Một chút lịch sử đất lành chim đậu. Đất này lành như
lời bài hát mà TTT thể hiện: “Người yêu
tôi hay khóc trong chiều mưa. Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây. Bảo yêu anh,
em muốn chuyện đôi mình như màu xanh biển tình trong ngày trời xinh rất xinh.”
Thực vậy. Đất này xa xưa thuộc vương
quốc Lâm Ấp, Hoàng Vương rồi Chiêm Thành sống trong yên bình với nền văn minh rực
rỡ. Năm 982, thua trận Lê Đại Hành đại phá Chiêm Thành, người Bắc Chiêm Thành bỏ
kinh đô Đồng Dương(Quảng Nam) lui vào Vijaya lập kinh đô Đồ Bàn năm 988 triều
vua Sri Harivarman II, đồng thời với người Việt lập quốc với kinh đô Thăng Long
gần ngàn năm văn hiến. Thế rồi một còn(Thăng Long), một mất, Đồ Bàn, vào năm
1472 dưới triều vương Lê Thánh Tôn. Số phận của nó trở nên long đong hẩm hiu. Em
vua vong quốc Trà Toàn là trà Toại phải sang nhà Minh tố cáo Đại Việt và chống
cự Đại Việt(ĐV) tới 3 năm liền. ĐV lập hậu duệ của vua Nam Bàn, Trai Á Ma Phất
Am và em là Cổ Lai lên thay. Họ cũng quyết liệt đòi lại đất này suốt hành trình
kháng chiến và tố cáo với nhà Minh suốt 4 triều vương(Trai Á Ma Phất Am, Cổ
Lai, Sa Cố Bốc Lạc, Công Sa Nhật Đế Tề) cho tới năm 1543(Minh Thực Lục). Sau đó
họ bị diệt vong trong cái xứ Xích Khâm bang, Đô Lang quốc(Đắc Lắc?). Từ đấy
không thấy Minh Thực Lục đề cập tới nữa. Đại Việt Sử Ký TT viết một cách vắn tắt
nói họ được chia đất ở phía tây núi Thạch Bi. Nói một chút lịch sử để thấy quí
một tấc đất non sông của ông cha để lại. Cảnh báo hậu sinh rằng để mất một tấc
đất, một lít nước biển của tiền nhân thì không bao giờ con cháu hậu sinh lấy lại
được!
Về văn học, ĐVSKTT cũng nói năm 1488 tháng 10 lệnh cho Quảng
Nam con trai trên 15 tuổi tuấn tú ham học đến kỳ thi Hương lựa chọn sung vào
làm sinh đồ bản phủ để được dạy bảo(đỗ
tam trường ở kỳ thi Hương, đời Minh Mạng gọi là Tú Tài, đỗ tứ trường gọi là Cử
Nhân mà đời trước gọi là Sinh Đồ và Hương Cống). Như vậy đến năm 1488 Quảng Nam mới có sự học đàng hoàng, mất 17
năm(1471-1488) từ ngày hạ thành Đồ Bàn.
Các khóa thi
đời nhà Lê mở ra đúng như lệ nhà Minh là thi Hương vào các năm Tí Mão Ngọ Dậu. Thi Hội vào các năm Sửu Thìn Mùi Tuất, tránh các năm Dần Thân Tị Hợi: Ví
dụ khoa thi Hội mở ra năm BínhTuất(1466).
Hai năm sau mở khoa thi Hương MậuTí (1468)
rồi khoa thi Hội KỷSửu(1469),khoaNhâmThìn(1472),ẤtMùi(1475),MậuTuất(1478),TânSửu(1481),
GiapThìn(1484)… Tiếp theo cái học suy tàn
ở đời Lê Mạc và Trịnh Nguyễn phân tranh.
Đến đời
vua Nguyễn Gia Long, nhà nước chỉ mở khoa
thi Hương mà thôi. Năm 1813 lập được trường thi ở Huế và Gia Định(wikipedia).
Từ Gia Long đến Thiệu Trị thí sinh từ đèo Cả trở vào thi ở trường Gia Định. Từ
đèo Cả tới Quang Ngãi phải ra Huế mà thi.
Năm 1822 Minh Mạng mở khoa thi Hội. Phép thi như thời Gia
Long. Trước đỗ Tam Trường gọi là Sinh Đồ(ông Đồ), đỗ Tứ Tường gọi là Hương
Cống(ông Cống) nay đổi thành Tú Tài và Cử Nhân.
Trong 1
bài viết, Đào Đức Chương nói năm CanhTuất(1850)
triều Tự Đức(1847-1883) lập trường Bình Định cho thí sinh Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Sau trường nhận thêm Ninh Thuận Bình Thuận. Đó là
trường thứ 7 ra đời muộn nhất sau khi trường Thanh Hóa tái sinh vào năm 1848.
Khóa NhâmTí(1852) là khóa đầu tiên của
trường Bình Định. Tác giả dẫn Quốc Triều Hương Khoa Lục nói trường Bình Định
tồn tại được 23 khóa: NhâmTí(1852), 1855,
1858, 1867, 1868, 1870, 1873, 1876, 1878, 1879, 1882, 1884, 1885, 1894, 1897,
1900, 1903, 1906, 1909, 1912, 1915, 1918.
