền Tân Học.
Sau 1975 sứ mệnh cấp vùng nay trường Đại Học Qui Nhơn gánh vác nhưng không còn "bề thế" như xưa vì ngày nay Đại Học mở tràn lan kiểu "Đại Học Chữ To" tĩnh nào cũng có. Về mặt bề thế thì trường "Đại Học Chữ To" giống như trường trung học thời VNCH. Thời đó mỗi tĩnh chỉ có mỗi 1 trường Trung Học mà thôi.
Tôi đưa ra hình ảnh để minh họa một chuỗi sinh hoạt "kế thừa" của 3 ngôi trường cấp vùng qua 3 thế hệ "học sinh" liên tiếp như sau: Trường Bình Định là nơi xuất thân cụ tú Địch(thời Cựu Học), ông nội của thầy Huỳnh Diệu. College de Qui Nhơn là nơi xuất thân thầy Huỳnh Diệu(thời VNCH điều hành trường Bồ Đề Tuy Hòa) thời Tân Học. Và nay là trường SPQN là nơi xuất thân các giáo sinh  SPQN thuộc thế hệ học trò của thầy Huỳnh Diệu. Đây là đoạn rút gọn bài “Trường Sư Phạm Qui Nhơn-Sự Học Ở Nam Trung Bộ” giành cho những ai thích tìm hiểu và nghiên cứu cũng đăng trong blog này của tôi.
Viết tặng vợ hiền
Nguyễn Thị Thảo, gs SPQN K10(1971-73)
Đồng Diều 10-7-2012
 Huỳnh Bá Củng.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét