Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Thành Phố Cảng Qui Nhơn

Ongbatampy tháp tùng 
CGS SPQN-Đoàn Phú Yên tham dự lễ hội CGS SPQN Họp Bạn 2017 tại Qui Nhơn.Sáng ngày 12-8-2017, ông bà đánh một vòng thể dục buổi sáng thăm thành phố cảng. Thành phố tọa lạc trên một giải duyên hải hình tam giác.
 Giaỉ duyên hải là thuật ngữ của khoa địa chất khảo sát về hiện tượng địa chất bồi đắp chất trầm tích dọc theo bờ biển do tác dụng của gió và dòng hải lưu. Một khi bồi đắp tiến tới nối giải với một đảo ven bờ thì ta có giải nối như giải nối thành phố Đà Nẵng với đảo Sơn Chà. Có khi sự bồi đắp của giải duyên hải chắn ngang một cái vịnh thì nước sông đổ vào vịnh vào mùa nước lớn sẽ phá giải để thông với biển. Khi đó sẽ có một cái phá. Ví dụ phá Tam Giang. Nước sông Ô Lâu, sông Sịa và sông Hương sẽ phá giải thành cữa Eo, cữa Tư Dung thấy mô tả trong sử sách. Giaỉ phía bắc cữa Eo gọi là Đại Trường Sa, giải phía nam cữa Eo gọi là Tiểu Trường sa(Đại Việt Sử Ký TT). Đại và Tiểu Trường Sa là con đường giao thông xưa nổi tiếng với câu ca dao nghe quen thuộc nói lên tấm lòng chàng trai Thanh nghệ yêu cô nàng xứ Huế: “yêu em anh cũng muốn vô/Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang/ Phá Tam Giang ngày rày đã cạn/Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm”Quan Nội Tán là nội tán Nguyễn Khoa Đăng ở kinh thành Huế dẹp được trộm cướp ở truông nhà Hồ. Cữa Eo trong lịch sử mô tả nhiều lần bị bồi lấp và nhiều lần bị phá sinh sóng gió nguy hiểm kinh khủng cho khách qua lại. Giaỉ duyên hải xuất hiện rải rác khắp bờ biển Miền Trung VN. Sự bồi đắp và lở lói như trên cũng thường thấy nhiều nơi nhận ra trong sách sử.
Thành phố cảng Qui Nhơn. Giải duyên hải mà thành phố này tọa lạc hình tam giác. Đáy tam giác dựa vào trái đồi Bà Hoa cao 294m như thấy trên bản đồ Việt Nam Topography Maps của Quân Đội Hoa Kỳ(VNTM-AMS) và dựa vào sườn phía đông nhánh núi của rặng núi đèo Cù Mông. Giữa đồi và núi có con đường bộ. Cạnh phía nam của tam giác hướng ra Biển Đông và cạnh phía bắc trông ra đầm Thị Nại(TN). Đỉnh tam giác thì trông vào hòn đảo xưa gọi là Rổ Đó Không Lộ như sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT)  đã vẽ. Trên bản đồ Indochina and Thailand AMS Topograpy(ITAMST) của quân đội Hoa Kỳ thấy đảo có 2 đỉnh núi. Đỉnh phía bắc tên là núi Đá Đen cao 361m. Đỉnh phía nam cao 193m với tên địa danh Phước Mai ở bên cạnh. Cữa cảng Qui Nhơn không phải là cữa sông mà là một cái phá. Phá làm đầm Thị Nại được thông ra biển.
Khách du(KD) hôm nay từ khách sạn Lê Lợi đến một ngả 5, ngoặc trái theo đường Nguyễn Huệ, rồi ra bãi biển phía nam ngắm cảnh thiên hạ tập thể dục buổi sáng. KD  quét ống kính để thu hình từ cảng(khu 1 thời VNCH), vòng qua thành phố, sang phía TâyNam(khu sân bay, trường SưPham QuiNhơn cũ: khu 6), rồi thuê taxi sang phía đầm Thị Nại(TN). Ghé  bờ hồ Sinh Thái là một mảnh thuộc đầm TN để ngắm cảnh vươn vai, hít thở của dân hâm mộ thể dục thể thao một lần nữa. Bờ hồ phía nam cặp kè đường Lê Đức Thọ. KD theo đường này mà đi về Tây rồi ngoặc Phải sang đường Phan Đình Phùng, cũng men theo bờ hồ rồi ngoặc      Trái sang  đường Đống Đa cặp kè đầm TN. Khách đi về hướng TâyNam. Đến chỗ bến xe cũ, cạnh chân đồi Bà Hòa gần ga xe lửa thì taxi ngoặc sang Phải. Tài xế đưa KD thăm cầu Nhân Hội bắc qua đầm TN.
