ĐÈO NÚI PHU YEN-1
Ngày nay kỷ thuật
tân
kỳ đào hầm xẻ núi để có tuyến đường thẳng xe chạy boong boong sướng thật nhưng
mất cái hứng thú ngoạn cảnh sơn thủy hữu tình. Đâu còn gợi hứng để làm thơ “Một đèo lại một đèo/Khen ai khéo vẽ cảnh
cheo leo-Đèo Ba Dội, nữ sĩ Hồ Xuân Hương” hay “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà/Cỏ cây chen lá, đá chen hoa-Qua Đèo
Ngang, Bà Huyện Thanh Quan.” Để gợi cảm
hứng cho du khách tôi mô tả một loạt núi đèo dọc Đường Thiên Lý(ĐTL) từ Cù Mông
đến vịnh Xuân Đài’.
Đèo
Cù Mông băng qua rặng núi Cù Mông là nột hoành sơn của cao nguyên KonTum chìa
ra Biển Đông(BĐ) ngăn trở giao thông trên ĐTL. Hoành sơn này có hình dáng đặc
thù không thấy đâu có trên ĐTL là các ngọn núi xếp song song theo trục Bắc-Nam
đều đặn và so le từ TâyNam lên ĐôngBắc. Theo đỉnh và đường đỉnh của các ngọn
núi người ta vạch đường biên giới(ĐBG) BìnhĐịnh-PhuYên. ĐBG theo địa thế khi
thì sang Đông, lên Bắc, xống ĐôngNam, lại lên Bắc, sang ĐôngNam, lại lên Bắc, cứ
tiếp nối như thế và đoạn cuối cùng theo hướng ĐôngNam thọt thẳng vào Biển Đông(BĐ)
ở mũi bãi Bàng ở phía bên trên Cù Lao Xanh nằm đối diện bán đảo Từ Nham. CLX
theo địa hình thì thuộc PhúYên. Nhưng theo lịch sử thì thuộc Bình Định. Trông
toàn thể, đường biên như vẽ ra cái đầu con cóc ngồi chồm hổm nhìn ra BĐ. Để thấy
sự nhấp nhô lên xuống của núi rừng tôi ghi các đỉnh mà nó đi qua: Qua khỏi đường xe lửa, ĐBG đi về Đông leo lên
đỉnh đồi cao 220m có địa danh Mục Thìn ghi bên cạnh; lên ĐôngBắc tới đỉnh 580m;
tới đỉnh Do Ak cao 880m; sang Đông tơi đỉnh 320m; tiếp tục xống dốc về ĐôngBắc
tới đỉnh 268m; lên Bắc tới đỉnh Hòn Khê cao 881m; Xuống dốc tới đỉnh Hòn Gio
cao 794m; ngã sang TâyBắc đến đỉnh núi Đá cao 741m; tới đỉnh 728 thì ngoặc sang
ĐôngNam; xuống dốc tới đỉnh 550m thì sang Đông; lên dốc đi về phía bắc tới đỉnh
Hòn Khô cao 816m; tới đỉnh 565m; tới đỉnh
720m thì ngã sang Đông tới đỉnh Đông Song cao 680m; xuống dốc đi về TâyBắc tới
đỉnh 583m; ngã sang Đông xuống dốc tới đỉnh đèo Cù Mông cao 220m, ngang đỉnh đồi
ở phía đông đường xe lửa; tiếp theo leo
lên đỉnh 520m đi lên TâyBắc tới đỉnh 580m; xuống dốc tới đỉnh 500m; xuống khe
360m thì ngoặc sang ĐôngNam lên đỉnh 580m; lên đỉnh Tươp Vung cao 673m; tới đỉnh
560m thì ngã sang Đông; tới đỉnh 360m thì ngặc xuống ĐôngNam chạy tuốt ra mũi
bãi Bàng ở chân núi Ông Bài(Bản đồ Indochina Thailand AMS Tophography(ITAMS). Bản
đồ VietNam Tophography maps(VNTM) ghi thông tin như trên đây và ghi núi Ông Bài
lại ở phía tây, chỗ gần Quốc Lộ 1). Rặng Cù Mông phân thủy nước chảy về Bình Định
qua sông Hà Thanh. Bên nay nước suối khe gom lại tạo ra sông Bà Nam, Bà Bông họp
lưu ở Long Thạnh(VNTM) đổ vào đầm Cù Mông. Bản đồ ITAMS và Jm Henthorn(JH)
không ghi tên 2 sông này. Xế xuông phía nam có một con sông khác dài hơi hơn. Bản
đồ JH ghi tên sông Bình Minh họp lưu với nhánh sông khác không ghi tên thành S.
