Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Đèo Hổ Dương

























(Lời giới thiệu: Lật trang lịch sử thấy có nhiều lần có Mùa Xuân Đại Thắng:
 Mùa Xuân năm 1653 Hùng Lộc đẩy Chiêm Thành qua khỏi rặng Đại Lãnh che chở họ được 182 năm kể từ năm 1471 thua trận Đồ Bàn và 42 năm bị Nguyễn Hoàng lấy mất Thành Hồ lập ra phủ Phú Yên năm 1611. Huyện Tuy Hòa thực sự thuộc Đại Việt. Trước năm 1611 huyện Đồng Xuân có thể thuộc huyện Tuy Viễn phủ Hoài Nhơn.
Mùa Xuân Đại Thắng năm 1592 Trịnh Tùng lấy lại được kinh đô Thăng Long(Đông Đô) sau 84 năm nội chiến(1509-1593). Tháng 12 năm 1509 Nguyễn Văn Lang, em vợ của Lê Thánh Tôn(Trường Lạc Hoàng Thái Hậu) cùng Giản Tu Công dấy binh ở Thanh Hóa(Tây Đô) để về lấy Thăng Long đánh đuổi “bọn ác đảng”. Tháng chạp năm ấy(1509) Lê Uy Mục uống thuốc độc chết. Nước rơi vào nội loạn tranh ngôi. Năm này cũng mùa Xuân, tháng 12 Trịnh Tùng, chắc ngoại Nguyễn Văn Lang (họ Nguyễn ở Tống Sơn Thanh Hóa, phía ngoại của triều Lê Thánh Tôn) trở lại lấy kinh đô Thăng Long cho nhà Lê Trung Hưng mà ông ngoại Nguyễn Kim đã lập ra. Mấy đời họ Nguyễn này phò nhà Lê: Nguyễn Văng Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng…theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Tháng 12 Trịnh Tùng xuất quân theo thượng đạo đến địa đầu Sơn Tây. Quân Mạc ứng chiến. Ngày 30 tháng chạp quân Trịnh vào thành Thăng Long. Khói lửa mù mịt. Con cháu nhà Mạc tháo chạy. Mồng 3 tết Trịnh Tùng lập đàn bá cáo trời đất rước vua Lê từ Tây Đô ra…theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
Mùa Xuân năm 1785 Nguyễn Huệ đánh bại 2 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút.
Sang tháng chạp năm Mậu Thân năm 1788 Quan Trung hành quân thần tốc ra Bắc Hà đánh bại 29 vạn quân Thanh vào Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789. Mậu Thân 1968 suýt có được 1 Mùa Xuân Đại Thắng.
Mùa Xuân Đại Thắng năm 1801 chấm dứt 28(1773-1801) năm nội chiến Tây Sơn- Nguyễn vương Ánh. Nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi để thấy làm được gì ngoài Nguyễn Huệ 2 lần đánh đuổi ngoại Xâm. Quân Gia Định mất 1 năm, năm 1800(trong cuộc chiến 9 năm 1793-1802) để giải vây cho Võ Thánh ở thành Bình Định. Giải vây không được. Tháng giêng năm sau, năm 1801, quân Gia Định phá được cữa Thị Nại. Tháng 3 lấy Quảng Nam. Nguyễn vương Ánh nghe lời khuyên của Võ Tánh nói để Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn ở Bình Định để vua ra lấy kinh đô Phú Xuân. Tháng 4 quân Nguyễn ra khỏi cữa Thị Nại. Tháng 5 ngày Bính Tý mồng một vào cữa Tư Dung. Ngày Mậu Dần lấy được kinh đô Phú Xuân. Quang Toản chạy ra Bắc Hà và vào năm 1802 Nguyễn vương Ánh thành vua Gia Long thống nhất đất nước thành nước Việt Nam(1 nửa là Đại Việt và 1 nửa là Đất Phương Nam của chúa Nguyễn)…theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên. Đất nước đã trải qua gần 3 thế kỷ (1509-1802) nội loạn.  
Mùa Xuân Đại Thắng năm 1975 cũng diễn ra vào tháng 3.  Ngày 11 tháng 3 năm 1975 đại pháo nã vào Ban Mê Thuộc. Ngày 1 tháng 4 VNCH tháo chạy khỏi tĩnh Phú Yên. Ngày 30 tháng 4 Sài gòn thất thủ. Thắng bại có nhiều nguyên nhân đưa đến. Xem qua đoạn giới thiệu trên cho ta thấy có cái gì trùng lặp trông giống có cái gì thuộc về tâm linh: Cơ Tạo, Vận Nước, Sự Chín Mùi, Nhân Duyên Qủa Báo.