Như vậy trung tâm học hành ở Bình Định xuất hiện quá muộn so với Huế và Nghệ
An. Nghĩa là sự học thì đến sớm(năm 1488) nhưng trường thi thì mở ra muộn sau
Nghệ An và Gia Định. Tuy là xứ để lưu đày dung thân kẻ dụng võ nhưng Bình Định
vẫn là trung tâm chữ nghĩa. ĐVSKTT viết nói vào năm 1474, lưu cận châu thì sung
vào vệ Thăng Hoa, lưu châu ngoài thì sung vào vệ Tư Nghĩa, lưu viễn châu thì
sung vào vệ Hoài Nhân. Có lẽ vì là xứ lưu đày viễn châu nên xứ Bình Định sản
sinh người chuộng võ. “Ai về Bình Định mà
coi. Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.”Nơi này xuất hiện nữ tướng tài ba
là Bùi Thị Xuân.
Đến thời
Pháp thuộc, Bình Định vẫn giữ địa vị là một trung tâm văn hóa. Trường Quốc Học(College)
ra đời tiếp thu nền Tân Học. Miền Trung chỉ có 3 trương QH: Quốc Học Huế(1896),
QH Vinh(1920), QH Qui Nhơn(College de Qui Nhơn) mở ra vào năm 1921, tồn tại đến
năm 1945 được 24 năm. Hình ảnh học sinh theo học trường này được Nguyễn Vỹ minh
họa bỡi mục “Tuấn Chàng Trai Nước Việt”trong bán nguyệt san Phổ Thông lưu hành
thập kỷ 1960s. Chín Năm Kháng Chiến trung tâm học hành dời về Quảng Ngãi(trường
Lê Khiết). QGVN và VNCH tiếp thu vùng kháng chiến mở ra trung tâm học hành ở
Qui Nhơn. Trường SPQN đại diện cho trung tâm này.
Một chút về địa hình. Bình Định có cái nét đặc thù của
vùng Liên Khu 5 ở giữa 2 cái đèo hiểm trở là Đèo Hải Vân và Đèo Cả. Ngoài cái
đặc thù do lịch sử nói trên là đất của người Bắc Chiêm Thành với 2 kinh đô nổi
tiếng là Đồng Dương và Đồ Bàn, vùng này có cái đặc thù do địa thế và có nét văn
hóa chung là dân ca điệu hát bài chòi(hay “thai”bài chòi). Vài lần họp bạn
CGSSP QN tôi thấy các bạn Quảng Ngãi có tấm thịnh tình với các bạn ở Phú Yên.
Tôi phân vân không hiểu tại làm sao. Hai nhóm bạn cách nhau bỡi một cái tĩnh
rộng lớn Bình Đinh và nói cái giọng rất khác nhau. Thế sao lại thân nhau nhỉ.
Tra cứu địa hình thì thấy 2 nhóm bạn cùng chung uống một nguồn nước là nước của
cao Nguyên KonTum. Đổ về Tây thì có con sông Se San. Qua địa giới Campuchia thì
gọi là sông Tonle San, rồi họp lưu với sông Srepok từ phía Nam đi lên sau khi
băng qua Ban Mê Thuộc. Họp lưu đổ nước vào sông MeKong. Nước đổ về Bắc theo sông
Trà Khúc, ngoặc sang Đông đổ vào Biển Đông. Đổ về Nam có con sông Ba. Sông Ba
phát nguyên ở trên cao nguyên Kontum, chạy dọc theo sườn phía đông núi Kon Ka
Kinh(1748m) làm ranh tĩnh KonTum-Bình Định và ở trên “lưng” dãy Đông Trường Sơn.
Sông đi về Nam. Đến đèo An Khê, gần núi La Hiên, thì ngoặc sang Tây đi vào Gia Lai. Gặp phải
rặng Đèo Cả, sông ngoặc sang Đông đi vào tĩnh Phú Yên, rồi ra biển.
Người Bình
Định và Phú Yên có cái đặc thù rõ ràng khỏi nói là dân xứ “Nẫu” và thích thai
bài chòi. Về địa hình thì họ là chủng tộc định cư trên 2 con sông “song
sinh”chảy song song với nhau và hướng về cùng một hướng. Sông anh lớn hơn chảy
trên “lưng”dãy Đông Trường Sơn. Sông em, sông Côn, chảy ở chân Trường Sơn. Gặp
phải núi La Hiên(1309m) hai anh em đành phải chia tay. Sông em ngoặc sang Đông
chảy vào đầm Thị Nại. Dãy núi La Hiên là một tiếp nối của cao nguyên KonTum.
Chìa sang Đông dãy núi sinh ra hoành sơn Đèo Cù Mông. Tiếp tục kéo dài theo
hướng TâyBắc-ĐôngNam, cao nguyên KonTum cho ra “cao nguyên”Vân Hòa thấp lè tè.
Tận cùng dãy núi là hòn Chóp Chài cao 391m như là một cái “chấm hết”hành trình
“tạo sơn.”Bên nay Vân Hòa là sông Ba Hạ và bên kia là sông KỳLộ(Bản đồ quân sự
Jim Henthorn). Có cái duyên địa hình, phân thủy như thế nên các tĩnh nói trên
đây phản phất có nét chung chung. Thật vô duyên khi sát nhập Phú Yên với
KhánhHòa thành tĩnh PhúKhánh. Xứ bên kia rặng Đại Lãnh giống các tĩnh Nam Bộ
hơn, không có cái gì chung với xứ Liên Khu Năm hết.
Một ngày cuối
Hè năm 2017, Ongtampy.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét