Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

Đại Bình Xưa & Nay

Ngày nay đi đâu cũng cặp kè cái hộ khẩu. Có hộ khẩu làm cái gì cũng được ưu tiên số một. Người không có hộ khẩu chỉ là thứ dân bậc hai, bị coi nhẹ. Đời xưa cũng thế. Chánh cư ăn trên ngồi tróc, hiếp đáp ngụ cư. Con cháu của ông nội tôi ở ĐạiBình là dân ngụ cư nên chỉ là thứ dân ngoại hạng. Nhưng họ vẫn yêu đất mới, đất ĐạiBình. ĐạiBình là vùng đất của ChiêmThành. Ông nội tôi từ XómSủng ở động cát phía Nam chân núi ChópChài(làng PhướcHậu) về đây lập nghiệp. Từ đó đến nay trải qua bao thời đại.

Khi tôi lớn lên dấu vết ChiêmThành hãy còn bày ra đó: Con đường thiên lý từ Bắc xuôi Nam bây giờ là QL 1A chạy ven theo bờ bể. Ngày xưa vùng này, vùng quốc lộ 1A tọa lạc, với đồi cát chập chùng thưa dân hoang vắng, gần bờ biển hơn và nằm ở phía đông con đường thiên lý cổ. Hồi xưa những đất này thuộc vương quốc ChiêmThành, dân tập trung theo suối khe, ruộng rộc, chọn con đường xuôi Nam như sau: Từ TuyAn theo đường núi vào PhúĐiềm, PhúCốc, PhúMỹ, GiếngSung, BờĐắp, SơnTriều, PhụngNguyên, BếnLội, PhụngTường, CẩmSơn, NhoLâm, ĐạiBình để vào ThànhHồ là thủ phủ trước khi sang sông đến KhánhHòa qua ngả thung lũng HòaMỹ, HòaThịnh. ĐạiBình nằm trên trục lộ này. Vùng này ngày đó chắc trù phú lắm. Dân cư phân bố theo một nhánh sông của sông Chùa. Ngày nay nhánh sông bị bồi đắp thành con sông chết trơ ra thành dãy ruộng rộc(dãy ruộng sâu) chạy từ ThànhHồ tới BầuDừa ở giữa thôn ĐạiBình, uốn quanh qua BộngDầu, tới CẩmSơn đổ vào sông Chùa chảy từ núi Miếu đến MinhĐức bên cạnh chân núi ChópChài. Ngả ba họp lưu này có một chỗ gọi là BếnLội, chỗ con đường thiên lý cổ vượt qua dòng chảy sông chùa. Nơi đây có miếu thờ LươngVănChánh. Miếu chứ không phải lăng. Lập miếu ở đây có lẽ là để tưởng nhớ ông trên đường hành quân đánh vào ThànhHồ. Con rộc này có lẽ ngày xưa là con sông nhỏ có dân cư trù phú ở hai bên bờ. Tầm năm 1950 tôi thấy vết tích ChiêmThành còn hằn rõ nơi đây. Hai bên bờ rộc có nhiều khu gò ngổn ngang gạch vụn ChiêmThành, mồ mả ChiêmThành(mả Hời). Gạch vụn có thể là gạch lâu đài hay của nhà giàu có. Thời tôi bé nhỏ nghe râm ran nhiều câu chuyện được vàng Hời. Trong đống di tích còn có ché chum bình chén. Có một khu vườn gọi là vườn ao. Ao sâu là nét đặc trưng kiến trúc nhà cữa thôn xóm của ChiêmThành. Thường nơi nào có gạch vụn ChiêmThành thì có cấu trúc ao sâu như vậy. Dấu tích một vùng dân cư giàu có trù phú còn được thể hiện bỡi những đoạn bờ đất cao rộng uốn quanh co dáng dấp như con đường cái quan. Có đoạn dân cư hiện tại dùng làm con đường để đi.
Hình ảnh khác hoang sơ của quê tôi còn in rõ trong tâm trí tôi. Thập niên 1950s ĐạiBình hãy còn dáng dấp một vùng hoang sơ rừng rú còn sót lại.  Hình ảnh rừng còn rõ nét nhất là cảnh rừng GòQuýt, chỗ làm kho họp tác xã bây giờ. Nơi đây có cây to bóng cả. Ngay cả ban ngày ban mặt đi một mình không dám qua. Ma xuất hiện trên cây da sà, ma xuất hiện trong bụi rậm. Thỉnh thoảng có chú chồn chú chuột chạy ngẩn ngơ. Rắng rít ối thôi đầy rẫy. Đặt biệt là con cuốn chiếu, một thứ “côn trùng”thích ẩm và chỗ râm. GòQuýt đầy rẫy con cuốn chiếu nú na nú núc. Địa điểm thứ 2 còn vẻ rừng rú là miễu ĐạiBình. Nơi đây có cây cao như cây ở vườn bách thảo nhưng có vẻ hoang sơ rùng rú vì có dây leo chằng chịt, lại nổi lên đây đó những mỏm đá như hòn non bộ. Cảnh vắng vẻ linh thiêng. Nơi đây có lần ông nội 2 của tôi chọn làm nơi địa cuộc tốt để tán ông nội tôi. Địa thể thật là danh lam thắng cảnh phong thủy hữu tình. Một cánh rừng nằm dựa vào một con rạch chảy ngang qua BầuDừa trên con đường thiên lý cổ dẫn vào ThànhHồ, thủ phủ của ChiêmThành. Ở cuối con rạch này có miếu thờ ông LươngVănChánh. Một địa điểm nữa còn dáng dấp rừng rú là vườn làng nằm bên bờ con rạch này và ở phía đông GòQuýt. Khoảng năm 1952 năm 1953 gì đó cọp trên núi cao đi lạc xuống đồng, đến ẩn mình nơi đây. Bộ đội CụHồ phải mấy ngày mới bắn hạ được nó.