Nhân kỷ niệm Phú Yên 400  năm vào dịp 1 tháng 4 mời các bạn lật trang sử cũ xem trận Hùng Lộc vượt đèo Hổ Dương mở mang đất chúa Nguyễn, làm đất nước có lúc rộng tới trấn Tây Thành ở Phnome Pênh vào thời Minh Mạng. Người Phú Yên sao không nhận ra Văn Phong, Nguyễn Hữu Vinh, Hùng Lộc là tiền hiền Phú Yên, người của chúa Nguyễn trong những ngày mở Đất Phương Nam một cách cụ thể mà chỉ nghĩ đến Lương Văn Chánh mở đất một cách mơ hồ trong thời nội chiến Lê-Mạc nhỉ? )

ĐÈO HỔ DƯƠNG
(Trích trong bản thảo sách Phú Yên 400 Nam Nhin Lai-HBC)

Mùa Xuân 2011 nói chuyện chiến thắng. Cách nay 358 năm(1653-2011) ở Phú Yên cũng có một Mùa Xuân Đại Thắng. Năm nay(2011) là năm người Phú Yên kỷ niệm tĩnh được tròn cái tuổi 400. Vậy có mấy ai biết trận đại thắng năm 1653 đã từng xuất phát ở phủ Phú Yên rồi diễn biến ở Ninh Hòa, ở phía bên kia cái đèo gọi là Đèo Hổ Dương? Có mấy ai biết đèo Hổ Dương ở nơi mô không nhỉ?
Trong tạp lục “Mây Trắng Dinh Phoan” tác giả Trần Huiên Ân viết “… Và từ nơi đây hơn bốn mươi năm sau, Hùng Lộc hầu đem quân vượt qua đèo Hổ Dương mở mang dinh Thái Khang”. Trong bài viết về “Lịch sử Ninh Hòa” tác giả Vinh Hồ dẫn chứng “Theo Phủ Biên Tạp Lục, đoạn đường này đi lại lúc bấy giờ chỉ là những con đường mòn nhỏ hẹp băng qua nhiều truông nhiều đèo rậm rạp hiểm trở. Đoạn qua đèo Hổ Dương có nhiều đá đen lởm chởm. Đường bộ thì đi bộ, đôi khi đi bằng ngựa…”
Mời mở trang sách cũ: Hùng Lộc làm quan đến cai cơ, Thái Tông Hoàng Đế, Quí Tỵ, năm thứ 5 (1653), mùa xuân, Chiêm Thành xâm lấn Phú Yên, quan ngoài biên(Phú Yên) đem việc tâu lên. Chúa bèn sai Hùng Lộc làm thống binh, sai Minh Vũ làm tham mưu, đem 3000 quân đi đánh. Quân ta đến Phú Yên, chư tướng muốn đóng quân, dụ giặc. Hùng Lộc nói: “Binh pháp có nói: Ra quân lúc bất ngờ, đánh giặc lúc không phòng bị. Nay quân ta từ xa đến, đánh ngay mới lợi, còn dụ giặc làm gì.” Hùng Lộc liền tiến quân qua núi Hổ Dương, thẳng đến thành giặc, đương đêm đốt lửa, đánh gấp, cả phá được giặc. Chiêm Thành quốc vương Bà Tắm trốn chạy. Hùng Lộc lấy đất đến sông Phan Rang. Bà Tắm sai con là Xác Bá Ân dâng thư xin hàng. Hùng Lộc đem việc tâu lên, chúa y cho, bèn lấy sông Phan Rang làm ranh giới. Từ phía Đông sông ấy đến đầu cõi Phú Yên, đặt làm doanh Thái Khoa cho Hùng Lộc trấn thủ, từ phía Tây sông ấy trở vào, vẫn trả cho Chiêm Thành, bắt sửa lễ cống. Gọi Đông-Tây nghe lạ tai nhưng thực tế là vậy. Mũi Đại Lãnh ở cực Đông. Qua khỏi nơi đây thì đất nước chạy hướng ĐôngBắc-TâyNam theo hướng rặng Đại Lãnh.