Cầu. Bản đồ ITAMS cũng ghi tên S. Cầu nhưng không ghi tên 2 nhánh họp lưu kia.
Bản đồ VNTM ghi tên S. Binh Minh họp lưu với S. Ba Giang thành S. Cá. Một số trang web người Phú Yên viết thì gọi
sông Cầu là sông Tam Giang.
Đối
chiếu với bản đồ cổ Giáp Ngọ Binh Nam Đồ(GNBNĐ) trang 157 ghi Cù Mông Hải Môn,
Xuân Đài Hải Môn với con sông có 2 nhánh(Sông Tam Giang ở Sông Cầu?). Bản đồ
trang 158 ghi tiếp về phía nam 3 cảng biển nữa là Mây Nước hải môn, Phú Yên hải
môn và Răn Răn hải môn. Bản đồ cổ hơn là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trang 97
ghi Xuân Đài giang. Trang 98 ghi một con sông đổ ra chỗ cù lao Mây Nước và sông
thứ 2 là Bàn Thạch giang có tên cữa là Ăn Năn hải môn. Sách này không vẽ sông đổ
vào đầm Cù Mông. Giữa 2 sông ở phía nam là vũng Ba Linh. Trong bài “Gành Đá
Dĩa” tôi đưa ra giả thiết sông Đà rằng là đoạn sông mới của sông Ba xé rào chảy
thẳng đổ vào vịnh Ba Linh, chỗ mà GNBNĐ gọi là Phú Yên hải môn. Địa danh Đà Rằng
có lẽ có từ thời vua Chiêm Po Romê(1627-1651) gốc người Chu Ru ở phía nam rặng
Đại Lãnh gọi tên sông có chữ “Đà” ở
đàng trước như ĐaNhim, ĐaDung. Nhiều tác giả lầm tên “Đà Rằng” do tên “Ran Ran”
mà Đắc Lộ đã gọi nhưng Răn Răn hải môn trên bản đồ GNBNĐ là cữa Ăn Năn hải môn
trên bản đồ TNTCLĐT của sông Bàn Thạch.
Một chút trích dẫn soi kim cổ để khách du lịch
có thêm chút hứng thú khi đi đây đi đó xem phong cảnh hữu tình.
Xuống
đèo Cù Mông, xuôi Nam trên Đường Thiên Lý, tôi tiếp tục mô tả các con đèo, con dốc để lại dấu ấn trong sách
sử mà kỷ thuật đục đẽo sang bằng, nắn tuyến đường sá tân kỳ gần như xóa bỏ vết
tích của chúng. Đối chiếu với sách sử và nhờ bản đồ quân sự tỉ lệ lớn 1/250.000
và 1/50.000 có kẻ đường vòng cao độ 100m hay 20m ta sẽ nhận ra chúng.