Trước mắt khách là khu đầm lầy ở cữa sông ngập mặn mới vừa được san lấp. Tài xế bảo phải vượt qua 5 cái cầu nhỏ rồi mới tới đầu cầu Nhơn Hội. Tài xế nói tiếp: người ta cho nạo vét các luồng lạch và cữa các nhánh sông để lấy phù sa đất cát mà san lấp thành một khu rộng lớn để xây dựng khu đô thị mới trong tương lai. Về nhà tra trên bản đồ VNTM-AMS thấy đúng có 5 luồng lạch thuộc nhánh thứ nhất của sông Hà Thanh(HT) đổ vào đầm TN. Nhánh thứ 2 của sông HT thì hợp lưu với nhánh cực nam của sông Côn. Sông HT phát nguyên từ biên giới PhuYên-Binh Định, thu thập nước ở sườn phía tây rặng núi đèo Cù Mông, chạy dọc theo đường xe lửa và liên tĩnh lộ nay gọi là QL19C. Ở cữa các nhánh sông thấy có nhiều bùn bồi lấp. Có một dãy đất bồi chạy suốt từ Tây sang Đông ngăn đầm TN thành vũng nước mặn(bản đồ Jimhenthorn và VNTM-AMS). Vũng hiện nay là Hồ Sinh Thái Đống Đa và trên dãy đất bồi là đường Đống Đa,
Qua một vòng quan sát thì khách thấy thành phố to lớn rộng rãi hơn xưa nhưng không có gì lưu ý vào lòng khách, duy chỉ có nét đặc biệt hơn các thành phố khác là các vỉa hè lát bằng đá thay vì gạch hoa.
Cũng như những lần du lịch khác, câu “Ngã kim nhật tại tọa chi địa. Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi/ ngàn muôn năm âu cũng thế ni!” của Nguyễn Công Trứ(Chữ Nhàn) kéo du khách suy tư về quá khứ. Hai câu đầu có nghĩa là hiện tại ngày này, ta ngồi ở chỗ đất này, thì ngày xưa tầng tầng lớp lớp ông bà của ta cũng đã từng ngồi ở nơi đây. Sự và vật cứ biến đổi vô thường. Kéo dòng tư tưởng về quá khứ là thú vui khi đi du lịch. Hoa lá cành hiện tại không đủ mua vui.
Cảng ngày xưa. Không ở phía nam mà ở phía bắc của đầm TN và thủ phủ đất này ngày xưa không phải là thành phố cảng Qui Nhơn mà là thành Đồ Bàn, xứ Nước Mặn và là thành Bình Định. Đầm TN thì dài, nằm theo trục Bắc-Nam. Đầu phía bắc thì thuôn, hẹp lại. Đầu phía nam phình rộng ra. Bờ phía tây tiếp với đất liền. Bờ phía đông tiếp giáp với bán đảo Phương Mai là một giải duyên hải như Tạ Chí Đại Trường trích dẫn bản đồ Barizy vẽ trận 1-3-1801 Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn nói cữa Nước Mặn(Nước Mặn Hải Môn thâm) bị bồi lấp, bán đảo Phương Mai thành hình. Bây giờ Nguyễn Ánh mới theo cữa Qui Nhơn đánh vào cảng rồi lên bao vây thành Chà Bàn. Sau khi lấy được thành, NÁ đổi tên thành ra tên Thành Bình Định. Bờ nam của đầm tiếp giáp với thành phố Qui Nhơn cũng là một giải duyên hải.
Cảng ở phía bắc có nhiều tên. Bản đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư(TNTCLĐT) ghi là “Nước Mặn Hải Môn”. Trong biển vẽ hòn đảo ghi là “Rổ Đó, Khổng Lộ”. Đối diện trong đất liền ghi “Chà Bàn cổ thành”, “Phật tĩnh”, “Phật tĩnh sơn”, “thiển giang”, “tháp con gái” vẽ nằm giữa 2 con sông khác. Sông phía Bắc ghi là “Phú Đa giang”, ghi một địa danh nữa là “Nước Mặn.” Ở bản đồ Giap Ngọ Niên Bình Nam Đồ(GNNBNĐ), ứng với vị trí này thì ghi “Nước Mặn Hải Môn thâm”, “Thị Nại Hải Môn, hòn đảo thì ghi “dân cư.”Đối diện trong đất liền vẽ “Phật Tĩnh Sơn”(PTS) và ghi “Thạch Tĩnh”, ghi 7 chứ “tự”chỉ 7 ngôi chùa ở PTS. PTS thì nằm giữa 2 con sông.