Sự kiện xảy ra 42 năm sau chúa Tiên chiếm lấy Phú yên(1611) và sau 182 năm Lê Thánh Tông đuổi người Chiêm qua bên kia đèo Cù Mông(1471), lập ra nước Hoa Anh(?) làm vùng trái độn giữa vương quốc Nam Chiêm Thành và Đại Việt. Vua Lê tới nơi đây thì dừng bước Nam Tiến. Biên cương đúng như lời chúa Tiên dặn khi sắp lâm chung: “Đất Thuận Quảng Bắc có Hoành Sơn và sông Linh Giang, Nam thì có núi Hải Vân và núi Thạch Bi, thật là nơi trời để cho kẻ anh hùng dụng võ. Vậy phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà xây dựng cơ nghiệp muôn đời”.
Núi Thạch Bi(đúng ra phải là núi Mẹ Bồng Con) hùng vĩ như bức tường thành như rặng Hải Vân đã từng là bức tường che chắn cho dân Chiêm lập quốc trước nước ta gần 1000 năm (100-939). Thành trì bảo vệ nền văn minh Champa sán lạn một thời! Bây giờ rặng Đại Lãnh cũng giúp người Chiêm cầm cự Đại Việt được 182 năm kể từ ngày bị Lê Thánh Tông đánh bại, mặc dù đất nước bị dồn vào vùng khô cằn nhỏ hẹp, không có cảng lớn như ở Đại Châu(Vijya, Hoài Nhân hay Bình Định, nhà Nguyên Mông gọi như thế) để giao thương và dân tộc rã rời yếu kém.
 Chiến thắng lần này của chúa Nguyễn có tầm cỡ và có nhiều ý nghĩa cho những cuộc Nam Tiến sau này của các đời chúa Nguyễn làm nước  Đại Việt biến thành nước Việt Nam to lớn hơn nhưng “người mình” lại lãng quên đoạn lịch sử và người anh hùng Hùng Lộc cũng bị quên lãng. Tiếc thay hậu sanh không biết rõ họ, quê quán và tuổi thọ của người anh hùng năm xưa. Cuộc đời sau này của ông cũng không ai biết đi về đâu nữa. Có lẽ vì ông là người gốc Chiêm Thành chăng?
Trong trận quan trọng này đoàn quân có người Phú Yên tham gia phạt Chiêm vượt qua dãy núi hiểm trở này ở nơi mô? Đèo Hổ Dương ở nơi nào trong rặng núi Đại Lãnh? Tên Đèo Cả mới có từ thời Pháp thuộc, khi quốc lộ 1A được mở(xem Lâm Viên Hành Trình Nhật Ký của nam tước đại thần Đoàn Đình Duyệt-đoạn trở về Huế bằng đường bộ qua Phú Yên năm 1917). Mỏm núi Đá Đen trên Đèo Cả ngày nay cho ta nghĩ không có kỷ thuật bắn đá thì không thể làm đường qua đây được. Trước đó, đường thiên lý Bắc Nam qua đây(rặng Đại Lãnh) là một tuyến đường núi nhỏ hẹp, hiểm trở, khó đi, nằm về phía tây đường Đèo Cả bây giờ, được gọi là đường Gia Long. Khối núi Đại Lãnh(rặng núi Đại Lãnh) hiểm trở đã góp phần làm dừng bước chân nam tiến của Vua Lê Thánh Tông năm 1471. Nhà vua phải lập một tiểu vương quốc ở vùng đất Phú Yên bấy giờ gọi tên là nước Hoa Anh(?), làm vùng đệm giữa Đại Việt và Chiêm Thành để tránh đụng độ quân sự trực tiếp giữa hai nước. Nhưng trên thực tế, quân đội Chiêm Thành do thông thạo những tuyến đường mòn xuyên qua rặng núi Đại Lãnh, đã không ít lần đột nhập cướp phá nước Hoa Anh(? tạm gọi thế chứ sự hiện diện của nước này hết sức mơ hồ trong sử sách). Thế mới biết rặng núi Đại Lãnh hiểm trở và có tầm chiến lược như thế nào? Hùng Lộc vượt qua đèo Hổ Dương. Đèo ở đoạn nào trong rặng núi?