Đầu tiên là đèo Vận Lương(ĐVL) ở thôn Tùy Luật Hòa bên bờ tây cữa đầm Cù
Mông. Câu chuyện dân giang ở PhúYên có đề cập đến ĐVL. Trên bản đồ 1/50.000 có
vòng cao độ 20m ta cũng nhận ra có một cái đèo ở địa phương này. Đèo cao 20m. Đường
Thiên Lý(đường cái quan: la route mandarine) đi giữa 2 quả đồi. Đồi phía tây
cao 120m. Đồi phía đông cao 100m. Có lẽ tên ĐVL có từ thời chiến tranh
TâySơn-Nguyễn Vương Ánh giai đoạn thu phục thành Bình Định(tháng 5/1800 đến
tháng Giêng 1802). Đại Nam Thực Luc Chính Biên(ĐNTLCB) viết nói tháng 5/1800
sai lưu thủ PhuYên là Phạm Tiến Tuấn cùng cai bạ Trần Minh Đức, ký lục Võ Đức
Thông sai dân chở gạo lương ở kho tạm Xuân Đài để cấp lương quân. Sai hàng tướng
Tây Sơn(TS) Từ Văn Chiêu(TVC), Phạm Văn Điểm(PVĐ) vượt đèo Cù Mông đánh giặc.
Tháng 6 phó giám thành sứ Nguyễn Văn Yên chở thuốc đạn và vật công tự Cù Huân(Nha
Trang) ra. Tháng 7 TVC và PVĐ trở về với TS. Thu tô ruộng ở Phú Yên. Sai quan
công đường cứ sổ điền năm MậuNgọ theo lệ mà thu. Chỉ có thế mà các tác giả người Phú Yên viết
trên PhuYen Online về sự tích các địa danh một cách rằng ri theo cảm tính cá
nhân để lộ sự mù mờ lịch sử thời chúa và vua Nguyễn làm cho hậu sinh hiểu sai lầm
về địa lý và lịch sử tĩnh nhà. Tôi nói “Có
lẽ tên ĐVL có từ ...” là vì các trận đánh trước đó quân Gia Định(GĐ) theo
gió mùa ra đánh TS rồi rút về GĐ củng cố, sang gió mùa năm sau ra đánh tiếp nên
không có chuyện vận lương(lương chở tới đâu xài tới đó). Kỳ này trận chiến kéo
dài liên tục từ tháng 5/1800 đại binh đến PhúYên rồi tiến ra giải vây Võ Tánh(VT)
cố thủ trong cái thành Bình Định cho đến tháng 5/1801 VT tuẫn tiết. Tây Sơn hạ được
thành Bình Định. Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt tiếp tục bao vây thành, cầm
chân quân Tây Sơn ở thành Bình Định cho đến tháng Giêng năm 1802 Trần Quang Diệu
và Võ Văn Dũng mới bỏ thành theo thượng đạo mà ra Nghệ An cứu Quang Toản.
PhúYên là hậu phương tiếp tế cho trận chiến ở Bình Định. Đèo Vân Lương ra đời.
Có
2 cuộc chiến Tây Sơn đánh Gia Định và Nguyễn Vương Ánh đánh Tây Sơn thu phục
thành Bình Định. Dẫn truyện dân giang về sự tích ở PhúYên quí vị lầm lẫn 2 cuộc
chiến này và nhân vật hoàng thân Nguyễn Ánh và Nguyễn Vương Ánh. Nhờ 2 lần chống
quân ngoại xâm, đại phá mấy vạn quân Xiêm-quân Thanh và xuất thân từ người anh
hùng áo vải mà quí vị có cảm tình với TS, ghét Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà,
rước voi về mả tổ mà thêu dệt chuyện ly kỳ sai với sử sách. Như đoạn trích lịch
sử nói trên thì vận lương ở đây là vận chuyển lương lấy ở kho tạm Xuân Đài từ
hàng ở Gia Định chở ra hay từ kho trung chuyển Cù Huân ở Nha Trang chuyển ra
cung ứng cho chiến trường Bình Định. Vua Nguyễn thu lương ở Phú Yên cũng vừa phải
thôi. Thế mà các trang mạng quí vị nói rằng ri là Nguyễn Ánh vơ vét của cải ở
PhúYên chuyển xuống cảng Cù Mông tẩu tán khắp nơi mà không biết đầm Cù Mông cạn,
có nơi chỉ sâu nửa hay 1m(bản đồ VNTM) và cữa(phá Cù Mông) chỉ sâu 5m lúc thủy
triều lên.