Cữa Cri Bonei(Sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn).  Đúng là Sri Bonei vì word không có mẫu tự “c”có dấu móc câu ở dưới. Hoàng Xuân Hãn(HXH) lấy tài liệu trong Việt Sử Lươc(VSL), bia ký và nhiều tài liệu khác mô tả tỉ mỉ trận đánh Chiêm Thành của Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt năm 1069. HXH viết nói sau sáu ngày, vua rời cữa Tư Dung(Thuận An) ngày nay, thuyền quân đến cữa Cri Bonei. HXH viết nói Maspero trong Le Rouyaume du Champa có đề cập tới “Cri Bonei”nhưng không nói rõ ở đâu. VSL thì chép là Thì Lị Bì Nại. HXH còn viết nói cữa lớn ở Qui Nhân tên xưa là Thị Nại. HXH viết tiếp nói trận đánh ở sông Tu Mao. Thành Phật Thệ, tên Chăm là Vijya thì ở phía cực bắc vũng nước mặn. Sông cạn khó vào. Thuyền chiến vào cữa Thị Nại. Tạ Chí Đại Trường nói HXH lầm cữa Thị Nại với cữa Qui Nhơn. TCĐT dẫn TNTCLĐT và GNNBNĐ là sách xuất bản vào thế kỷ thứ 17 cho thấy cảng Nước Mặn vẫn còn gọi là Nước Mặn Hải Môn thâm. Vì thâm nên Lý Thường Kiệt vào cữa nước mặn này. Kiểu đổ bộ lên phía nam của bờ tây đầm TN rồi đánh lên thành Chà Bàn là kiểu đánh xảy ra ở thế kỷ thứ 18 trong trận TâySơn-Nguyễn Ánh.Năm 1303 Đại Việt Sử Ký TT(ĐVSKTT) viết nói Đoàn Nhữ Hài(ĐNH) đi sứ Chiêm Thành. ĐNH mang chiếu thư của vua sang. ĐNH có sáng kiến để khỏi phải lạy vua Chiêm, Nhữ Hài(NH) lấy cớ phải lạy chiếu thư trước khi tuyên đọc. Lệ sứ thần Đại Việt không lạy vua sở tại bắt đầu từ đây. Ngày hôm sau NH treo bảng cấm buôn bán ở cảng Tì Ni, tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng bảo “chỗ này người buôn bán phức tạp, lại là bến tàu xung yếu, khó giữ gìn, sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”. Sách viết tiếp nói ý của NH  biết Chiêm Thành tuy thuần phục nhưng chưa chịu nội phụ. Bảng cấm rốt cuộc cũng bị bỏ đi nên nói trước như vậy.
Trang webs “Bình Định FFC”dẫn sách Kinh Tế Đại Điển Tự Lục và Nguyên Sử nói về Chiêm Thành Cảng: Cữa cảng ở phía bắc, liền với biển. Bên cạnh có 5 cảng nhỏ thông với Đại Châu của nước ấy. Phía Đông Nam có núi ngăn. Phía tây có thành Gỗ.”Tác giả viết nói đây là cữa Cách Thử hay Nha Phiên Hải Tấn. Thành Gỗ là thành Thị Nại. Núi là dãy Triều Châu.
Năm 1475 Minh Thực lục viết “Hữu cấp sự trung khoa Công Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại thứ đã mang đi như chiếu  sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu Chiêm Thành, quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm còn quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn”. Vào cuối đời Minh Thành Tổ(khoảng năm 1424) đến Minh Nhân Tông, nhà hàng hải Trịnh Hòa, gốc người Ả Rập lảm 7 hành trình từ TQ đến Ấn Độ Dương. TH đã ghé Hội An và Chiêm Thành nhưng tên cảng ở Chiêm Thành thì không thấy đề cập đến. Hiện nay TQ lấy cớ 7 chuyến hải hành của TH mà nói TQ có chủ quyền ở Biển    Đông không thể tranh cãi!
