Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

PhuYen Canh Dep-2


ĐÈO NÚI PHU YEN-1

Ngày nay kỷ thuật
tân kỳ đào hầm xẻ núi để có tuyến đường thẳng xe chạy boong boong sướng thật nhưng mất cái hứng thú ngoạn cảnh sơn thủy hữu tình. Đâu còn gợi hứng để làm thơ “Một đèo lại một đèo/Khen ai khéo vẽ cảnh cheo leo-Đèo Ba Dội, nữ sĩ Hồ Xuân Hương” hay “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà/Cỏ cây chen lá, đá chen hoa-Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan.” Để gợi cảm hứng cho du khách tôi mô tả một loạt núi đèo dọc Đường Thiên Lý(ĐTL) từ Cù Mông đến vịnh Xuân Đài’.

Đèo Cù Mông băng qua rặng núi Cù Mông là nột hoành sơn của cao nguyên KonTum chìa ra Biển Đông(BĐ) ngăn trở giao thông trên ĐTL. Hoành sơn này có hình dáng đặc thù không thấy đâu có trên ĐTL là các ngọn núi xếp song song theo trục Bắc-Nam đều đặn và so le từ TâyNam lên ĐôngBắc. Theo đỉnh và đường đỉnh của các ngọn núi người ta vạch đường biên giới(ĐBG) BìnhĐịnh-PhuYên. ĐBG theo địa thế khi thì sang Đông, lên Bắc, xống ĐôngNam, lại lên Bắc, sang ĐôngNam, lại lên Bắc, cứ tiếp nối như thế và đoạn cuối cùng theo hướng ĐôngNam thọt thẳng vào Biển Đông(BĐ) ở mũi bãi Bàng ở phía bên trên Cù Lao Xanh nằm đối diện bán đảo Từ Nham. CLX theo địa hình thì thuộc PhúYên. Nhưng theo lịch sử thì thuộc Bình Định. Trông toàn thể, đường biên như vẽ ra cái đầu con cóc ngồi chồm hổm nhìn ra BĐ. Để thấy sự nhấp nhô lên xuống của núi rừng tôi ghi các đỉnh mà nó đi qua:  Qua khỏi đường xe lửa, ĐBG đi về Đông leo lên đỉnh đồi cao 220m có địa danh Mục Thìn ghi bên cạnh; lên ĐôngBắc tới đỉnh 580m; tới đỉnh Do Ak cao 880m; sang Đông tơi đỉnh 320m; tiếp tục xống dốc về ĐôngBắc tới đỉnh 268m; lên Bắc tới đỉnh Hòn Khê cao 881m; Xuống dốc tới đỉnh Hòn Gio cao 794m; ngã sang TâyBắc đến đỉnh núi Đá cao 741m; tới đỉnh 728 thì ngoặc sang ĐôngNam; xuống dốc tới đỉnh 550m thì sang Đông; lên dốc đi về phía bắc tới đỉnh  Hòn Khô cao 816m; tới đỉnh 565m; tới đỉnh 720m thì ngã sang Đông tới đỉnh Đông Song cao 680m; xuống dốc đi về TâyBắc tới đỉnh 583m; ngã sang Đông xuống dốc tới đỉnh đèo Cù Mông cao 220m, ngang đỉnh đồi ở phía đông  đường xe lửa; tiếp theo leo lên đỉnh 520m đi lên TâyBắc tới đỉnh 580m; xuống dốc tới đỉnh 500m; xuống khe 360m thì ngoặc sang ĐôngNam lên đỉnh 580m; lên đỉnh Tươp Vung cao 673m; tới đỉnh 560m thì ngã sang Đông; tới đỉnh 360m thì ngặc xuống ĐôngNam chạy tuốt ra mũi bãi Bàng ở chân núi Ông Bài(Bản đồ Indochina Thailand AMS Tophography(ITAMS). Bản đồ VietNam Tophography maps(VNTM) ghi thông tin như trên đây và ghi núi Ông Bài lại ở phía tây, chỗ gần Quốc Lộ 1). Rặng Cù Mông phân thủy nước chảy về Bình Định qua sông Hà Thanh. Bên nay nước suối khe gom lại tạo ra sông Bà Nam, Bà Bông họp lưu ở Long Thạnh(VNTM) đổ vào đầm Cù Mông. Bản đồ ITAMS và Jm Henthorn(JH) không ghi tên 2 sông này. Xế xuông phía nam có một con sông khác dài hơi hơn. Bản đồ JH ghi tên sông Bình Minh họp lưu với nhánh sông khác không ghi tên thành S. Cầu. Bản đồ ITAMS cũng ghi tên S. Cầu nhưng không ghi tên 2 nhánh họp lưu kia. Bản đồ VNTM ghi tên S. Binh Minh họp lưu với S. Ba Giang thành S. Cá.  Một số trang web người Phú Yên viết thì gọi sông Cầu là sông Tam Giang.
