Ongbatampy tháp tùng
CGS SPQN-Đoàn Phú Yên tham dự lễ hội CGS SPQN Họp Bạn 2017 tại Qui Nhơn.Sáng ngày 12-8-2017, ông bà đánh một vòng thể dục buổi sáng thăm thành phố cảng. Thành phố tọa lạc trên một giải duyên hải hình tam giác.
Thành phố cảng Qui Nhơn.
Giải duyên hải mà
thành phố này tọa lạc hình tam giác. Đáy tam giác dựa vào trái đồi Bà Hoa cao
294m như thấy trên bản đồ Việt Nam Topography Maps của Quân Đội Hoa Kỳ(VNTM-AMS)
và dựa vào sườn phía đông nhánh núi của rặng núi đèo Cù Mông. Giữa đồi và núi
có con đường bộ. Cạnh phía nam của tam giác hướng ra Biển Đông và cạnh phía bắc
trông ra đầm Thị Nại(TN). Đỉnh tam giác thì trông vào hòn đảo xưa gọi là Rổ Đó
Không Lộ như sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT) đã vẽ. Trên bản đồ Indochina and Thailand AMS
Topograpy(ITAMST) của quân đội Hoa Kỳ thấy đảo có 2 đỉnh núi. Đỉnh phía bắc tên
là núi Đá Đen cao 361m. Đỉnh phía nam cao 193m với tên địa danh Phước Mai ở bên
cạnh. Cữa cảng Qui Nhơn không phải là cữa sông mà là một cái phá. Phá làm đầm
Thị Nại được thông ra biển.
Khách du(KD) hôm nay từ khách sạn Lê Lợi đến một ngả 5, ngoặc
trái theo đường Nguyễn Huệ, rồi ra bãi biển phía nam ngắm cảnh thiên hạ tập thể
dục buổi sáng. KD quét ống kính để thu
hình từ cảng(khu 1 thời VNCH), vòng qua thành phố, sang phía TâyNam(khu sân
bay, trường SưPham QuiNhơn cũ: khu 6), rồi thuê taxi sang phía đầm Thị Nại(TN).
Ghé bờ hồ Sinh Thái là một mảnh thuộc đầm
TN để ngắm cảnh vươn vai, hít thở của dân hâm mộ thể dục thể thao một lần nữa.
Bờ hồ phía nam cặp kè đường Lê Đức Thọ. KD theo đường này mà đi về Tây rồi ngoặc
Phải sang đường Phan Đình Phùng, cũng men theo bờ hồ rồi ngoặc Trái sang
đường Đống Đa cặp kè đầm TN. Khách đi về hướng TâyNam. Đến chỗ bến xe
cũ, cạnh chân đồi Bà Hòa gần ga xe lửa thì taxi ngoặc sang Phải. Tài xế đưa KD
thăm cầu Nhân Hội bắc qua đầm TN.
Trước mắt khách là khu đầm lầy ở cữa sông ngập mặn mới vừa được
san lấp. Tài xế bảo phải vượt qua 5 cái cầu nhỏ rồi mới tới đầu cầu Nhơn Hội. Tài xế
nói tiếp: người ta cho nạo vét các luồng lạch và cữa các nhánh sông để lấy phù
sa đất cát mà san lấp thành một khu rộng lớn để xây dựng khu đô thị mới trong tương
lai. Về nhà tra trên bản đồ VNTM-AMS thấy đúng có 5 luồng lạch thuộc nhánh thứ
nhất của sông Hà Thanh(HT) đổ vào đầm TN. Nhánh thứ 2 của sông HT thì hợp lưu với
nhánh cực nam của sông Côn. Sông HT phát nguyên từ biên giới PhuYên-Binh Định,
thu thập nước ở sườn phía tây rặng núi đèo Cù Mông, chạy dọc theo đường xe lửa
và liên tĩnh lộ nay gọi là QL19C. Ở cữa các nhánh sông thấy có nhiều bùn bồi lấp.