Mời
nghe tiếp trang mạng viết về sự tích ở vịnh Xuân Đài và sự tích chiếc bánh nậm liên quan tới địa danh
đầm Cù Mông và Hòn Nần trên Phuyen Online.
Viết
về sự tích ở vịnh Xuân Đài, một bài trên PhuYen online viết : “Năm Ất Mùi(1775), Tống Phước Hiệp huy động
toàn lực quân chúa Nguyễn tiến công quân Tây Sơn, đại bản doanh đóng tại Xuân
Đài và ông sai Võ Tánh đánh lên La Hai, cắt đứt đường tiếp viện từ Vân Canh
vào.”Tống Phước Hiệp đánh Tây Sơn là chiến tranh TâySơn đánh quân GiaĐịnh(1773-1784).
Không có chuyện Võ Tánh(VT) tiến quân qua ngả LaThai-VânCanh. Trận Nguyễn Vương
Ánh đánh Tây Sơn(1800-1802), giải vây VT ở thành BìnhĐịnh thì Lê Văn Duyệt từ
Quảng Ngãi đánh xuống, Nguyễn Văn Thành theo ngả LaThai đánh Lên. Hành tại của
vua đóng ở cữa đầm Cù Mông(đảo Hòn Nần). Chuyện xảy ra trên 20 năm sau, khác hoắc
kia mà!
Di tích Hòn Nần. Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) gọi là hòn Bàn Than. Hòn Nần
là bản doanh, Thực Lục Chính Biên gọi là hành tại của vua Nguyễn Vương Ánh
trong chiến dịch giải vây Võ Tánh ở thành Bình Định. PhuYên Online viết như ri!
“sự tích bánh nậm...Nguyễn Ánh bị anh em
Tây Sơn ẩn nấp trên hòn Khô(thuộc dãy Cù Mông, sau đó tìm đường xuống chân đèo
tìm cách vượt qua đầm Cù Mông...Do kinh tế khó khăn, người dân phải xay gạo
thành bột làm bánh cho quân sĩ ăn đỡ đói...Trần Quang Dũng và Bùi Thị Xuân vây
đánh...tàn quân Nguyễn Ánh tháo chạy...nhờ đêm tối và dân địa phương đưa xuống
bến đò Tùy Luật...đưa ra hòn Nần trú ẩn...bà Phạm Thị làm chiếc bánh ngon dâng
cho Nguyễn Ánh...Nguyễn Ánh gạt nước mắt nguyện sẽ báo đáp...Phạm Thị được vua
Gia Long ban tặng trướng gấm đề 4 chữ Nữ Nhi Phù Quốc và tặng...)” Bài viết
nói chiếc bánh nậm không thể thiếu trong trong các đồ cúng tế ở Miếu Biểu Trung
ở hòn Nần. Sự tích có đúng hay không sẽ xét nhưng viết Trần Quang Diệu thành Trần
Quang Dũng(lầm với tướng Võ Văn Dũng) và Bùi Thị Xuân dự vào trận đánh thì độ
chính xác của bài viết hết tin nổi! Ngay cả Nguyễn Đình Tư, trong Non Nước Phú
Yên cũng sai lầm khi viết về sự tích Miếu Bà Trang. Người ta lầm lẫn Nguyễn Ánh
bị Tây Sơn rượt chạy thất điên bát đảo ở chiến trường Lục Tĩnh với Nguyễn Vương
Ánh khi trở lại chiến trường PhúYên Bình Định thu phục 2 xứ này rồi giải vây Võ
Tánh ở thành Qui Nhơn, lấy được thành này rồi đổi tên ra thành Bình Định và thống
nhất Nam Bắc Hà lập ra nước Việt Nam năm 1802.