Đối chiếu với bản đồ cổ Giáp Ngọ Binh Nam Đồ(GNBNĐ) trang 157 ghi Cù Mông Hải Môn, Xuân Đài Hải Môn với con sông có 2 nhánh(Sông Tam Giang ở Sông Cầu?). Bản đồ trang 158 ghi tiếp về phía nam 3 cảng biển nữa là Mây Nước hải môn, Phú Yên hải môn và Răn Răn hải môn. Bản đồ cổ hơn là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trang 97 ghi Xuân Đài giang. Trang 98 ghi một con sông đổ ra chỗ cù lao Mây Nước và sông thứ 2 là Bàn Thạch giang có tên cữa là Ăn Năn hải môn. Sách này không vẽ sông đổ vào đầm Cù Mông. Giữa 2 sông ở phía nam là vũng Ba Linh. Trong bài “Gành Đá Dĩa” tôi đưa ra giả thiết sông Đà rằng là đoạn sông mới của sông Ba xé rào chảy thẳng đổ vào vịnh Ba Linh, chỗ mà GNBNĐ gọi là Phú Yên hải môn. Địa danh Đà Rằng có lẽ có từ thời vua Chiêm Po Romê(1627-1651) gốc người Chu Ru ở phía nam rặng Đại Lãnh gọi tên sông có chữ “Đà” ở đàng trước như ĐaNhim, ĐaDung. Nhiều tác giả lầm tên “Đà Rằng” do tên “Ran Ran” mà Đắc Lộ đã gọi nhưng Răn Răn hải môn trên bản đồ GNBNĐ là cữa Ăn Năn hải môn trên bản đồ TNTCLĐT của sông Bàn Thạch.
 Một chút trích dẫn soi kim cổ để khách du lịch có thêm chút hứng thú khi đi đây đi đó xem phong cảnh hữu tình.
Xuống đèo Cù Mông, xuôi Nam trên Đường Thiên Lý, tôi tiếp tục mô tả  các con đèo, con dốc để lại dấu ấn trong sách sử mà kỷ thuật đục đẽo sang bằng, nắn tuyến đường sá tân kỳ gần như xóa bỏ vết tích của chúng. Đối chiếu với sách sử và nhờ bản đồ quân sự tỉ lệ lớn 1/250.000 và 1/50.000 có kẻ đường vòng cao độ 100m hay 20m ta sẽ nhận ra chúng.
