![]() |
Vùng sông Tương ở bên Trung Quốc |
có chuyện Tình Sử Sông Tương thì ở Thanh Hóa Việt Nam cũng có câu chuyện tình sử Màu Tím Hoa Sim.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết “365.Sông Tương một dải nông sờ/Bên Trông đầu nọ bên chờ cuối kia/Một tường tuyết trở sương che/Tin xuân đâu dễ đi về cho năng” để mô tả nỗi nhớ thương của Kim, Kiều sau cái ngày “từ phen đá biết tuổi vàng”, lần đầu tiên họ chạm mặt gặp nhau: “321. Sượng sùng giữ ý rụt rè/Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.” Và sau cái ngày họ ước hẹn lấy nhau và trao “chút này làm ghi”: “357. Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ/Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.” Tình đầu đời là như thế ấy. Không được gặp lại nhau, họ nhớ thương nhau đứt ruột kiểu như nàng Lương Ý Nương yêu mà không gặp mặt được hàn sĩ Lý Sinh đời Đường ở vùng sông Tiêu Tương huyện Linh Lăng, tĩnh Hồ Nam. Lương Ý Nương viết “Tận nhật tư quân bất kiến quân(ngày ngày mãi nhớ chàng mà không gặp được chàng)/Trường dục đoạn hề trường dục đoan(ruột muốn đứt, chao ôi, ruột muốn đứt).”Nàng viết tiếp: “Ngã tại Tương Giang đầu(chàng ở đầu sông Tương)/Quân tại Tương Giang Vĩ(thiếp ở cuối sông Tương)/Tương tư bất tương kiến(nhớ nhau mà không gặp)/Đồng ẩm Tương Giang thủy(cùng uống nước sông Tương).” Bài thơ Đường có tên là Trường Tương Tư. Một tác giả dịch nghĩa là Tương Tư Đằng Đẵng. Không biết bài thơ được đăng vào đâu trong kho sách cổ của Tàu. Trong Truyện Kiều Nguyễn Du chú thích dẫn sách Tình Sử có câu “Quân tại Tương Giang đầu, thiếp tại Tương Giang vĩ, tương tư bất tương kiến, đồng ẩm Tương Giang thủy.” Bài thơ Màu Tím Hoa Sim, tác giả Hữu Loan cũng kể câu chuyện tình, chuyện nhớ nhung đứt ruột như vậy.
Bài thơ Màu Tím Hoa Sim:
“Nàng có ba người anh/Đi bộ đội/Những em nàng còn chưa
biết nói/Khi tóc nàng xanh xanh./Tôi là người chiến binh Xa gia đình/Yêu nàng
như tình yêu em gái/Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,/Tôi mặc đồ quân
nhân/Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,/Nàng cười xinh xinh/Bên anh chồng độc
đáo./Tôi ở đơn vị về/ Cưới nhau xong là đi!/Từ chiến khu xa/ Nhớ về ái ngại/Lấy
chồng đời chiến chinh/Mấy người đi trở lại/Lỡ khi mình không về/Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê /Nhưng không chết
người trai khói lửa/Mà chết người gái nhỏ hậu phương/Tôi về không gặp nàng/Má
tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương/Tàn
lạnh vây quanh/Tóc nàng xanh xanh/Ngắn chưa đầy búi/Em ơi! Giây phút cuối/Không
được nghe nhau nói/Không được trông thấy nhau một lần./Ngày xưa nàng yêu hoa
sim tím/ (áo nàng màu tím hoa sim /Ngày xưa một
mình đèn khuya/ Bóng nhỏ )/Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa./Một chiều
rừng mưa/Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc/Biết tin em gái mất/Trước tin em lấy chồng./Gió sớm thu về/Rờn rợn nước sông/Đứa em nhỏ lớn lên/Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị/Khi gió sớm thu về/ Cỏ vàng chân mộ chí./Chiều hành
quân/Qua những đồi hoa sim/Những đồi hoa sim /Những đồi hoa sim /Dài trong chiều
không hết /Màu tím hoa sim/Tím cả chiều hoang biền biệt/Nhìn áo rách vai/Tôi
hát trong màu hoa./à ơi Áo anh sứt chỉ đường tà,/Vợ anh chết sớm mẹ già chưa
khâu/ à ơi.”