Câu
chuyện Nguyễn Ánh bị TS rượt đuổi không thiếu ờ các tĩnh ở phía nam Nam Hà là đất
mới của chúa Nguyễn. Bình Định Phú Yên là tiền đồn cung cấp nhân lực, vật lực
cho công cuộc mở mang đất mới này cho nên giọng nói và văn hóa 2 tĩnh này có nét
pha trộn với người và văn hóa Nam Bộ. Câu chuyện dân giang ở đây na ná thấy ở
Nam Bộ. Viết chúng nên cần thận chớ gọi chúng là thứ gì đặc thù ở PhuYên.
Di
tích ở hòn Nần như thế này. Trong chiến dịch thu phục thành Qui Nhơn hơn 1 năm
rưỡi(tháng 5/1800-tháng Giêng/1802) bản doanh của Nguyễn Vương Ánh đặt tại hòn
Nần ở cữa đầm Cù Mông. Lúc này Nguyễn Vương Ánh hành quân bài bản, tiền hô hậu ủng,
tiến quân 3 hướng: Thượng đạo, trung đạo và thủy binh. Quân chính qui thì có
binh chủng quân Thần Sách tổ chức thành 5 đồn: Tả, Hữu, Tiền, Hậu và Trung Đồn.
Năm 1799 sau khi thu phục được Phú Yên và tiến chiếm thành Qui Nhơn tướng sĩ
Tây Sơn(TS) theo về thì tổ chức thêm binh chủng Ngự Lâm Quân với 5 đồn theo mô
hình quân Thần Sách(QTS), cho Võ Tánh thống lĩnh giữ thành Qui Nhơn. Năm đồn QTS
thì đổi tên thành 5 dinh. Sau khi Nguyễn Huệ mất(1792) và Nguyễn Nhạc mất(1793)
lực lượng TS suy yếu. Nội bộ tranh quyền lực chia rẽ làm suy yếu thêm nhưng
binh vẫn còn hùng, tướng vẫn còn mạnh(Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Bùi Thị
Xuân). Đoạn quân TS từ PhúXuân xuống giải vây thành Qui Nhơn bị Võ Tánh vây hãm
năm 1799, Thực Lục Chính Biên(TLCB) viết: “tháng
6-1799 Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đến Quảng Ngãi nghe tin quân Gia Định(GĐ)
giữ Tân Quan(Tam Quan ngày nay), liền bỏ thuyền lên bộ mấy vạn cuốn đất mà đi.”Hùng mạnh như thế nhưng tinh thần thì sa sút quá
rồi. TLCB viết tiếp “Diệu ở ngoài núi Thạch
Tân(đèo Bình Đê ngày nay) giả làm thanh thế. Dũng lẻn đánh úp quân GĐ vào ban
đêm. Lúc lội qua khe nhỏ, một con nai trong rừng chạy ra. Có người hô “nai!”
Quân nghe lầm là “quân Đồng Nai” bỏ chạy tán loạn...Vỡ trận...Dũng
Diệu lui binh...Võ Tánh lấy thành Qui Nhơn.” Trích đoạn để thấy quân GĐ lớn
mạnh như thế nào, không có chuyện TS rượt đuổi Nguyễn Ánh chạy thất điên bát đảo
ở chiến trường này. Khi khởi nghĩa, TS lấn ra Quảng Nam, quân Phú Xuân vào chận
đánh thất bại, chúa Duệ Tông cùng hoàng thân Nguyễn Ánh 17 tuổi theo đường biển
vào Gia Định. Nguyễn Nhạc bắt hoàng tôn Dương làm con tin. Không có chuyện TS
rượt Nguyễn Ánh ở chiến trường này. Viết lách theo cảm tính để bài được đăng coi
chừng lầm lẫn sự kiện lịch sử đấy.