Khỏang đời ấu thơ của tôi, quê tôi hãy còn rừng rú thưa dân, vườn hoang ngang dọc. Những ngày rảnh rỗi dân làng trên xóm dưới hay tổ chức săn chồn. Chồn nhiều lắm. Nuôi gà để lơ mơ tối chồn vào bắt hết ráo. Cả xóm không có nhà ngói nào. Nhà nghèo thì lợp rạ. Năm nào cũng phải lợp. Nhà giàu thì lợp tranh.  Hai, ba năm lợp lại một lần. Nhà giàu có tới hai ba vườn trồng tranh. Tranh cắt phơi khô bó lại để dành rồi đánh thành tấm để lợp nhà. Trong vườn tranh cây cỏ mọc um tùm, dây leo chằng chịt, gai góc mọc đầy và nơi đây là quê hương của chồn cheo rắng rít và...ma! Hồi nhỏ tụi tui khoái vào vườn tranh hái trái cây hoang nhưng sợ ma khinh khủng.

Xóm tôi dài và có nhiều vườn hoang nên tiện việc săn chồn. Người ta dùng lưới chặn bít lối mòn ở đầu xóm rồi anh em dùng gậy đập và hô hét xua đuổi con mồi. Nghe động chúng lui binh, vườn này qua vườn khác để cuối cùng sập vào lưới. Tại đây có hai người chờ sẵn, nện một gậy kết liễu con mồi. Sau đó một phen chè chén.

Vật dổi sao dời rồi văn minh thời đại đến đem theo tiện nghi cho cuộc sống, đồng thời cũng lấy mất đi nếp bình dị hoang sơ êm ả của TựNhiên ban cho nhân loại. Dẫn thủy nhập điền làm thay da đổi thịt quê tôi. Trước mặt xóm là con mương chạy dọc. Phong thủy hữu tình. Nhưng nét đẹp khác xưa. Bờ mương nay làm con lộ giao lưu. Người ta bỏ con đường cũ. Nét xưa mai một. Đứng trên bờ mương cao trông ra cánh đồng rộng bát ngát, không còn khô khan nứt nẻ mà tươi mát xanh um. Chiều chiều cơn gió nồm thổi nhẹ mang theo hương thơm của lúa đồng, có lẽ mang theo cả tiếng rì rào của tôm ca sống rúc rích trong ruộng nữa. Những năm đầu chưa có kinh nghiệm. Nước mương chảy quanh năm suốt tháng. Mương đóng rong và đầy tôm cá. Đồng thì úng thủy. Bùn sình lội tới háng. Bờ ruộng thì trơn trợt đứt khúc khó đi. Đỉa thì nhiều ôi thôi vổ kể. Lác lùng dày đặt và đây là môi trường nuôi dưỡng cò và con cúm núm(gà nước). Bò cày không nổi nên  mới dùng trâu. Bố và chú tôi phải vào tận TuBông, VạnGỉa để mua trâu về làm ruộng. Thú vui của chị em tôi bấy giờ là chăn trâu để bắt ổ con cúm núm. Mùa gặt xong thì đi bẩy cò và đi tát cá ruộng cạn. Cái khó ló cái khôn. Người ta biết đóng nước mương lại khi lúa bắt đầu chín. Ruộng để khô 1 đến 2 tháng rồi mở nước vào đồng làm mùa tiếp. Đồng thời đào mương rút thể tháo úng. Cuối cánh đồng là vùng nước trắng lăn lầy lội ruộng bỏ hoang gọi là đồng BầuCỏ nay khô ráo đâu đâu cũng cày cấy được. Ngược lại tôm cá cũng ít đi và thú đi bẩy cò và bắt ổ con cúm núm nay không còn nữa.