Cảng quốc tế Chiêm Thành Cảng còn hoạt động tới đời Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Sứ giả Chapman, người Anh viết trong  trong ký sự “KS Chapman 1778” mô tả đường lên thành Chà Bàn yết kiến vua Nhạc: “Dọc theo bờ cảng nhiều nơi có ruộng nương trồng trọt thật sống động. Dưới đất thấp thì trồng lúa. Trên đồi núi thì trồng hồ tiêu đến tận đỉnh.” là cảnh ở phía bắc đầm TN. Ở đây mới có núi non.
Thủ phủ xưa. Thủ phủ xa xưa của đất này là thành Phật Thệ. Năm 982, Chiêm Thành thua trận Lê Đại Hành, chạy vào Vijya lập kinh đô Đồ Bàn bỏ kinh đô cũ Đồng Dương  ở Quảng Nam. Sử ta xem dòng vua ở Đồ Bàn là vua Nam Bàn. Tên vua sáng lập và lập năm nào thì mỗi tài liệu nói khác nhau và trùng lặp lung tung: Indravarman IV, Ku Xri Harivarman, Băng Vương La Duệ, Câu Thị Lị Ha Thân Bài Ma La, Yangpuku Vijaya, Indravarman II(Ngô Nhật Hoan),
Hoàng Xuân Hãn(HXH), trong sách Lý Thường Kiệt viết nói thành Phật Thệ là thành Vijaya. Vijaya cũng là tên địa danh. Âm tiếng Việt là Phú Gia Đa(HXH). HXH viết tiếp nói sau đó thành có tên là Chà Bàn. Có sách viết là Đồ Bàn là lầm vì lầm chữ “đồ” nghĩa là rau đắng với chữ “đồ” nghĩa là trà, chè. Tự dạng 2 chữ giống nhau. Đoạn sử chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn Ánh ghi là Trà Bàn. HXH dẫn sách Thiên Nam Dư Địa Chí viết nói thành Trà Bàn ở xã Phú Đa. HXH viết tiếp nói sách Hoàng Việt Dư Địa Chí chép rằng thành Trà Bàn ở trên sông Phú Gia Đa. Bản đồ TNTCLĐT vẽ Chà Bàn cổ thành ở tả ngạn sông Phú Đa giang. HXH dẫn sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép thành Trà Bàn ở chỗ giáp giới huyện Tuy Viễn và huyện Phù Cát. Nhà Nguyễn đổi tên thành ra thành Bình Đinh và đặt tĩnh lị ở đây. Năm 1808 dời tĩnh lị về chỗ như ngày nay(An Nhơn, gần QL19). HXH viết tiếp nói ngày nay trên đường thiên lý cách thành Bình Định 10km về phía bắc còn di tích cổ thành ở địa phận 3 làng An Nghĩa, Nam An và Thuận Chánh(vùng Đập Đá). Đường quan lộ xuyên qua góc Đông-Bắc của thành.
Thủ phủ thời chúa Nguyễn. Chúng ta sẽ tìm thấy thông tin trong Bản Tường Thuật của giáo sĩ Bori năm 1621 và bảng Hành Trình Truyền Giaó của gs Đắc Lộ. Bori viết nói xứ của Chúa có tĩnh thứ nhất là nơi chúa ở gọi là Thuận Hóa, tĩnh thứ 2 là Cacciam(Kẻ Chàm), nơi hoàng tử trấn thủ, tĩnh thứ 3 là Quamguia(Quảng Nghĩa), thứ tư là Quingnim(Qui Nhơn) mà người Bồ gọi là Pulucambis và thứ 5 là tĩnh Renran. Tạ Chí Đại Trường(TCĐT) viết nói tĩnh Qui Nhơn được gọi theo tên đảo là Pulucambis. Pulu hay polo tiếng Bồ có nghĩa là Đảo. Pulucambis là đảo Cù Lao Xanh(TCĐT). TCĐT viết nói người Âu sai lầm lại vẽ đảo Cambis gần với quần đảo Hoàng Sa(bản đồ của gs Placide dòng Augustne-Pháp năm 1686). Bản đồ của Quân Đội Hoa Kỳ ITAMST chú thích Cù Lao Xanh ở ngoài khơi Đầm Cù Mông là hòn Gambir nghe na ná như Cambis thấy trên các bản đồ xưa. Đắc Lộ(ĐL)  thì gọi 5 tĩnh của Chúa là tĩnh Thuận Hóa, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Phú Yên. Trong đoạn ĐL tường trình việc ông nhận đi truyền giáo 3 tình Miền Nam thì gọi tĩnh Quảng Nghĩa là tĩnh Baobam. Bản đồ  Edward Weller 1718 ở vị trí này ghi chữ Baubon.