Trên
hòn Nần có mộ cổ tử sĩ và miếu thờ 526 chiến sĩ tử vong trong chiến dịch giải
vây Võ Tánh ở thành Qui Nhơn(có tài liệu ghi 515 người) trong số đó có 2 viên
tướng bịnh chết tại đây tháng 12-1800 là Đô Thống Chế Hậu Dinh quân Thần
Sách(HDQTS) Mai Đức Nghị và Phó Đô Thống Chê HDQTS Tôn Thọ Vinh. TLCB thì ghi
trận đầm Thị Nại tử trận hơn 600 người. Miếu lúc đầu có trên là Cù Mông Công Thần
Miếu. Đến đời Tự Đức thì gọi là Miếu Biểu Trung. Trên bản đồ Vietnam
Tophography Maps ghi là Miếu Công Thần. Chớ lầm hòn Nần(hòn Bàn Than) với hòn
Nan mô tả trong ĐNNTC. Sách này viết: “theo
sách Thủy Lục Trình Ký của Trần Công Hiến, ngoài biển Tuy Hòa có một quả núi.
Trên núi có một tảng đá có khắc một chữ “nan”...không rõ khắc tự đời nào.”Sách
ĐNNTC lấy dữ liệu ở sách cũ. Sự hiểu biết địa hình người xưa có sự hạn chế và
sách cũ có thể sai lầm. Ví dụ nguồn sông Bàn Thạch xuất phát từ núi Phố Chiêm,
tĩnh Bình Thuận hay sông Đà Diễn phát nguyên từ phía tây núi Phước Sơn thì sai
đó. Nhưng dẫn Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi nói sông Bàn Thạch là sông Phan Định
thì đúng đấy. Sông Phan Định giáp địa giới phủ Hoài Nhân có 3 đoàn cá sấu ngăn
cản Lý Thường Kiệt trên đường đuổi bắt Chế Củ. Xét sự kiện lịch sử và lý luận
logic thì đúng đấy. ĐNNTC mô tả “sông Đà
Diễn chảy về Đông làm sông Thạch Hãn(có nhiều ghềnh đá ngăn chặn), ngoặc về phía nam đến phía nam xã Thạch
Thành họp lưu với sông Hương Sơn, lại chuyển sang phía đông chảy đến thôn Bảo
Tháp.” Mô tả như thế thì đúng dòng chảy sông Đà Rằng ngày nay trên bản đồ
quân sự Jm Henthorn. Sông Thạch Hãn là đoạn sông chảy qua chỗ người Pháp chọn
xây đập Đồng Cam và sông Hương Sơn là sông Đồng Bò.
Trở
lại chuyện hòn Nan. Hòn Nan ở ngoài biển huyện Tuy Hòa thì không thể tin được.
Nhưng xét bản đồ cổ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong sách Hồng Đức Bản Đồ trang
98 thì tin được. Bản đồ vẽ giữa huyện Tuy Hòa có vũng Ba Linh to tổ chảng. Đối
diện trong biển vẽ cù lao Phủ Linh. Hòn Nan là đây. Gỉa thiết vũng Ba Linh và
cù lao Phủ Linh bị phù sa sông Đà Rằng và cát biển bồi lấp nay còn sót lại đồi
đá ở tả, hữu ngạn cữa sông Bàn Thạch, phía nam Phú Hiệp ngày nay.
Đèo Nại. Trở lại địa hình ở địa phận Sông Cầu. Tiếp theo
Đèo Vận Lương là đèo Nại ở đầu bán đảo Từ Nham(BĐTN). BĐTN hình thành bờ đông vịnh
XuânĐài. Không biết “Nại” nghĩa Hán-Việt là gì. Có tác giả trên mạng gọi đèo Nại
là đèo chở muối. Đầu BĐTN thuộc địa phận Lệ Uyên-Trung Trinh. Đèo Nại phân chia
vịnh XuânĐài và đầm Cù Mông(CM). Xe đang chạy men theo bờ tây vịnh XuânĐài thì
vượt qua bán đảo TừNham để men theo bờ tây đầm CM chạy tiếp. Ngày nay, xe chạy
thêm một đoạn nữa thì tới địa điểm cách Tuyết Diêm(TD) 3Km. Tài xế sẽ thấy có một
cây cầu bắc qua đầm CM để xe chuyển sang bờ đông đầm mà chạy thẳng đến QuiNhơn(QN).