Wikipedia tiếng Việt viết
nói bài thơ xuất hiện đầu tiên trên tờ Trăm Hoa Đua Nở của Nguyễn Bính thời Nhân
Văn Giai Phẩm(1956-57). Vì bài thơ được cho là thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng
tiểu tư sản nên chủ nhân của nó bị kết tội phản động và nó bị cấm lưu hành. Tuy
nhiên bài thơ vẫn được truyền đi rộng rãi trong công chúng bằng những bản viết
tay và được đưa vào Miền Nam. Tại đó bài thơ được phổ thành nhạc. Bản mà Hồ Điệp
ngâm không thấy có đoạn thơ nằm trong ngoặc và in màu xanh như ghi trên đây.
Người ta nói vì bản viết tay cho nên có nhiều dị bản. Cách xuống dòng và dùng từ
có sự thay đổi. Chỉ sau năm 1975 Hữu Loan vào Nam mới có bản chính ông viết tay,
bản được Cục Bản Quyền Tác Giả Văn Học Nghệ
Thuật đóng dấu đăng ký ngày 12/10/2004. Và lúc đó người ta mới hiểu sâu về bài thơ
qua bài tự thuật của tác giả. Trước đó người Miền Nam chỉ hiểu “qua loa.” Wikipedia
viết nói “thơ Hữu Loan thường làm theo thể
tự do, có âm điệu giàu nhạc tính để chuyển tải tâm sự vì thế những bài thơ hiếm
hoi đã được phổ biến của ông đều sống trong lòng độc giả.”
Bài thơ nói tâm sự trai thời
chiến xếp bút nghiêng theo việc binh đao, quên thân mình, chỉ mong trả được nợ non
sông mà thôi. Chàng chiến binh mới cưới được vợ. Vợ yêu của chàng thì trẻ đẹp. Tức
thì chàng và cả 3 anh nàng đều vào quân đội,
bỏ lại mái ấm sau lưng. Em nàng thì chưa biết nói và tóc nàng thì còn
xanh. Tình yêu trong sáng. Chàng yêu nàng như yêu em gái. Nàng đáp lại bằng một
thứ tình yêu chân thật trắng trong. Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới.
Nàng hãnh diện được một ông chồng có tác phong bộ đội mà nàng gọi là độc đáo. Được
yêu và được lấy nhau nhưng vợ chồng đến với nhau thật ngắn ngủi: Cưới xong là
đi. Chàng lấy làm ái ngại. Lấy chồng thời chiến là thế đấy. Mấy người đi mà được
trở lại. Nhưng oái ăm. “Không chết người
trai khói lửa mà chết người em gái hậu phương tuổi xuân thì.” Khi chàng trở
về thì nàng đã mất, vĩnh viễn ra đi, không được nghe nhau nói, nhìn nhau một lần.
Cảnh tượng thật là buồn. Mẹ thì ngồi bên mộ con đầy bóng tối. Chiếc bình hoa
ngày cưới bây giờ làm bình hương, tàn lạnh vây quanh. Ký ức về nàng hiện về
trong đầu chàng. Tóc nàng xanh xanh, ngắn
chưa đầy búi. Màu tím hoa sim mà nàng ưa thích hiện ra. Chàng nhớ nàng vá cho tấm
áo ngày xưa. Đó là chuyện tình thời chiến.
Chiến tranh cướp mất tuổi trẻ,
cướp đời hoa hãy đang còn phong nhụy, cướp cả phương tiện truyền thông để người
thân thiết trong gia đình báo cho nhau niềm vui nỗi buồn riêng tư. Chiến tranh
gây đảo điên điên đảo, tạo nhiều cảnh trái khuấy trong đời. Ngoài kia ba người
anh được tin buồn em gái mất trước tin mừng em đi lấy chồng. Còn ở trong nhà
thì em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị. Thật là tang thương cho cả nhà. Cảnh
còn lại trong bài thơ chỉ là đồi là đồi, đồi hoa sim tím trong những chiều
hoang biền biệt trong những cuộc hành quân. Bây giờ chàng thả hồn theo câu hát.