Bori ghi rõ vị trí thủ phủ tĩnh Quingnim trong đoạn tường trình hành trình theo quan trấn thủ(QTT) Quingnim từ Cacciam về truyền giáo ở Nước Mặn. Hành trình lâu 12 ngày. 4 ngày đi thuyền  qua tĩnh Quảng Nghĩa. 8 ngày đi bộ bằng voi và ngựa trong tĩnh Qui Nhơn. Bori viết nói tư dinh của QTT thì ở miền quê, xa tĩnh chừng một dặm rưỡi. Bori muốn vào trong thành để việc truyền giáo được thành công hơn. QTT chiều ý. Bori viết “đoàn tuỳ tùng đi tới Nước Mặn, một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi.” Bản đồ TNTCLĐT ghi vị trí Nước Mặn ở góc Đông Nam Chà Bàn cổ thành. Trong chương 4 nói về voi và tê giác, Bori viết “Khi tôi ở Nước Mặn, một xã thuộc tỉnh Quy Nhơn.”Việc này phù họp với HXH dẫn sách Thiên Nam Dư Địa Chí viết nói thành Trà Bàn ở xã Phú Đa. Trong một đoạn khác Bori viết nói QTT coi cả tĩnh Quảng Nghĩa và có người con rể là sứ thần Zegro mà Chúa sai đi sứ qua Chân Lạp. Nhiều tác giả viết nói sứ thần có cái tên là lạ chắc là người Chăm. Đọc cả bản tường trình người ta có cảm giác QTT là người Chăm. Thời đó chúa chỉ trực tiếp cai trị Thuận Hóa và Quảng Nam. Phần còn lại cho người Chăm tự quản. Cũng như trước đó vào năm 1611, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đánh lấy đất lập ra phủ mới là phủ Phú Yên với 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phong làm lưu thủ(VN Sử Lược Trần Trọng Kim). Nhiều tác giả ngày nay cho VP là người Chăm. Năm 1629 VP làm phản con rể của chúa Sãi là Nguyễn Phúc Vinh đánh dẹp và cai quản đất này. Cả Quàng Nam mà dân giang còn gọi là Kẻ Chàm(Cacciam) hay dinh Chiêm. Chuyện thủ phủ Qui Nhơn  ở thành Đồ Bàn thì họp lý. Đến đời Tây Sơn  Nguyễn Nhạc còn chọn thành Đồ Bàn làm kinh đô. Nguyễn Ánh bình định được đất này đổi tên thành ra tên thành Bình Định. Vua Gia Long năm 1808 dời thủ phủ 10km về phía nam và vẫn giữ tên Bình Định. Người Pháp chọn cảng Qui Nhơn làm thủ phủ. Vào năm 1954 phố xá chủ yếu ở mũi phía đông của bán đảo. Từ đồi Bà Hoa chạy tuốt tuột tới đèo Xuân Vân(bản đồ Thạch Khê của VNTM-AMS) ngăn cách Qui Nhơn với Qui Hòa là bãi cát khá hoang vắng như bãi cát xóm Mới ở Nha Trang kéo dài từ nhà thờ Đá(ngả 6) tới Cầu Đá vào thời điểm tương tự
.Những trận đánh vào thành Đồ bàn thì có rất nhiều. Ở đây chỉ đề cập trận xa xưa và hoành tráng nhất mà HXH công phu viết trong sách Lý Thường Kiệt đánh bắt chúa Chiêm là Chế Củ năm 1069. Dẫn sách VSL, tác giả nói trận đánh xảy ra ở sông Tu Mao rồi tiến lên vây thành. Tài liệu chỉ có thế. Phần còn lại là suy đoán chủ quan nên có sai lầm như TCĐT nêu trên. Thời HXH viết sách đâu có bản đồ chi tiết. Cho đến nay bản đồ chi tiết tỉ lệ 1/250.000 như bản đồ của quân đội Hoa Kỳ Jimhenthorn, ITAMST mà cũng khó nhận ra các nhánh sông để đối chiếu với sách sử