Đầu tiên là đèo Vận Lương(ĐVL) ở thôn Tùy Luật Hòa bên bờ tây cữa đầm Cù Mông. Câu chuyện dân giang ở PhúYên có đề cập đến ĐVL. Trên bản đồ 1/50.000 có vòng cao độ 20m ta cũng nhận ra có một cái đèo ở địa phương này. Đèo cao 20m. Đường Thiên Lý(đường cái quan: la route mandarine) đi giữa 2 quả đồi. Đồi phía tây cao 120m. Đồi phía đông cao 100m. Có lẽ tên ĐVL có từ thời chiến tranh TâySơn-Nguyễn Vương Ánh giai đoạn thu phục thành Bình Định(tháng 5/1800 đến tháng Giêng 1802). Đại Nam Thực Luc Chính Biên(ĐNTLCB) viết nói tháng 5/1800 sai lưu thủ PhuYên là Phạm Tiến Tuấn cùng cai bạ Trần Minh Đức, ký lục Võ Đức Thông sai dân chở gạo lương ở kho tạm Xuân Đài để cấp lương quân. Sai hàng tướng Tây Sơn(TS) Từ Văn Chiêu(TVC), Phạm Văn Điểm(PVĐ) vượt đèo Cù Mông đánh giặc. Tháng 6 phó giám thành sứ Nguyễn Văn Yên chở thuốc đạn và vật công tự Cù Huân(Nha Trang) ra. Tháng 7 TVC và PVĐ trở về với TS. Thu tô ruộng ở Phú Yên. Sai quan công đường cứ sổ điền năm MậuNgọ theo lệ mà thu.  Chỉ có thế mà các tác giả người Phú Yên viết trên PhuYen Online về sự tích các địa danh một cách rằng ri theo cảm tính cá nhân để lộ sự mù mờ lịch sử thời chúa và vua Nguyễn làm cho hậu sinh hiểu sai lầm về địa lý và lịch sử tĩnh nhà. Tôi nói “Có lẽ tên ĐVL có từ ...” là vì các trận đánh trước đó quân Gia Định(GĐ) theo gió mùa ra đánh TS rồi rút về GĐ củng cố, sang gió mùa năm sau ra đánh tiếp nên không có chuyện vận lương(lương chở tới đâu xài tới đó). Kỳ này trận chiến kéo dài liên tục từ tháng 5/1800 đại binh đến PhúYên rồi tiến ra giải vây Võ Tánh(VT) cố thủ trong cái thành Bình Định cho đến tháng 5/1801 VT tuẫn tiết. Tây Sơn hạ được thành Bình Định. Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt tiếp tục bao vây thành, cầm chân quân Tây Sơn ở thành Bình Định cho đến tháng Giêng năm 1802 Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mới bỏ thành theo thượng đạo mà ra Nghệ An cứu Quang Toản. PhúYên là hậu phương tiếp tế cho trận chiến ở Bình Định. Đèo Vân Lương ra đời.
Có 2 cuộc chiến Tây Sơn đánh Gia Định và Nguyễn Vương Ánh đánh Tây Sơn thu phục thành Bình Định. Dẫn truyện dân giang về sự tích ở PhúYên quí vị lầm lẫn 2 cuộc chiến này và nhân vật hoàng thân Nguyễn Ánh và Nguyễn Vương Ánh. Nhờ 2 lần chống quân ngoại xâm, đại phá mấy vạn quân Xiêm-quân Thanh và xuất thân từ người anh hùng áo vải mà quí vị có cảm tình với TS, ghét Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về mả tổ mà thêu dệt chuyện ly kỳ sai với sử sách. Như đoạn trích lịch sử nói trên thì vận lương ở đây là vận chuyển lương lấy ở kho tạm Xuân Đài từ hàng ở Gia Định chở ra hay từ kho trung chuyển Cù Huân ở Nha Trang chuyển ra cung ứng cho chiến trường Bình Định. Vua Nguyễn thu lương ở Phú Yên cũng vừa phải thôi. Thế mà các trang mạng quí vị nói rằng ri là Nguyễn Ánh vơ vét của cải ở PhúYên chuyển xuống cảng Cù Mông tẩu tán khắp nơi mà không biết đầm Cù Mông cạn, có nơi chỉ sâu nửa hay 1m(bản đồ VNTM) và cữa(phá Cù Mông) chỉ sâu 5m lúc thủy triều lên.