Áo anh rách vai, vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu.
Chiến tranh gây biệt ly,
thương nhớ phu phụ là chuyện thường tình. Xưa nay điều có. Văn thơ, câu ca bài hát
đã ghi. Cô phụ đã từng than thở trong Chinh Phụ Ngâm. Nỗi lòng nàng Vọng Phu được
Lê Thương trang trải lên 3 khúc ca Hòn Vọng Phu I, II, III. Cảnh trông chồng
trông vợ buồn thật là buồn mà Lưu Trọng Lư đã cảm nhận: “Em không nghe mùa thu/Dưới trăng mờ thổn thức/Em không nghe rạo rực/Hình
ảnh kẻ chinh phu/Trong lòng người cô phụ-Tiếng Thu.” Cách Mạng Mùa Thu năm 1945
đẩy hàng ngàn thanh niên VN mới lớn vào cuộc chiến. Biết bao nhiêu nàng vọng
phu ở cái tuổi hãy còn xuân xanh. Ở Miền Nam có ca khúc Giấc Ngủ Cô Đơn nói lên
tâm trạng cô phụ Cách Mạng Mùa Thu. Thanh niên Nam Bắc bị đẩy vào cuộc chiến
nói là để nước nhà được Độc Lập Tự Do và nhân dân được Hạnh Phúc. Nửa chừng xuân,
đâu chưa đến đâu, thì năm 1954 thanh Niên Miền Nam bỏ vợ trẻ ở lại quê nhà rồi
tập kết ra bắc, để lại sự nhớ thương tiếc nuối khôn nguôi. Nhạc sĩ Anh Bằng viết
về nỗi lòng cô phụ trẻ ở MN: “Nửa đêm nhớ
anh/Buồn nghe mưa khóc bên mành/Nửa đêm nhớ anh/Tủi thân mi khép mong manh/Ai
ngở duyên mình bẽ bàng lá thắm xa cành/Chim đàn xa tổ tội tình/Người chờ người
trong lúc tuổi xanh/Gọi anh giữa đêm/Sầu thương tay đứt ruột mềm/Gọi anh giữa
đêm/Khổ đau như xé con tim/Nghe gió qua thềm, ngỡ ngàng chân bước đi
tìm/Nghiêng mình qua cữa im lìm/Trời lạnh lùng như gọi buồn thêm.”
Tôi đưa đoạn lời ca khúc Giấc
Ngủ Cô Đơn vào đây để nghiệm lại tại sao bài thơ Màu Tím Hoa Sim được thanh
niên Miền Nam hâm mộ lưu truyền ngâm nga và phổ nhạc sau năm 1954. Bài thơ Màu
Tím Hoa Sim còn được dân MN ưa thích ngoài vì tác giả có tư tưởng tiểu tư sản,
là nạn nhân Nhân Văn Giai Phẩm mà vì bài thơ còn có “hơi hám” hình ảnh MN: Gọi mẹ bằng má và bộ đội gì mà đi giày đinh,
chẳng giống anh bộ đội cụ Hồ!
Nhân vụ án Nhân Văn Giai Phẩm,
Miền Nam cảm thông và thương thanh niên Miền Bắc như Hữu Loan nén lòng chịu đựng
nỗi đau mất mát riêng tư. Chiến tranh cướp đi đoạn đời hoa mộng đẹp nhất trong
đời của họ. Phải nén niềm đau riêng để vui
gượng với hiện tại: “Vui là vui gượng
kẻo mà/Ai tri âm đó, mặn mà với ai. Truyện Kiều” Nhờ tri thức đa chiều và
được biểu lộ lòng mình tự do nên thanh niên Miền Nam được thoải mái hơn, không
có cảm giác bị đè nén khi tham gia chinh chiến. Có tình cảm giành cho chiến trường
cho tổ quốc, thì cũng có tình cảm giành cho riêng mình. Chiến binh Miền Nam có
thể nói lên nỗi niềm tâm sự: “Tôi ở miền
xa/Trời quen đất lạ/Nhiều Đông lắm Hạ/Nối tiếp đi qua/Thiếu bóng đàn bà/Đời
không dám tới đành viết cho tôi/Nhạc tình sao lắm lời…Thèm trong hãi hùng tiếng
hát môi em…Người nâng lính khổ/Viết bỡi câu ca/Vì tinh hay thiết tha…Đến với
tôi, hãy đến với tôi/Đừng yêu lính bằng lời…Ngoài kia súng nổ/Đốt lửa đêm đen/Tầm
đạn thay tiếng em ”, hay hát lên lời
ca như thế này: “Em hỏi anh bao giờ trở lại/Xin
trả lời mai mốt anh về…Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa/Anh trở về trên chiếc
băng ca/Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Nhờ cho nói lên tâm sự của anh
lính chiến nên người ta mới nhận ra cái giá phải trả của tuổi trẻ cho cuộc chiến
tranh. Do đó lãnh đạo nên đắn đo mà lèo
lái con thuyền quốc gia, lèo lái cuộc chiến để phỏi phụ lòng người vị quốc quên
thân.