Ta quan sát rặng núi. Nó là 1 nhánh của Trường Sơn chạy từ cao nguyên Lâm Viên-Đắc Lắc, cao nguyên có đỉnh cao nhất miền Nam VN (Chư Yang Sin cao 2442m, Lang Biang chỉ cao 2167m) . Rặng núi chạy theo hướng Tây-Nam Đông-Bắc mà đường đỉnh của nó là đường ranh giới Phú Yên-Khánh Hòa và ranh DakLak-Tuyên Đức(Đà Lạt). Từ Đông sang Tây có 3 dãy núi: dãy Đại Lãnh, dãy Tam Phong, dãy núi Mẹ Bồng con và tận cùng là cụm Chư Yangsin(2242m) và Chư Tupsa(1977m) nghi là núi Bà Nam ngăn chia Thủy Xá-HỏaXá. Dãy Đại Lãnh thấp nhất, có các đỉnh: Tận cùng có núi Đá Bia cao 706m, phía Khánh Hòa có núi Xả cao 698m, phía Phú Yên có núi Hóc Môn cao 524m, núi Đá Chồng cao 602m. Kế đến là dãy Tam Phong : về phía Khánh Hòa có núi Hỏa Sơn cao 714m, kế đến là hòn Giúp cao 1127m, Hòn Ngang cao 1128m, Hòn Giữ cao 1264m. Phía Phú Yên có các ngọn: núi Đá Chồng cao 602m, Hòn Ông cao 1110m, Hòn Kỳ Đà cao 1193m, Hòn núi Chúa. Phía Tây là dãy núi Mẹ Bồng Con có các núi Hòn Chảo cao 1500m, núi Đại Đa Đa cao 1730m và núi Mẹ Bồng Con cao 2051m, chỉ thua Langbiang có 116m mà thôi.
So với Hồng Lĩnh ở Nghệ An thì núi non ở đây hùng vĩ hơn nhiều. Hồng Lĩnh với sông Lam chỉ có 3 đỉnh 395m, 541m và 676m, lại đứng trơ trọi giữa bình nguyên mà nhìn sông Lam nhưng lại được sử sách ca ngợi là chốn cao sơn thâm giang sản sinh ra nhiều bậc anh tài. Sông Ba dài nhất Nam Trung Bộ và rặng Đại Lãnh hùng vĩ sao không được xem cao sơn thâm giang nhỉ?
Mẹ Bồng Con ở đất Phú Yên-Ninh Hòa làm bằng hỏa nham trông chồng có thể đến muôn vạn năm, hùng vĩ hơn nàng Tô Thị trông chồng ở Đồng Đăng, Cao Bằng. Nàng Tô Thị ngày nay phải rơi rụng chỉ vì làm bằng đá vôi nhưng lại được tiếng vang trong cả nước trong khi Mẹ Bồng Con trông chồng ở Phú Yên-Ninh Hòa ngậm ngùi thui thủi chỉ có 1 mình lại muôn năm. Mẹ Bồng Con mới đáng là nàng Vong Phu của VN, trông về phương Nam trông chồng trong hành trình mở nước. Nàng Tô Thi chẳng lẽ trông về Bắc Phương mà trông chồng! Hỡi hồn thiêng các chiến sĩ đánh Chiêm năm xưa nằm trong lòng đất lạnh, dưới chân núi, trong dinh Thái Khang, nhỏ đôi dòng lệ mà thương cảm cho nàng. Nàng lẻ loi. Hậu sinh chẳng ai để ý đến nàng, đến các bạn!
Địa thế như vậy thì người đời xưa xuyên qua bức tường thành này như thế nào khi họ chưa có máy xẻ đèo, máy đào hầm xuyên núi? Thiên nhiên đào hộ cho: Giữa dãy Đại Lãnh và Tam Phong có 1 chỗ gọi là eo gió, ở giữa núi Xá và núi Hỏa Sơn. Nơi đây có nguồn của sông Tu Bông đổ về  phía Nam vào tĩnh Khánh Hòa và nguồn của sông Trong đổ ra Phía Bắc về phía Phú Yên ngày đêm xẻ núi lấp sông tạo ra đèo cho người xuyên núi. Cả 2 sông đều phát nguyên trên núi Đồng Cọ, đổ nước về bên này và về bên kia của bức tường thành ngăn cách đôi đường.
Dưới chân núi Xả và núi Hỏa Sơn là đường Gia Long, có truông Hụt, nay gọi là truông Tân Dân vì truông chạy qua thôn này. Nơi này xưa kia nổi tiếng nguy hiểm vì có nhiều cọp thường ra rình bắt khách bộ hành, nên ai qua truông được bình an thì cũng giống như người chết hụt vậy. Có phải đây là đèo Hổ Dương? Xuống núi, đường Gia Long đi vào thung lũng Hòa Thịnh-Hòa Mỹ, ra Mỹ Thạnh để rồi vượt sông đến Thành Hồ, con đường thiên lý Bắc-Nam đời xưa?