Mời nghe tiếp trang mạng viết về sự tích ở vịnh Xuân Đài và sự tích chiếc bánh nậm liên quan tới địa danh đầm Cù Mông và Hòn Nần trên Phuyen Online.
Viết về sự tích ở vịnh Xuân Đài, một bài trên PhuYen online viết : “Năm Ất Mùi(1775), Tống Phước Hiệp huy động toàn lực quân chúa Nguyễn tiến công quân Tây Sơn, đại bản doanh đóng tại Xuân Đài và ông sai Võ Tánh đánh lên La Hai, cắt đứt đường tiếp viện từ Vân Canh vào.”Tống Phước Hiệp đánh Tây Sơn là chiến tranh TâySơn đánh quân GiaĐịnh(1773-1784). Không có chuyện Võ Tánh(VT) tiến quân qua ngả LaThai-VânCanh. Trận Nguyễn Vương Ánh đánh Tây Sơn(1800-1802), giải vây VT ở thành BìnhĐịnh thì Lê Văn Duyệt từ Quảng Ngãi đánh xuống, Nguyễn Văn Thành theo ngả LaThai đánh Lên. Hành tại của vua đóng ở cữa đầm Cù Mông(đảo Hòn Nần). Chuyện xảy ra trên 20 năm sau, khác hoắc kia mà!
Di tích Hòn Nần. Đại Nam Nhất Thống Chí(ĐNNTC) gọi là hòn Bàn Than. Hòn Nần là bản doanh, Thực Lục Chính Biên gọi là hành tại của vua Nguyễn Vương Ánh trong chiến dịch giải vây Võ Tánh ở thành Bình Định. PhuYên Online viết như ri! “sự tích bánh nậm...Nguyễn Ánh bị anh em Tây Sơn ẩn nấp trên hòn Khô(thuộc dãy Cù Mông, sau đó tìm đường xuống chân đèo tìm cách vượt qua đầm Cù Mông...Do kinh tế khó khăn, người dân phải xay gạo thành bột làm bánh cho quân sĩ ăn đỡ đói...Trần Quang Dũng và Bùi Thị Xuân vây đánh...tàn quân Nguyễn Ánh tháo chạy...nhờ đêm tối và dân địa phương đưa xuống bến đò Tùy Luật...đưa ra hòn Nần trú ẩn...bà Phạm Thị làm chiếc bánh ngon dâng cho Nguyễn Ánh...Nguyễn Ánh gạt nước mắt nguyện sẽ báo đáp...Phạm Thị được vua Gia Long ban tặng trướng gấm đề 4 chữ Nữ Nhi Phù Quốc và tặng...)” Bài viết nói chiếc bánh nậm không thể thiếu trong trong các đồ cúng tế ở Miếu Biểu Trung ở hòn Nần. Sự tích có đúng hay không sẽ xét nhưng viết Trần Quang Diệu thành Trần Quang Dũng(lầm với tướng Võ Văn Dũng) và Bùi Thị Xuân dự vào trận đánh thì độ chính xác của bài viết hết tin nổi! Ngay cả Nguyễn Đình Tư, trong Non Nước Phú Yên cũng sai lầm khi viết về sự tích Miếu Bà Trang. Người ta lầm lẫn Nguyễn Ánh bị Tây Sơn rượt chạy thất điên bát đảo ở chiến trường Lục Tĩnh với Nguyễn Vương Ánh khi trở lại chiến trường PhúYên Bình Định thu phục 2 xứ này rồi giải vây Võ Tánh ở thành Qui Nhơn, lấy được thành này rồi đổi tên ra thành Bình Định và thống nhất Nam Bắc Hà lập ra nước Việt Nam năm 1802.