Phần đường còn lại rẽ sang hướng Tây-Bắc chạy đến TD tiếp tục men theo bờ tây đầm
chạy đi tiếp. Đó là tuyến leo đèo CM. Cuối đầm CM, ở chỗ chân đèo, trên bản đồ
trước đây, bản đồ Indochina ThaiLan Tophography, cũng thấy có con đường mòn bọc
chân rặng núi đèo Cù Mông để ra QN qua
ngả QuiHòa(trại Cùi QuiHòa). Như vậy tuyến đường rẽ sang ngang ngày nay để đến
QN không có gì là lạ cả. Hiềm vì ngày xưa kỷ thuật bắc cầu qua biển chưa thực
hiện được mà thôi.
Dốc Xuân
Đài(DXĐ), nơi phân ranh huyện Sông Cầu-TuyAn. Có câu
ca hát ru em ngủ: “Đèo nào cao bằng đèo
Phú Cốc/Dốc nào ngược bằng dốc XuânĐài/Đèo cao dốc ngược, đường dài/Anh còn qua
được huống chi vài lạch sông.”Một trang web mô tả DXĐ: “Từ Chí Thạnh đi ra, đến gần dốc Vườn Xoài chừng
3.000m, có con đường đất rẽ trái đi về hướng TâyBắc độ 1Km, thì đến chân dốc
XuânĐài. Dốc ngược theo triền núi cao 500m. Leo lên dốc như thể ta bước từng cấp
một lên đỉnh YênTử, hai bên có nhiều cây cổ thụ, tán lá che phủ cả con đường đi
vào một vùng rộng lớn. Đỉnh dốc, phía bắc có vườn cam nổi tiếng thơm ngon đã từng tiến vua cùng xoài ĐáTrắng. Xuống dốc, đi ngược
về phía nam non 7Km nữa thì tới ngả ba Triều Sơn.”Đoạn trích trên đây nói
lên DXĐ ở đâu và hiểm trở như thế nào. Không có bản đồ địa hình thì không nhận
ra địa danh này đã lưu danh trong sử sách. Bản đồ VietNam Tophography Maps(tỉ lệ
1/50.000) có vòng cao độ 20m cho phép ta nhận ra DXĐ. Dốc ở trên đỉnh “dãy”núi
phân chia vịnh Xuân Đài với “bình nguyên” cữa sông Cái ở TuyAn. Ngày nay QL 1A
men theo sườn phía đông bao bọc “dãy”núi này mà đến ngả ba Triều Sơn(TS). Ngày
xưa leo dốc trực chỉ lên phía Bắc tiếp xúc với ngả ba TS để về SôngCầu. Núi cao 500m là sai. Núi chỉ
cao 278m. Đỉnh mà tác giả mô tả chỉ cao 220m. Đỉnh rộng thật và có vườn cam là
thật đấy. Bài viết mô tả “tán lá che phủ
cả con đường đi vào một vùng rộng lớn”. Tác giả viết nói núi cao 500m thì không
đúng nhưng con số 500m nói lên được cái cheo leo hiểm trở của DXĐ dưới con mắt
người xưa. Người xưa còn để lại câu ca nói lên địa hình hiểm trở ở
CùMông-XuânĐài: “Không đi thì nhắc thì
trông/Đi rồi thấy sợ CùMông XuânĐài/AnDân, XuânThọ chia hai/Chỉ vì cái đảnh
XuânĐài ngăn đôi.”
Chùa Đá Trắng, Dốc Xuân Đài là những địa danh đã
lưu trong sách sử ở PhúYên. Đưa chúng vào bài viết là muốn con cháu đời sau khỏi
bị mai một hình ảnh tĩnh nhà đã lưu trong sử sách. Mùa Đông ĐinhDậu,
30-11-2017, Ongtampy.
Mời xem videoclip minh họa:
|
0 nhận xét:
Đăng nhận xét