Lúc đầu đồng lầy nên người ta phải cấy lúa. Thật là vất vả “chồng cày, vợ cấy, con trâu kéo bừa.”Gặt thì bằng tay với chân. Cả buổi chỉ gặt được vài mét vuông. Vì vậy có cảnh hàng trăm thợ gặt ở các vùng lân cận đến gặt lúa lấy công. Cư 5, 6, hay 7 giạ cho chủ thì được 1 giạ lúa công. Năm nào ế thì phải xuống tận dưới dinh, thị xã TuyHoa ngày nay, rước thợ gặt từ TuyAn, BầuSúng vào. Thợ gặt làm cao, vòi vĩnh. Làm ruộng ngày xưa vất vả bấp bênh. Nhưng cũng có cái hương vị rộn ràng sôi động ngày mùa chứ không buồn tẻ vì cái gì cũng cơ giới và cách gieo sạ quá đơn giản như ngày nay.

Dần dần dân chúng sống đông đúc đẩy vườn hoang ra khỏi thôn xóm. Cảnh cũ không còn nữa. Vật đổi sao dời.  Tài lộc tụ rồi tan. Ngày xưa người giàu có tụ ở cuối xóm. Tới thời bà nội tôi tài lộc tụ ở giữa xóm. Khi nước đập ĐồngCam về, đất đầu xóm có cơ phát triển. Một vùng đất cao dựa lưng vào ga nước(barrage chắn nước) hướng mặt ra cánh đồng. Cảnh trí thật hữu tình. Ở đây có một thế hệ đang lên đem cây dương(cây phi lao mà Tây du nhập đang trồng làm cây chắn gió ở bờ biển) về đây trồng thử. Xóm này được gọi là Xóm Chòm Dương.

Đến năm 1975 xóm tôi lại thay da đổi thịt. Ruộng đất đi vào hợp tác xã. Bờ thửa bờ vùng mọc ra ngang dọc rộng rãi, được cán đá cản sỏi có chỗ tráng nhựa hay  bêtông hóa. Nhà cữa chi chít. Ngày nay không có một cái nhà nào mái tranh vách đất tọa lạc trên một khảnh vườn mà nhà xây thành lô kiểu bêtông cốt sắt của nhà phố.

Vài nét ghi lại cảnh xưa người cũ để con cháu chạnh lòng  nghĩ đến cảnh vật đổi sao dời của TựNhiên mà có một chút bình tâm nhìn lại mình để thư giãn. “Ngã kim nhật tại tọa chi địa. Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi.”Viết tại một góc di tích cổ thành GiaĐịnh(trụ trở CôngTy KiếnÁ) vào mùa lễ hội KỷNiệm SaiGòn 300 năm 1997, 163428HuỳnhBáCủng, đời thứ 6 họ HuỳnhNh3. Trích đoạn trong phụ lục gia phả họ HuỳnhNH3 gốc ở PhướcHậu. (163428 là mã số của một thành viên trong họ. NH3 là ông tổ HuỳnhVănNhượng mang mã số 1, ông cao thứ 6, ông cố thứ 3, ông nội thứ 4, cha thứ 2 và người con thư 8 ).

vào link sau đây xem các bài viết khác về PhúYên:

 



0 nhận xét:

Đăng nhận xét