Câu chuyện Nguyễn Ánh bị TS rượt đuổi không thiếu ờ các tĩnh ở phía nam Nam Hà là đất mới của chúa Nguyễn. Bình Định Phú Yên là tiền đồn cung cấp nhân lực, vật lực cho công cuộc mở mang đất mới này cho nên giọng nói và văn hóa 2 tĩnh này có nét pha trộn với người và văn hóa Nam Bộ. Câu chuyện dân giang ở đây na ná thấy ở Nam Bộ. Viết chúng nên cần thận chớ gọi chúng là thứ gì đặc thù ở PhuYên.
Di tích ở hòn Nần như thế này. Trong chiến dịch thu phục thành Qui Nhơn hơn 1 năm rưỡi(tháng 5/1800-tháng Giêng/1802) bản doanh của Nguyễn Vương Ánh đặt tại hòn Nần ở cữa đầm Cù Mông. Lúc này Nguyễn Vương Ánh hành quân bài bản, tiền hô hậu ủng, tiến quân 3 hướng: Thượng đạo, trung đạo và thủy binh. Quân chính qui thì có binh chủng quân Thần Sách tổ chức thành 5 đồn: Tả, Hữu, Tiền, Hậu và Trung Đồn. Năm 1799 sau khi thu phục được Phú Yên và tiến chiếm thành Qui Nhơn tướng sĩ Tây Sơn(TS) theo về thì tổ chức thêm binh chủng Ngự Lâm Quân với 5 đồn theo mô hình quân Thần Sách(QTS), cho Võ Tánh thống lĩnh giữ thành Qui Nhơn. Năm đồn QTS thì đổi tên thành 5 dinh. Sau khi Nguyễn Huệ mất(1792) và Nguyễn Nhạc mất(1793) lực lượng TS suy yếu. Nội bộ tranh quyền lực chia rẽ làm suy yếu thêm nhưng binh vẫn còn hùng, tướng vẫn còn mạnh(Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân). Đoạn quân TS từ PhúXuân xuống giải vây thành Qui Nhơn bị Võ Tánh vây hãm năm 1799, Thực Lục Chính Biên(TLCB) viết: “tháng 6-1799 Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đến Quảng Ngãi nghe tin quân Gia Định(GĐ) giữ Tân Quan(Tam Quan ngày nay), liền bỏ thuyền lên bộ mấy vạn cuốn đất mà đi.”Hùng mạnh như thế nhưng tinh thần thì sa sút quá rồi. TLCB viết tiếp “Diệu ở ngoài núi Thạch Tân(đèo Bình Đê ngày nay) giả làm thanh thế. Dũng lẻn đánh úp quân GĐ vào ban đêm. Lúc lội qua khe nhỏ, một con nai trong rừng chạy ra. Có người hô “nai!” Quân nghe lầm là quân Đồng Nai” bỏ chạy tán loạn...Vỡ trận...Dũng Diệu lui binh...Võ Tánh lấy thành Qui Nhơn.” Trích đoạn để thấy quân GĐ lớn mạnh như thế nào, không có chuyện TS rượt đuổi Nguyễn Ánh chạy thất điên bát đảo ở chiến trường này. Khi khởi nghĩa, TS lấn ra Quảng Nam, quân Phú Xuân vào chận đánh thất bại, chúa Duệ Tông cùng hoàng thân Nguyễn Ánh 17 tuổi theo đường biển vào Gia Định. Nguyễn Nhạc bắt hoàng tôn Dương làm con tin. Không có chuyện TS rượt Nguyễn Ánh ở chiến trường này. Viết lách theo cảm tính để bài được đăng coi chừng lầm lẫn sự kiện lịch sử đấy.