Năm 1988, năm đổi mới. Hữu
Loan nói là ông “tái xuất giang hồ.” Ông
lang bạt gần một năm theo chuyến xuyên Việt do hội Văn Nghệ Lâm Đồng và tạp chí
Langbiang tổ chức đi tìm đổi mới làm báo và tự do xuất bản. Lúc đó một lần nữa rộ
lên lòng hâm mộ bài thơ. Công Ty Cổ Phần Công nghệ Việt(ViTek VTB) bỏ ra 100
triệu mua bản quyền bài thơ. Có lẽ đánh giá bài thơ sẽ có tác động mạnh trong
giới thanh niên ngày nay và mai sau. Bài thơ đánh dấu cái gía thanh niên Việt
Nam phải trả cho cuộc chiến. Hữu Loan phát hành một bài tự thuật. Bấy giờ ta mới
hiểu bài thơ nhiều hơn.
Lời tự thuật của Hữu Loan. Nhờ giai điệu âm thanh và các từ gợi hình, bài thơ hấp dẫn người đọc. Đến khi chính tác giả tường thuật thì câu chuyện tình trở nên hấp dẫn hơn và câu chuyện dễ dàng trở nên câu chuyện tình sử.
Tác giả kể. Chàng yêu nàng
như tình yêu em gái. Lần đầu, khoảng năm 1940-1941, ông đến làm gia sư ở nhà
nàng, nàng mới lên tám tuổi. Hình ảnh cô bé đập vào mắt ông. Ông kể. “Vâng lời cha mẹ cô bé mới chịu lỏn lẻn bước
ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ.”Chào xong, cô bé bất ngờ mở to
đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã
ăn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.” Một thứ tình yêu rất ư
là tự nhiên và trong sáng mà Thượng Đế đã giành cho sinh linh yêu lẫn nhau và
yêu sinh vật non như yêu con gà con mắt đen láy hay yêu con cún con cũn cỡn!
Năm 22 tuổi, năm 1938, hữu Loan ra Hà Nội thi đậu tú tài
Pháp. Năm ông trở về Thanh Hóa, đến làm gia sư, cỡ tuổi chừng 26 tuổi. Ông cao
ráo đẹp trai và có học thức, thông minh(“Tôi
cao ráo, học giỏi, làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng
độc đáo”-Tự Thuật). Ông kể thuở nhỏ nhà nghèo, không được đi học. Ông chỉ
được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không. Ông kể: “Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người.” Tá
điền thời đó mà biết chữ để dạy cho con là ông tá điền đặc biệt lắm.
Hữu Loan(HL) được có cái duyên đưa đẩy đến làm sư gia ở nhà
bà tham Kỳ Đái Thị Ngọc, vợ của ông điền chủ Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông
Đông Dương. Bà có cữa hàng bán sách báo. Chàng thư sinh trẻ có tài HL thường la
cà đến đây và được bà tham “để mắt tới”.
