Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

BÌNH Định Qui Nhơn Vài Nét Chấm Phá Lịch Sử & Địa Hình

Chỉ vài hôm nữa các bạn CGSSP QN hào hứng tề tựu về thăm trường cũ, đất Qui Nhơn Bình Định.
Mời đọc bài viết dưới đây và xem videoclip đính kèm để thấy yêu thích nơi chốn mà các bạn xuất thân với bao kỷ niệm tuổi thanh xuân.
BÌNH Định Qui Nhơn Vài Nét Chấm Phá Lịch Sử  & Địa Hình
Lời giới thiệu. Sắp tới các CGSSP QN trở về vùng đất lành chim đậu mà các bạn đã gắn bó suốt 2 năm ở cái tuổi đôi mươi, miệt mài học tập để trở nên giáo viên của một nền giáo dục Dân Tộc Nhân Bản và Khai Phóng.  Vùng nổi danh xứ “bóng dừa bờ cát dài. Gió lên từng chiều vàng, nàng xỏa tóc trên biển xanh ”mà Trần Thiên Thanh(TTT) từng ca ngợi và minh họa trong ca khúc “Biển Mặn.” Lúc ấy tác giả cũng ở cái tuổi đang yêu đời, yêu quê hương xứ sở như các bạn(Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội.)  Tác gỉa đi vào quân đội Quốc Gia Việt Nam tiếp thu vùng kháng chiến Liên Khu Năm(1954) để rồi năm sau dựng lên nền Đệ Nhất Cọng Hòa Việt Nam. Tác giả yêu xứ sở đất nước này và ghi lại ca khúc “Biển Mặn.” Sau đó các bạn cũng đến xứ sở đẹp đẽ này(năm 1962), các bạn không làm việc của quân đội mà đi làm văn hóa xây dựng quê hương, việc của Trường Sư Phạm. TSPQN là một trong 3 trường sư phạm đào tạo giáo viên chính qui thời VNCH đang trưởng thành(1962): TSP Qui Nhơn, TSP Sai Gòn và TSP Vĩnh Long. Thống nhất trong cả nước chỉ có 3 trường sư phạm bậc tiểu học chinh qui hoàn chỉnh mà thôi. Trước đó thì có các trường sư phạm “chữa cháy”dùng tạm trong giai đoạn thành lập nước.


Một chút lịch sử đất lành chim đậu. Đất này lành như lời bài hát mà TTT thể hiện: “Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa. Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây. Bảo yêu anh, em muốn chuyện đôi mình như màu xanh biển tình trong ngày trời xinh rất xinh.” Thực vậy. Đất này xa xưa thuộc vương quốc Lâm Ấp, Hoàng Vương rồi Chiêm Thành sống trong yên bình với nền văn minh rực rỡ. Năm 982, thua trận Lê Đại Hành đại phá Chiêm Thành, người Bắc Chiêm Thành bỏ kinh đô Đồng Dương(Quảng Nam) lui vào Vijaya lập kinh đô Đồ Bàn năm 988 triều vua Sri Harivarman II, đồng thời với người Việt lập quốc với kinh đô Thăng Long gần ngàn năm văn hiến. Thế rồi một còn(Thăng Long), một mất, Đồ Bàn, vào năm 1472 dưới triều vương Lê Thánh Tôn. Số phận của nó trở nên long đong hẩm hiu. Em vua vong quốc Trà Toàn là trà Toại phải sang nhà Minh tố cáo Đại Việt và chống cự Đại Việt(ĐV) tới 3 năm liền. ĐV lập hậu duệ của vua Nam Bàn, Trai Á Ma Phất Am và em là Cổ Lai lên thay. Họ cũng quyết liệt đòi lại đất này suốt hành trình kháng chiến và tố cáo với nhà Minh suốt 4 triều vương(Trai Á Ma Phất Am, Cổ Lai, Sa Cố Bốc Lạc, Công Sa Nhật Đế Tề) cho tới năm 1543(Minh Thực Lục). Sau đó họ bị diệt vong trong cái xứ Xích Khâm bang, Đô Lang quốc(Đắc Lắc?). Từ đấy không thấy Minh Thực Lục đề cập tới nữa. Đại Việt Sử Ký TT viết một cách vắn tắt nói họ được chia đất ở phía tây núi Thạch Bi. Nói một chút lịch sử để thấy quí một tấc đất non sông của ông cha để lại. Cảnh báo hậu sinh rằng để mất một tấc đất, một lít nước biển của tiền nhân thì không bao giờ con cháu hậu sinh lấy lại được!