Trên hòn Nần có mộ cổ tử sĩ và miếu thờ 526 chiến sĩ tử vong trong chiến dịch giải vây Võ Tánh ở thành Qui Nhơn(có tài liệu ghi 515 người) trong số đó có 2 viên tướng bịnh chết tại đây tháng 12-1800 là Đô Thống Chế Hậu Dinh quân Thần Sách(HDQTS) Mai Đức Nghị và Phó Đô Thống Chê HDQTS Tôn Thọ Vinh. TLCB thì ghi trận đầm Thị Nại tử trận hơn 600 người. Miếu lúc đầu có trên là Cù Mông Công Thần Miếu. Đến đời Tự Đức thì gọi là Miếu Biểu Trung. Trên bản đồ Vietnam Tophography Maps ghi là Miếu Công Thần. Chớ lầm hòn Nần(hòn Bàn Than) với hòn Nan mô tả trong ĐNNTC. Sách này viết: “theo sách Thủy Lục Trình Ký của Trần Công Hiến, ngoài biển Tuy Hòa có một quả núi. Trên núi có một tảng đá có khắc một chữ “nan”...không rõ khắc tự đời nào.”Sách ĐNNTC lấy dữ liệu ở sách cũ. Sự hiểu biết địa hình người xưa có sự hạn chế và sách cũ có thể sai lầm. Ví dụ nguồn sông Bàn Thạch xuất phát từ núi Phố Chiêm, tĩnh Bình Thuận hay sông Đà Diễn phát nguyên từ phía tây núi Phước Sơn thì sai đó. Nhưng dẫn Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi nói sông Bàn Thạch là sông Phan Định thì đúng đấy. Sông Phan Định giáp địa giới phủ Hoài Nhân có 3 đoàn cá sấu ngăn cản Lý Thường Kiệt trên đường đuổi bắt Chế Củ. Xét sự kiện lịch sử và lý luận logic thì đúng đấy. ĐNNTC mô tả “sông Đà Diễn chảy về Đông làm sông Thạch Hãn(có nhiều ghềnh đá ngăn chặn), ngoặc về phía nam đến phía nam xã Thạch Thành họp lưu với sông Hương Sơn, lại chuyển sang phía đông chảy đến thôn Bảo Tháp.” Mô tả như thế thì đúng dòng chảy sông Đà Rằng ngày nay trên bản đồ quân sự Jm Henthorn. Sông Thạch Hãn là đoạn sông chảy qua chỗ người Pháp chọn xây đập Đồng Cam và sông Hương Sơn là sông Đồng Bò.
Trở lại chuyện hòn Nan. Hòn Nan ở ngoài biển huyện Tuy Hòa thì không thể tin được. Nhưng xét bản đồ cổ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong sách Hồng Đức Bản Đồ trang 98 thì tin được. Bản đồ vẽ giữa huyện Tuy Hòa có vũng Ba Linh to tổ chảng. Đối diện trong biển vẽ cù lao Phủ Linh. Hòn Nan là đây. Gỉa thiết vũng Ba Linh và cù lao Phủ Linh bị phù sa sông Đà Rằng và cát biển bồi lấp nay còn sót lại đồi đá ở tả, hữu ngạn cữa sông Bàn Thạch, phía nam Phú Hiệp ngày nay.
Đèo Nại. Trở lại địa hình ở địa phận Sông Cầu. Tiếp theo Đèo Vận Lương là đèo Nại ở đầu bán đảo Từ Nham(BĐTN). BĐTN hình thành bờ đông vịnh XuânĐài. Không biết “Nại” nghĩa Hán-Việt là gì. Có tác giả trên mạng gọi đèo Nại là đèo chở muối. Đầu BĐTN thuộc địa phận Lệ Uyên-Trung Trinh. Đèo Nại phân chia vịnh XuânĐài và đầm Cù Mông(CM). Xe đang chạy men theo bờ tây vịnh XuânĐài thì vượt qua bán đảo TừNham để men theo bờ tây đầm CM chạy tiếp. Ngày nay, xe chạy thêm một đoạn nữa thì tới địa điểm cách Tuyết Diêm(TD) 3Km. Tài xế sẽ thấy có một cây cầu bắc qua đầm CM để xe chuyển sang bờ đông đầm mà chạy thẳng đến QuiNhơn(QN). Phần đường còn lại rẽ sang hướng Tây-Bắc chạy đến TD tiếp tục men theo bờ tây đầm chạy đi tiếp. Đó là tuyến leo đèo CM. Cuối đầm CM, ở chỗ chân đèo, trên bản đồ trước đây, bản đồ Indochina ThaiLan Tophography, cũng thấy có con đường mòn bọc chân  rặng núi đèo Cù Mông để ra QN qua ngả QuiHòa(trại Cùi QuiHòa). Như vậy tuyến đường rẽ sang ngang ngày nay để đến QN không có gì là lạ cả. Hiềm vì ngày xưa kỷ thuật bắc cầu qua biển chưa thực hiện được mà thôi.