Bà muốn gả em gái tên là Nga cho nhưng cô này chỉ muốn đi tu. Bà đổi ý là sau
này sẽ gả con gái Lê Đỗ Thị Ninh cho ông gia sư. Ông dạy học cho 3 người anh nàng tuổi có lẽ xấp xỉ bằng tuổi
của ông nên có thể coi họ như anh em trong nhà. Cứ thế mà tình cảm khách chủ cứ
lớn lên và được hun đúc sâu đậm thêm ra. Họ sống êm đềm tới ngày Toàn Quốc
Kháng Chiến. Cả ba người anh cùng chàng xếp bút nghiêng theo tiếng gọi của non sông
mà lên đường nhập ngũ. Nàng đứng ở đầu làng lặng lẽ nhìn theo. Chàng đi trên bờ
đê nhìn xuống. Nàng vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Bàn tay nhỏ xíu như chiếc
lá sim giơ lên vẫy vẫy. Nàng đứng đó. Chàng cứ đi đi và nhìn lại cho đến khi
không còn nhìn thấy nàng nữa như cảnh tiễn đưa thấy trong Chinh Phụ Ngâm ngày
trước: “Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông
sang/Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương/Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy
trùng/Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy/Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/Ngàn
dâu xanh ngắt một màu/Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Cho tới lúc này chàng “yêu nàng như tình yêu
em gái.” Sau này, trong
quân ngũ chàng mới biết từ lâu gia đình yêu chàng như chàng rể và nghiệm ra
nàng yêu chàng như tình nhân. Ở đại đoàn 304 của tướng Nguyễn Sơn có đồng đội
tên Quốc là em họ của Ninh. Quốc tiết lộ bà tham Kỳ cử Quốc giám sát Hữu Loan để
đề phòng chàng có tình ý với những phụ nữ khác.
Chàng nhớ lại khoảnh khắc ở bên nàng ở quê nhà thật là lãng mạng.
Có phải đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp nhìn chàng lúc nàng “lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ” là dấu hiệu biểu lộ rung cảm của
lòng nàng ở bên trong trước hình ảnh khôi ngô tuấn tú của anh gia sư dễ mến?
Đúng là “163.Người quốc sắc, kẻ thiên
tài/Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. Truyện Kiều.”
Hữu Loan
nhớ lại cảnh nàng hờn dỗi chàng. Có một lần, HL bình phẩm với anh của nàng nói
cô bé Ninh trông như bà cụ non, ít nói. Lời bình đến tai nàng, nàng hờn dỗi bỏ
ăn bỏ ngủ nằm liệt, không ai giỗ dành được. Bố mẹ phải cậy chàng gia sư đến dỗ
giành. Trưa hôm ấy nàng vùng dậy ăn một bát to cháo gà rồi bước ra khỏi phòng.
Có phải người con gái vương tơ tình thường hay có thái độ hờn dỗi người yêu không
đâu như thế: “Ngày xưa em anh hay hờn dỗi/Giận anh khi anh chưa kịp tới/Cho
anh nhiều lời, cho anh bồi hồi/Em cúi mặt làm ngơ. Hoa Biển của Trần Thiện
Thanh & Anh Thy.”
Chưa hết,
HL nhớ lại và kể tiếp. Ngay chiều hôm đó nàng nằng nặc đòi cho bằng được chàng
đưa nàng lên đồi thông mặc cho nhiều người khuyên mới bệnh dậy người còn yếu
lắm, không được ra ngoài. Mọi người chiều ý nàng. Chàng dẫn nàng đi chơi. Nàng
leo lên đồi như con sóc. Chàng đuổi theo bức hơi. Tới đỉnh, nàng ngồi xuống bảo
chàng “ngồi xuống bên em.”Ngồi như thế một lúc lâu. Chẳng ai nói gì. Bất
chợt nàng ngước nhìn chảng rồi nhìn xa xăm tít tận chân trời. Không biết lúc đó
lòng nàng nghĩ gì. Bất chợt nàng hỏi chàng có thích ăn sim không? Nàng chạy
xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Nàng trở lại với cái nón đầy ắp trái sim chín
mọng ngọt ngào. HL bảo trái sim có lạ gì đối với chàng thời thơ ấu nông dân
kham khổ. Sao bây giờ chàng có cảm giác trái sim ngọt ngào, ngon lạ lùng. Cảnh tiếp
theo còn ngọt ngào đẹp mắt khó quên hơn nữa. “Hai hàm răng em đỏ tím, đôi
môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì…tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em
cũng cười theo.”So với cảnh trong bài thơ “Đề Tích Sở Kiến Xứ”thì
tính lãng mạng nên thơ ở đây nào có thua: “Khứ niên kim nhật thử môn trung(năm ngoái, ngày này, trong cữa này)/Nhân diện đào hoa tương ánh hồng(mặt người và hoa đào tương phản màu hồng cho nhau).”Để rồi
năm sau trở lại thì người đã đi rồi. Nhớ nhung vô cùng: “Nhân diện bất tri
hà xứ khứ(không biết mặt người “đi đâu” mất
rồi)/Đào hoa y cựu tiếu đông phong(hoa đào vẫn cười gió đông như cũ).”Không
biết khi mất nàng Lê Đỗ Thị Ninh chàng Hữu Loan một khi trở lại quê nhà Nông
Cống, Thanh Hóa có ngâm hai câu thơ Đường Thi cuối này để tiếc nuối hình ảnh
đẹp ngày xưa hay không?