Có một dãy đất bồi chạy suốt từ Tây sang Đông ngăn đầm TN thành vũng nước mặn(bản
đồ Jimhenthorn và VNTM-AMS). Vũng hiện nay là Hồ Sinh Thái Đống Đa và trên dãy
đất bồi là đường Đống Đa,
Qua một vòng quan sát thì khách thấy thành phố to lớn rộng
rãi hơn xưa nhưng không có gì lưu ý vào lòng khách, duy chỉ có nét đặc biệt hơn
các thành phố khác là các vỉa hè lát bằng đá thay vì gạch hoa.
Cũng như những lần du lịch khác, câu “Ngã kim nhật tại tọa chi địa. Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi/ ngàn
muôn năm âu cũng thế ni!” của Nguyễn Công Trứ(Chữ Nhàn) kéo du khách suy tư
về quá khứ. Hai câu đầu có nghĩa là hiện tại ngày này, ta ngồi ở chỗ đất này,
thì ngày xưa tầng tầng lớp lớp ông bà của ta cũng đã từng ngồi ở nơi đây. Sự và
vật cứ biến đổi vô thường. Kéo dòng tư tưởng về quá khứ là thú vui khi đi du lịch.
Hoa lá cành hiện tại không đủ mua vui.
Cảng ngày xưa. Không ở phía nam mà ở phía bắc của đầm
TN và thủ phủ đất này ngày xưa không phải là thành phố cảng Qui Nhơn mà là
thành Đồ Bàn, xứ Nước Mặn và là thành Bình Định. Đầm TN thì dài, nằm theo trục
Bắc-Nam. Đầu phía bắc thì thuôn, hẹp lại. Đầu phía nam phình rộng ra. Bờ phía
tây tiếp với đất liền. Bờ phía đông tiếp giáp với bán đảo Phương Mai là một giải
duyên hải như Tạ Chí Đại Trường trích dẫn bản đồ Barizy vẽ trận 1-3-1801 Nguyễn
Ánh đánh Tây Sơn nói cữa Nước Mặn(Nước Mặn Hải Môn thâm) bị bồi lấp, bán đảo
Phương Mai thành hình. Bây giờ Nguyễn Ánh mới theo cữa Qui Nhơn đánh vào cảng rồi
lên bao vây thành Chà Bàn. Sau khi lấy được thành, NÁ đổi tên thành ra tên
Thành Bình Định. Bờ nam của đầm tiếp giáp với thành phố Qui Nhơn cũng là một giải
duyên hải.
Cảng ở phía bắc có nhiều tên. Bản đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ
Thư(TNTCLĐT) ghi là “Nước Mặn Hải Môn”. Trong biển vẽ
hòn đảo ghi là “Rổ Đó, Khổng Lộ”. Đối
diện trong đất liền ghi “Chà Bàn cổ thành”,
“Phật tĩnh”, “Phật tĩnh sơn”, “thiển giang”, “tháp con gái” vẽ nằm giữa 2
con sông khác. Sông phía Bắc ghi là “Phú
Đa giang”, ghi một địa danh nữa là “Nước
Mặn.” Ở bản đồ Giap Ngọ Niên Bình Nam Đồ(GNNBNĐ), ứng với vị trí này thì
ghi “Nước Mặn Hải Môn thâm”, “Thị Nại Hải Môn”,
hòn đảo thì ghi “dân cư.”Đối diện
trong đất liền vẽ “Phật Tĩnh Sơn”(PTS)
và ghi “Thạch Tĩnh”, ghi 7 chứ “tự”chỉ 7 ngôi chùa ở PTS. PTS thì nằm giữa
2 con sông.