Ngoài đường chính chắc còn nhiều đường mòn để đi. Những nơi này chỉ dành riêng cho những ai thạo đường rõ nẻo. Tài liệu hiếm hoi nên ít ai biết có bao nhiêu con đường người xưa dùng để xuyên núi. Chín năm Kháng chiến chống Pháp ở Phú yên có câu hát: “…Anh đi gánh gạo Khánh Hòa/Râu ria nó mọc chứ chưa phải già đâu em”. Hồi đó tụi nhóc con chúng tôi biết mang máng là cha anh chúng tôi gánh gạo qua Dốc Mõ. Bây giờ tra được tài liệu: Núi Dốc Mõ cao 1.015 m, tại núi này có con đường mòn xuyên sơn đi qua Phú Yên, những năm kháng chiến 1945-1954 giặc Pháp bỏ thây tại đây rất nhiều. Năm 1947, cụ Mai Phong có làm một bài thơ trên đường tản cư chạy giặc như sau:
Dặm đường Dốc Mỏ nghĩ mà ghê/Chồng chất non cao đá tứ bề/Chim thú vắng tanh cây rậm rạp/Gió mưa ròng rã nước lê thê/Lên đèo vượt suối bao nguy hiểm/Gối gió nằm sương đã chán chề/Trăm đắng ngàn cay ta chẳng nệ/Quyết dành độc lập sớm đem về.
Từ Dốc Mỏ đi vào là núi Hóc Chim. NÚI HÓC CHIM: cao 903 m ở phía Tây Vạn Giã chỗ ga xe lửa đi lên. Qua khỏi núi sẽ đến thôn Xuân Sơn chẳng khác gì một Trùng Khánh hay một Ðiện Biên Phủ vì tứ bề núi non bao bọc chỉ có 1 con đường độc đạo đi ra” Theonguồn:http://www.ninh-hoa.com/Dia_Ly-XuNinh-NuiNon.htm. Theo như thông tin này thì con đường này không phải đường Gia Long nói trên vì cao độ ở đây lên tới trên 900m và ở tận Vạn Gỉa chứ không đổ ra Tu Bông, có lẽ ở trong dãy Tam Phong hay ở phía tây núi Hòn chảo, gần với Ninh Hòa. Thời đó Chiến Khu Tây Ninh Hòa gần gụi với Phú Yên. Có nhiều người Ninh Hòa ra vùng Kháng chiến.
Đường Gia Long có thể là đường xuyên qua đèo Cổ Mã, vượt đèo Đại Lãnh mà men theo bờ Tây Biển Hồ ra Hòa Tân rồi về Phú Thứ để băng qua sông Đà Rằng. Tóm lại xuyên dãy núi này có nhiều lối đi, những lối dành cho những người dụng võ. Hùng Lộc cho 1 trận hỏa công. Bà Tắm phải chạy dài và cắt đất nhượng cho chúa Nguyễn. Ông và quân lính của ông phải thông thạo vùng này.
Đúng ra rặng núi này có 3 đèo chiến lược mà trong chiến tranh Nguyễn vương Ánh-Tây Sơn tranh giành 2 cái thành chiến lược ở 2 bên Nam-Bắc Phú Yên là thành Qui Nhơn và thành Diên Khánh. Cả 2 thành đều lưu danh Võ Tánh. Đoạn sử đó thường đề cập đến 3 đèo là Đèo Đại Lãnh, đèo Gian Nan và đèo Nhà Cắp (tuyến đường đèo Hổ Dương gồm có đèo Nhà Cắp và đèo Sầm Dương, cữa ngỏ Ninh Hòa-Sơn Thành. Để đánh bọc hậu và đương đêm đánh bất ngờ có lẽ Hùng Lộc xử dụng tuyến đường này sau khi đi vòng qua phía Tây Phú Yên đánh vào bản doanh Bà Tấm ở Ninh Hòa?)
Mời xem Rặng Núi Đại Lãnh Với 3 Đèo.
Mùa Đông năm 2010
Huynh Ba Cung



1 nhận xét:

Nguyên Đình
Apr 20, 2012 5:45 PM

mong doc 400 nam nhin lai!

Đăng nhận xét