Về văn học, ĐVSKTT cũng nói năm 1488 tháng 10 lệnh cho Quảng Nam con trai trên 15 tuổi tuấn tú ham học đến kỳ thi Hương lựa chọn sung vào làm sinh đồ bản phủ để được dạy bảo(đỗ tam trường ở kỳ thi Hương, đời Minh Mạng gọi là Tú Tài, đỗ tứ trường gọi là Cử Nhân mà đời trước gọi là Sinh Đồ và Hương Cống). Như vậy đến năm 1488 Quảng Nam mới có sự học đàng hoàng, mất 17 năm(1471-1488) từ ngày hạ thành Đồ Bàn.
Các khóa thi đời nhà Lê mở ra đúng như lệ nhà Minh là thi Hương vào các năm Tí Mão Ngọ Dậu. Thi Hội vào các năm Sửu Thìn Mùi Tuất, tránh các năm Dần Thân Tị Hợi: Ví dụ khoa thi Hội mở ra năm BínhTuất(1466). Hai năm sau mở khoa thi Hương Mậu (1468) rồi khoa thi Hội KỷSửu(1469),khoaNhâmThìn(1472),ẤtMùi(1475),MậuTuất(1478),TânSửu(1481), GiapThìn(1484)… Tiếp theo cái học suy tàn ở đời Lê Mạc và Trịnh Nguyễn phân tranh.
Đến đời vua Nguyễn Gia Long, nhà nước chỉ mở khoa thi Hương mà thôi. Năm 1813 lập được trường thi ở Huế và Gia Định(wikipedia). Từ Gia Long đến Thiệu Trị thí sinh từ đèo Cả trở vào thi ở trường Gia Định. Từ đèo Cả tới Quang Ngãi phải ra Huế mà thi.
Năm 1822 Minh Mạng mở khoa thi Hội. Phép thi như thời Gia Long. Trước đỗ Tam Trường gọi là Sinh Đồ(ông Đồ), đỗ Tứ Tường gọi là Hương Cống(ông Cống) nay đổi thành Tú TàiCử Nhân.
Trong 1 bài viết, Đào Đức Chương nói năm CanhTuất(1850) triều Tự Đức(1847-1883) lập trường Bình Định cho thí sinh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Sau trường nhận thêm Ninh Thuận Bình Thuận. Đó là trường thứ 7 ra đời muộn nhất sau khi trường Thanh Hóa tái sinh vào năm 1848. Khóa NhâmTí(1852) là khóa đầu tiên của trường Bình Định. Tác giả dẫn Quốc Triều Hương Khoa Lục nói trường Bình Định tồn tại được 23 khóa: NhâmTí(1852), 1855, 1858, 1867, 1868, 1870, 1873, 1876, 1878, 1879, 1882, 1884, 1885, 1894, 1897, 1900, 1903, 1906, 1909, 1912, 1915, 1918. Như vậy trung tâm học hành ở Bình Định xuất hiện quá muộn so với Huế và Nghệ An. Nghĩa là sự học thì đến sớm(năm 1488) nhưng trường thi thì mở ra muộn sau Nghệ An và Gia Định. Tuy là xứ để lưu đày dung thân kẻ dụng võ nhưng Bình Định vẫn là trung tâm chữ nghĩa. ĐVSKTT viết nói vào năm 1474, lưu cận châu thì sung vào vệ Thăng Hoa, lưu châu ngoài thì sung vào vệ Tư Nghĩa, lưu viễn châu thì sung vào vệ Hoài Nhân. Có lẽ vì là xứ lưu đày viễn châu nên xứ Bình Định sản sinh người chuộng võ. “Ai về Bình Định mà coi. Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.”Nơi này xuất hiện nữ tướng tài ba là Bùi Thị Xuân.
Đến thời Pháp thuộc, Bình Định vẫn giữ địa vị là một trung tâm văn hóa. Trường Quốc Học(College) ra đời tiếp thu nền Tân Học. Miền Trung chỉ có 3 trương QH: Quốc Học Huế(1896), QH Vinh(1920), QH Qui Nhơn(College de Qui Nhơn) mở ra vào năm 1921, tồn tại đến năm 1945 được 24 năm. Hình ảnh học sinh theo học trường này được Nguyễn Vỹ minh họa bỡi mục “Tuấn Chàng Trai Nước Việt”trong bán nguyệt san Phổ Thông lưu hành thập kỷ 1960s. Chín Năm Kháng Chiến trung tâm học hành dời về Quảng Ngãi(trường Lê Khiết). QGVN và VNCH tiếp thu vùng kháng chiến mở ra trung tâm học hành ở Qui Nhơn. Trường SPQN đại diện cho trung tâm này.