Cữa Cri Bonei(Sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn). Đúng là Sri Bonei vì word không có mẫu tự “c”có dấu móc
câu ở dưới. Hoàng Xuân Hãn(HXH) lấy tài liệu trong Việt Sử Lươc(VSL), bia ký và
nhiều tài liệu khác mô tả tỉ mỉ trận đánh Chiêm Thành của Lý Thánh Tông và Lý
Thường Kiệt năm 1069. HXH viết nói sau sáu ngày, vua rời cữa Tư Dung(Thuận An)
ngày nay, thuyền quân đến cữa Cri Bonei. HXH viết nói Maspero trong Le Rouyaume
du Champa có đề cập tới “Cri Bonei”nhưng
không nói rõ ở đâu. VSL thì chép là Thì Lị Bì Nại. HXH còn viết nói cữa lớn ở Qui Nhân
tên xưa là Thị Nại. HXH viết tiếp nói trận đánh ở sông Tu Mao. Thành Phật Thệ,
tên Chăm là Vijya thì ở phía cực bắc vũng nước mặn. Sông cạn khó vào. Thuyền
chiến vào cữa Thị Nại. Tạ Chí Đại Trường nói HXH lầm cữa Thị Nại với cữa Qui
Nhơn. TCĐT dẫn TNTCLĐT và GNNBNĐ là sách xuất bản vào thế kỷ thứ 17 cho thấy cảng
Nước Mặn vẫn còn gọi là Nước Mặn Hải Môn thâm. Vì thâm nên Lý Thường Kiệt vào cữa
nước mặn này. Kiểu đổ bộ lên phía nam của bờ tây đầm TN rồi đánh lên thành Chà
Bàn là kiểu đánh xảy ra ở thế kỷ thứ 18 trong trận TâySơn-Nguyễn Ánh.Năm 1303 Đại Việt Sử Ký TT(ĐVSKTT) viết nói Đoàn Nhữ Hài(ĐNH)
đi sứ Chiêm Thành. ĐNH mang chiếu thư của vua sang. ĐNH có sáng kiến để khỏi phải
lạy vua Chiêm, Nhữ Hài(NH) lấy cớ phải lạy chiếu thư trước khi tuyên đọc. Lệ sứ
thần Đại Việt không lạy vua sở tại bắt đầu từ đây. Ngày hôm sau NH treo bảng cấm
buôn bán ở cảng Tì
Ni, tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng bảo “chỗ này người buôn bán phức tạp, lại là bến
tàu xung yếu, khó giữ gìn, sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”.
Sách viết tiếp nói ý của NH biết Chiêm
Thành tuy thuần phục nhưng chưa chịu nội phụ. Bảng cấm rốt cuộc cũng bị bỏ đi
nên nói trước như vậy.
Trang webs “Bình Định
FFC”dẫn sách Kinh Tế Đại Điển Tự Lục và Nguyên Sử nói về Chiêm Thành Cảng: “Cữa cảng ở phía bắc, liền với biển. Bên cạnh
có 5 cảng nhỏ thông với Đại Châu của nước ấy. Phía Đông Nam có núi ngăn. Phía
tây có thành Gỗ.”Tác giả viết nói đây là cữa Cách Thử
hay Nha
Phiên Hải Tấn. Thành Gỗ là thành Thị Nại. Núi là dãy Triều Châu.
Năm 1475 Minh Thực lục viết “Hữu cấp sự trung khoa Công Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được,
bèn nạp trở lại thứ đã mang đi như chiếu
sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để
phong cho quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu Chiêm Thành, quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch
cho biết đất này đã bị An Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh
Sơn”. Vào cuối đời Minh Thành Tổ(khoảng năm 1424) đến Minh Nhân Tông, nhà
hàng hải Trịnh Hòa, gốc người Ả Rập lảm 7 hành trình từ TQ đến Ấn Độ Dương. TH
đã ghé Hội An và Chiêm Thành nhưng tên cảng ở Chiêm Thành thì không thấy đề cập
đến. Hiện nay TQ lấy cớ 7 chuyến hải hành của TH mà nói TQ có chủ quyền ở Biển Đông không thể tranh cãi!
Cảng quốc tế Chiêm Thành Cảng còn hoạt động tới đời Tây Sơn
Nguyễn Nhạc. Sứ giả Chapman, người Anh viết trong trong ký sự “KS Chapman 1778” mô tả đường lên
thành Chà Bàn yết kiến vua Nhạc: “Dọc
theo bờ cảng nhiều nơi có ruộng nương trồng trọt thật sống động. Dưới đất thấp
thì trồng lúa. Trên đồi núi thì trồng hồ tiêu đến tận đỉnh.” là cảnh ở phía
bắc đầm TN. Ở đây mới có núi non.
Thủ phủ xưa. Thủ phủ xa xưa của đất này là thành
Phật Thệ. Năm 982, Chiêm Thành thua trận Lê Đại Hành, chạy vào Vijya lập
kinh đô Đồ Bàn bỏ kinh đô cũ Đồng Dương ở
Quảng Nam. Sử ta xem dòng vua ở Đồ Bàn là vua Nam Bàn. Tên vua sáng lập và lập
năm nào thì mỗi tài liệu nói khác nhau và trùng lặp lung tung: Indravarman IV,
Ku Xri Harivarman, Băng Vương La Duệ, Câu Thị Lị Ha Thân Bài Ma La, Yangpuku
Vijaya, Indravarman II(Ngô Nhật Hoan),
Hoàng Xuân Hãn(HXH), trong sách Lý Thường Kiệt viết nói thành
Phật Thệ là thành Vijaya. Vijaya cũng là tên địa danh. Âm tiếng Việt là Phú Gia
Đa(HXH). HXH viết tiếp nói sau đó thành có tên là Chà Bàn. Có sách viết là Đồ
Bàn là lầm vì lầm chữ “đồ” nghĩa là rau đắng với chữ “đồ” nghĩa là trà, chè. Tự
dạng 2 chữ giống nhau. Đoạn sử chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn Ánh ghi là Trà Bàn.
HXH dẫn sách Thiên Nam Dư Địa Chí viết nói thành Trà Bàn ở xã Phú Đa. HXH viết tiếp
nói sách Hoàng Việt Dư Địa Chí chép rằng thành Trà Bàn ở trên sông Phú Gia Đa. Bản
đồ TNTCLĐT vẽ Chà Bàn cổ thành ở tả ngạn sông Phú Đa giang. HXH dẫn sách Đại
Nam Nhất Thống Chí chép thành Trà Bàn ở chỗ giáp giới huyện Tuy Viễn và huyện Phù
Cát. Nhà Nguyễn đổi tên thành ra thành Bình Đinh và đặt tĩnh lị ở đây. Năm 1808
dời tĩnh lị về chỗ như ngày nay(An Nhơn, gần QL19). HXH viết tiếp nói ngày nay
trên đường thiên lý cách thành Bình Định 10km về phía bắc còn di tích cổ thành ở
địa phận 3 làng An Nghĩa, Nam An và Thuận Chánh(vùng Đập Đá). Đường quan lộ
xuyên qua góc Đông-Bắc của thành.
Thủ phủ thời chúa Nguyễn. Chúng ta sẽ tìm thấy thông tin
trong Bản Tường Thuật của giáo sĩ Bori năm 1621 và bảng Hành Trình Truyền Giaó
của gs Đắc Lộ. Bori viết nói xứ của Chúa có tĩnh thứ nhất là nơi chúa ở gọi là
Thuận Hóa, tĩnh thứ 2 là Cacciam(Kẻ Chàm), nơi hoàng tử trấn thủ, tĩnh thứ 3 là
Quamguia(Quảng Nghĩa), thứ tư là Quingnim(Qui Nhơn) mà người Bồ gọi là Pulucambis
và thứ 5 là tĩnh Renran. Tạ Chí Đại Trường(TCĐT) viết nói tĩnh Qui Nhơn được gọi
theo tên đảo là Pulucambis. Pulu hay polo tiếng Bồ có nghĩa là Đảo. Pulucambis
là đảo Cù Lao Xanh(TCĐT). TCĐT viết nói người Âu sai lầm lại vẽ đảo Cambis gần
với quần đảo Hoàng Sa(bản đồ của gs Placide dòng Augustne-Pháp năm 1686). Bản đồ
của Quân Đội Hoa Kỳ ITAMST chú thích Cù Lao Xanh ở ngoài khơi Đầm Cù Mông là hòn
Gambir nghe na ná như Cambis thấy trên các bản đồ xưa. Đắc Lộ(ĐL) thì gọi 5 tĩnh của Chúa là tĩnh Thuận Hóa, Quảng
Bình, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Phú Yên. Trong đoạn ĐL tường trình việc ông nhận
đi truyền giáo 3 tình Miền Nam thì gọi tĩnh Quảng Nghĩa là tĩnh Baobam. Bản đồ Edward Weller 1718 ở vị trí này ghi chữ
Baubon.
Bori ghi rõ vị trí thủ phủ tĩnh Quingnim trong đoạn tường
trình hành trình theo quan trấn thủ(QTT) Quingnim từ Cacciam về truyền giáo ở
Nước Mặn. Hành trình lâu 12 ngày. 4 ngày đi thuyền qua tĩnh Quảng Nghĩa. 8 ngày đi bộ bằng voi
và ngựa trong tĩnh Qui Nhơn. Bori viết nói tư dinh của QTT thì ở miền quê, xa tĩnh
chừng một dặm rưỡi. Bori muốn vào trong thành để việc truyền giáo được thành
công hơn. QTT chiều ý. Bori viết “đoàn tuỳ
tùng đi tới Nước
Mặn, một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi.” Bản
đồ TNTCLĐT ghi vị trí Nước Mặn ở góc Đông Nam Chà Bàn cổ thành. Trong chương 4
nói về voi và tê giác, Bori viết “Khi tôi
ở Nước Mặn, một xã thuộc tỉnh Quy Nhơn.”Việc này phù họp với HXH dẫn sách
Thiên Nam Dư Địa Chí viết nói thành Trà Bàn ở xã Phú Đa. Trong một đoạn khác
Bori viết nói QTT coi cả tĩnh Quảng Nghĩa và có người con rể là sứ thần Zegro
mà Chúa sai đi sứ qua Chân Lạp. Nhiều tác giả viết nói sứ thần có cái tên là lạ
chắc là người Chăm. Đọc cả bản tường trình người ta có cảm giác QTT là người
Chăm. Thời đó chúa chỉ trực tiếp cai trị Thuận Hóa và Quảng Nam. Phần còn lại
cho người Chăm tự quản. Cũng như trước đó vào năm 1611, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đánh lấy đất lập ra phủ mới là phủ Phú Yên với 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phong làm lưu thủ(VN Sử Lược Trần Trọng Kim). Nhiều tác giả ngày nay cho VP là người Chăm. Năm 1629 VP làm phản con rể của chúa Sãi là Nguyễn Phúc Vinh đánh dẹp và cai quản đất này. Cả Quàng Nam mà dân giang còn gọi là Kẻ Chàm(Cacciam)
hay dinh Chiêm. Chuyện thủ phủ Qui Nhơn ở
thành Đồ Bàn thì họp lý. Đến đời Tây Sơn Nguyễn Nhạc còn chọn thành Đồ Bàn làm kinh đô.
Nguyễn Ánh bình định được đất này đổi tên thành ra tên thành Bình Định. Vua Gia
Long năm 1808 dời thủ phủ 10km về phía nam và vẫn giữ tên Bình Định. Người Pháp
chọn cảng Qui Nhơn làm thủ phủ. Vào năm 1954 phố xá chủ yếu ở mũi phía đông của
bán đảo. Từ đồi Bà Hoa chạy tuốt tuột tới đèo Xuân Vân(bản đồ Thạch Khê của VNTM-AMS)
ngăn cách Qui Nhơn với Qui Hòa là bãi cát khá hoang vắng như bãi cát xóm Mới ở
Nha Trang kéo dài từ nhà thờ Đá(ngả 6) tới Cầu Đá vào thời điểm tương tự
.Những trận đánh vào
thành Đồ bàn thì có
rất nhiều. Ở đây chỉ đề cập trận xa xưa và hoành tráng nhất mà HXH công phu viết
trong sách Lý Thường Kiệt đánh bắt chúa Chiêm là Chế Củ năm 1069. Dẫn sách VSL,
tác giả nói trận đánh xảy ra ở sông Tu Mao rồi tiến lên vây thành. Tài liệu chỉ
có thế. Phần còn lại là suy đoán chủ quan nên có sai lầm như TCĐT nêu trên. Thời
HXH viết sách đâu có bản đồ chi tiết. Cho đến nay bản đồ chi tiết tỉ lệ 1/250.000
như bản đồ của quân đội Hoa Kỳ Jimhenthorn, ITAMST mà cũng khó nhận ra các
nhánh sông để đối chiếu với sách sử cũ. Đến khi có bản đồ tỉ lệ lớn 1/50.000 vẽ
phân biệt kích thước các sông lớn nhỏ thì ta mới phân biệt được các sông ghi
trong sách sử. Sông Côn phân ra hai nhánh. S. Đập Đá ở phía bắc và s. Sây ở
phía nam. Chảy qua QL 1A ở chỗ An Nhơn(Bình Đinh) thì s. Sây có tên là s. Tân
An. Sông thứ 3 là s. Hà Thanh có nhánh thông với s. Tân An. Thế là ta hiểu được
3 con sông vẽ trong TNTCLĐT. Ở GNNBNĐ, chỗ thành Đồ Bàn chỉ có vẽ 2 con sông. HXH
viết nói s. Tu Mao là s. Tân An, nhánh cực nam là đúng đấy. Nhưng từ đây đến Đồ
Bàn thì phải qua 2 con sông thì không nhận ra là 2 con sông nào. Dẫn Ức Trai Dư
Địa Chí của Nguyễn Trãi nói Lý Thường Kiệt kéo đại binh đến sông Phan Định(SPĐ).
SPĐ tiếp với phủ Hoài Nhân. SPĐ có 3 đoàn cá sấu nó vẫy đuôi làm đổ thuyền.
Quân qua không được. HXH nói SPĐ có thể là sông Tu Mao. HXH viết nói Lý Thường
Kiệt phong cho 3 đoàn sư tử(cá sấu) chức “Hiệu
Thuận Tam Thần Bá.”Ngày tuyên sắc sư tử nổi lên để nghe tuyên sắc. Nhờ thế
quân qua sông được. HXH không chắc sông Tu Mao có cá sấu mà nghi sông Phan Định
ở Phan Rang trên đường đuổi bắt Chế Củ ở biên giới Chân Lạp. HXH dẫn Cabaton viết
nói ở Phan Rang có sông tên là Kron Biynh có nghĩa là sông cá sâu. Tôi thấy có
nhiều sách viết về chuyện sông Phan Định. Căn cứ câu chuyện sách sử mô tả như
trên, căn cứ câu “SPĐ tiếp với phủ Hoài
Nhân”, căn cứ địa hình ở Phú Yên, tôi cho sông Phan Định là sông Bàn Thạch
trên đường LTK đuổi bắt Chế Củ. Vùng Biển Hồ ở Hảo Sơn và sông Bàn Thạch có nhiều
cá sấu. Ngày xưa huyện Tuy Viễn có thể kéo dài tới sông Đà Rằng. Địa Chí Phú
Yên của UBND tĩnh Phú Yên phát hành cho thấy tới trước năm 1826 huyện Đồng Xuân
còn chạy tới bờ Bắc sông ĐàRằng. Năm 1826 Huyện Tuy Hòa có thêm tổng mới là Tổng
Hòa Bình có các làng xã: “Tổng Hòa Bình có các làng nguyên là xã hay
thôn của huyện ĐồngXuân cũ: làng Phú Câu nguyên là Phường Câu thôn thuộc hạ bạc
huyện Đồng Xuân. Làng Bảo Tháp nguyên là Bảo Tháp xã thuộc tổng Trung huyện Đồng
Xuân. Làng Đông Phước nguyên là Phước Toàn xã đông giáp tổng trung huyện Đồng
Xuân. Làng Vĩnh Phú nguyên là Vĩnh An thôn Tổng Thượng Đồng Xuân. Làng Phú Ân
nguyên là Phú Ân xã thuộc Tổng Thượng huyện Đồng Xuân. Làng Đông Lộc, nguyên là
Phú Lộc xã đông giáp Tổng Thượng huyện Đồng Xuân...”
Trích dẫn một đoạn lịch sử để con cháu ngày nay nhớ ơn chúa
và vua Nguyễn mở mang bờ cõi để có được một giải non sông gấm vóc kéo dài từ ải
Nam Quan tới vịnh Thái Lan, tới trấn Tây Thành, ra tới hải đảo HS-TS và lấy
gương Chiêm Thành mất nước vì ở bên một nước mạnh hơn là Đại Việt mặc dầu họ là
con cháu của nước Lâm Ấp, Hoàn Vương và Bắc Chiêm Thành một thời sán lạn hơn
Giao Chỉ. Cuối Hạ năm 2017. Ongbatampy. Mời xem videoclip minh họa










0 nhận xét:
Đăng nhận xét