Dốc Xuân Đài(DXĐ), nơi phân ranh huyện Sông Cầu-TuyAn. Có câu ca hát ru em ngủ: “Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc/Dốc nào ngược bằng dốc XuânĐài/Đèo cao dốc ngược, đường dài/Anh còn qua được huống chi vài lạch sông.”Một trang web mô tả DXĐ: “Từ Chí Thạnh đi ra, đến gần dốc Vườn Xoài chừng 3.000m, có con đường đất rẽ trái đi về hướng TâyBắc độ 1Km, thì đến chân dốc XuânĐài. Dốc ngược theo triền núi cao 500m. Leo lên dốc như thể ta bước từng cấp một lên đỉnh YênTử, hai bên có nhiều cây cổ thụ, tán lá che phủ cả con đường đi vào một vùng rộng lớn. Đỉnh dốc, phía bắc có vườn cam nổi tiếng thơm ngon đã từng  tiến vua cùng xoài ĐáTrắng. Xuống dốc, đi ngược về phía nam non 7Km nữa thì tới ngả ba Triều Sơn.”Đoạn trích trên đây nói lên DXĐ ở đâu và hiểm trở như thế nào. Không có bản đồ địa hình thì không nhận ra địa danh này đã lưu danh trong sử sách. Bản đồ VietNam Tophography Maps(tỉ lệ 1/50.000) có vòng cao độ 20m cho phép ta nhận ra DXĐ. Dốc ở trên đỉnh “dãy”núi phân chia vịnh Xuân Đài với “bình nguyên” cữa sông Cái ở TuyAn. Ngày nay QL 1A men theo sườn phía đông bao bọc “dãy”núi này mà đến ngả ba Triều Sơn(TS). Ngày xưa leo dốc trực chỉ lên phía Bắc tiếp xúc với ngả ba TS  để về SôngCầu. Núi cao 500m là sai. Núi chỉ cao 278m. Đỉnh mà tác giả mô tả chỉ cao 220m. Đỉnh rộng thật và có vườn cam là thật đấy. Bài viết mô tả “tán lá che phủ cả con đường đi vào một vùng rộng lớn”. Tác giả viết nói núi cao 500m thì không đúng nhưng con số 500m nói lên được cái cheo leo hiểm trở của DXĐ dưới con mắt người xưa. Người xưa còn để lại câu ca nói lên địa hình hiểm trở ở CùMông-XuânĐài: “Không đi thì nhắc thì trông/Đi rồi thấy sợ CùMông XuânĐài/AnDân, XuânThọ chia hai/Chỉ vì cái đảnh XuânĐài ngăn đôi.
Chùa Đá Trắng, Dốc Xuân Đài là những địa danh đã lưu trong sách sử ở PhúYên. Đưa chúng vào bài viết là muốn con cháu đời sau khỏi bị mai một hình ảnh tĩnh nhà đã lưu trong sử sách. Mùa Đông ĐinhDậu, 30-11-2017, Ongtampy. 
Mời xem videoclip minh họa:


Bài liền trước                    Bài liền sau

0 nhận xét:

Đăng nhận xét