cũ. Đến khi có bản đồ tỉ lệ lớn 1/50.000 vẽ phân biệt kích thước các sông lớn nhỏ thì ta mới phân biệt được các sông ghi trong sách sử. Sông Côn phân ra hai nhánh. S. Đập Đá ở phía bắc và s. Sây ở phía nam. Chảy qua QL 1A ở chỗ An Nhơn(Bình Đinh) thì s. Sây có tên là s. Tân An. Sông thứ 3 là s. Hà Thanh có nhánh thông với s. Tân An. Thế là ta hiểu được 3 con sông vẽ trong TNTCLĐT. Ở GNNBNĐ, chỗ thành Đồ Bàn chỉ có vẽ 2 con sông. HXH viết nói s. Tu Mao là s. Tân An, nhánh cực nam là đúng đấy. Nhưng từ đây đến Đồ Bàn thì phải qua 2 con sông thì không nhận ra là 2 con sông nào. Dẫn Ức Trai Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi nói Lý Thường Kiệt kéo đại binh đến sông Phan Định(SPĐ). SPĐ tiếp với phủ Hoài Nhân. SPĐ có 3 đoàn cá sấu nó vẫy đuôi làm đổ thuyền. Quân qua không được. HXH nói SPĐ có thể là sông Tu Mao. HXH viết nói Lý Thường Kiệt phong cho 3 đoàn sư tử(cá sấu) chức “Hiệu Thuận Tam Thần Bá.”Ngày tuyên sắc sư tử nổi lên để nghe tuyên sắc. Nhờ thế quân qua sông được. HXH không chắc sông Tu Mao có cá sấu mà nghi sông Phan Định ở Phan Rang trên đường đuổi bắt Chế Củ ở biên giới Chân Lạp. HXH dẫn Cabaton viết nói ở Phan Rang có sông tên là Kron Biynh có nghĩa là sông cá sâu. Tôi thấy có nhiều sách viết về chuyện sông Phan Định. Căn cứ câu chuyện sách sử mô tả như trên, căn cứ câu “SPĐ tiếp với phủ Hoài Nhân”, căn cứ địa hình ở Phú Yên, tôi cho sông Phan Định là sông Bàn Thạch trên đường LTK đuổi bắt Chế Củ. Vùng Biển Hồ ở Hảo Sơn và sông Bàn Thạch có nhiều cá sấu. Ngày xưa huyện Tuy Viễn có thể kéo dài tới sông Đà Rằng. Địa Chí Phú Yên của UBND tĩnh Phú Yên phát hành cho thấy tới trước năm 1826 huyện Đồng Xuân còn chạy tới bờ Bắc sông ĐàRằng. Năm 1826 Huyện Tuy Hòa có thêm tổng mới là Tổng Hòa Bình có các làng xã:  “Tổng Hòa Bình có các làng nguyên là xã hay thôn của huyện ĐồngXuân cũ: làng Phú Câu nguyên là Phường Câu thôn thuộc hạ bạc huyện Đồng Xuân. Làng Bảo Tháp nguyên là Bảo Tháp xã thuộc tổng Trung huyện Đồng Xuân. Làng Đông Phước nguyên là Phước Toàn xã đông giáp tổng trung huyện Đồng Xuân. Làng Vĩnh Phú nguyên là Vĩnh An thôn Tổng Thượng Đồng Xuân. Làng Phú Ân nguyên là Phú Ân xã thuộc Tổng Thượng huyện Đồng Xuân. Làng Đông Lộc, nguyên là Phú Lộc xã đông giáp Tổng Thượng huyện Đồng Xuân...”
Trích dẫn một đoạn lịch sử để con cháu ngày nay nhớ ơn chúa và vua Nguyễn mở mang bờ cõi để có được một giải non sông gấm vóc kéo dài từ ải Nam Quan tới vịnh Thái Lan, tới trấn Tây Thành, ra tới hải đảo HS-TS và lấy gương Chiêm Thành mất nước vì ở bên một nước mạnh hơn là Đại Việt mặc dầu họ là con cháu của nước Lâm Ấp, Hoàn Vương và Bắc Chiêm Thành một thời sán lạn hơn Giao Chỉ. Cuối Hạ năm 2017. Ongbatampy. Mời xem videoclip minh họa

0 nhận xét:

Đăng nhận xét