Một chút về địa hình. Bình Định có cái nét đặc thù của vùng Liên Khu 5 ở giữa 2 cái đèo hiểm trở là Đèo Hải Vân và Đèo Cả. Ngoài cái đặc thù do lịch sử nói trên là đất của người Bắc Chiêm Thành với 2 kinh đô nổi tiếng là Đồng Dương và Đồ Bàn, vùng này có cái đặc thù do địa thế và có nét văn hóa chung là dân ca điệu hát bài chòi(hay “thai”bài chòi). Vài lần họp bạn CGSSP QN tôi thấy các bạn Quảng Ngãi có tấm thịnh tình với các bạn ở Phú Yên. Tôi phân vân không hiểu tại làm sao. Hai nhóm bạn cách nhau bỡi một cái tĩnh rộng lớn Bình Đinh và nói cái giọng rất khác nhau. Thế sao lại thân nhau nhỉ. Tra cứu địa hình thì thấy 2 nhóm bạn cùng chung uống một nguồn nước là nước của cao Nguyên KonTum. Đổ về Tây thì có con sông Se San. Qua địa giới Campuchia thì gọi là sông Tonle San, rồi họp lưu với sông Srepok từ phía Nam đi lên sau khi băng qua Ban Mê Thuộc. Họp lưu đổ nước vào sông MeKong. Nước đổ về Bắc theo sông Trà Khúc, ngoặc sang Đông đổ vào Biển Đông. Đổ về Nam có con sông Ba. Sông Ba phát nguyên ở trên cao nguyên Kontum, chạy dọc theo sườn phía đông núi Kon Ka Kinh(1748m) làm ranh tĩnh KonTum-Bình Định và ở trên “lưng” dãy Đông Trường Sơn. Sông đi về Nam. Đến đèo An Khê, gần núi La Hiên,  thì ngoặc sang Tây đi vào Gia Lai. Gặp phải rặng Đèo Cả, sông ngoặc sang Đông đi vào tĩnh Phú Yên, rồi ra biển.  
Người Bình Định và Phú Yên có cái đặc thù rõ ràng khỏi nói là dân xứ “Nẫu” và thích thai bài chòi. Về địa hình thì họ là chủng tộc định cư trên 2 con sông “song sinh”chảy song song với nhau và hướng về cùng một hướng. Sông anh lớn hơn chảy trên “lưng”dãy Đông Trường Sơn. Sông em, sông Côn, chảy ở chân Trường Sơn. Gặp phải núi La Hiên(1309m) hai anh em đành phải chia tay. Sông em ngoặc sang Đông chảy vào đầm Thị Nại. Dãy núi La Hiên là một tiếp nối của cao nguyên KonTum. Chìa sang Đông dãy núi sinh ra hoành sơn Đèo Cù Mông. Tiếp tục kéo dài theo hướng TâyBắc-ĐôngNam, cao nguyên KonTum cho ra “cao nguyên”Vân Hòa thấp lè tè. Tận cùng dãy núi là hòn Chóp Chài cao 391m như là một cái “chấm hết”hành trình “tạo sơn.”Bên nay Vân Hòa là sông Ba Hạ và bên kia là sông KỳLộ(Bản đồ quân sự Jim Henthorn). Có cái duyên địa hình, phân thủy như thế nên các tĩnh nói trên đây phản phất có nét chung chung. Thật vô duyên khi sát nhập Phú Yên với KhánhHòa thành tĩnh PhúKhánh. Xứ bên kia rặng Đại Lãnh giống các tĩnh Nam Bộ hơn, không có cái gì chung với xứ Liên Khu Năm hết.
Một ngày cuối Hè năm 2017, Ongtampy.



0 nhận xét:

Đăng nhận xét