Chín năm
sau, cô gái mười bảy tuổi bẻ gãy sừng trâu, đẹp biết chừng nào. Chàng từ đơn vị
trở về Nông Cống. Nàng đón chàng ở đầu làng. Chàng hỏi nhiều nhưng em không
nói, chỉ bẽn lẽn lắc hay gật đầu. Hữu Loan tự thuật. “Em đã gần 17 tuổi, đã
là một cô gái xinh đẹp.”Chàng được biết hồi 15 tuổi có nhiều chàng trai đến
ngỏ lời cầu hôn. Nàng trốn tránh không nhận đám nào. Hữu Loan viết tiếp: “Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo cưới.” “Nàng cười
xinh xinh/Bên anh chồng độc đáo./Tôi ở đơn vị về/ Cưới nhau xong là đi.” Ba tháng sau thì nàng mất(từ tháng 2 đến tháng 5 Âm Lịch
năm 1948). Ra sông giặt quần áo. Với tay cố vớt chiếc áo trôi thì nàng trượt
chân bị dòng nước cuốn đi, chết đuối. “Gió
sớm thu về/Rờn rợn
nước sông”là do như vậy đó. “Gió sớm thu về”là cách viết tượng hình
mùa Thu buồn về với gió heo may báo hiệu cái gì ghê ghê như có thần chết lảng vảng. Sự thực tháng
5 ÂL hãy còn là mùa Hè. Tình tiết
và hình ảnh trử tình như thế khi mất đi làm sao không đứt ruột được.
Hữu Loan
kể tiếp. Càng kìm nén, nỗi đau càng dữ dội. May có đợt chỉnh huấn cho phép ai
có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế. Nỗi niêm của nhà thơ mới được
tuôn trào ra. Lúc đó ông đang đóng quân ở Nghệ An. Ông ngồi lặng đi ở đầu làng,
hai mắt đẫm nước, lấy giấy bút ra ghi chép. Những câu chữ mộc mạc cứ trào ra.
Về viếng mộ nàng ông dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài
thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho anh bạn ở Thanh Hóa. Rồi bài thơ được chép
truyền tay nhau. Không phải chỉ đến năm 1956-57 bài thơ mới được lan truyền từ
tờ báo Trăm Hoa Đua Nở nói trên.
Mất nàng
hầu như Hữu Loan không thiết tha đến cuộc sống nữa. HL viết “tôi thương tôi,
tôi nhớ hoa sim của tôi quá!” Sau cải
cách ruộng đất năm 1953-56, ông cảm thương một cô gái con của một địa chủ, cũng
ở cái tuổi 17. Cô gái bơ vơ vì cả nhà địa chủ bị xử tử hết. Hàng ngày cô đi mót
khoai ăn đỡ dói lòng, đêm về ngủ trong chiếc miếu hoang. Hữu Loan lấy cô làm vợ.
Câu chuyện thương tâm đáng
ghi thành câu chuyện tình sử tiêu biểu chuyện tình của thế hệ thanh niên Cách Mạng
Mùa Thu ở Miền Bắc VN. Vì thế mà cuối năm 2004, công ty Viek VTB bỏ ra 100 triệu
mua bản quyền bài thơ nói là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Nếu Tàu có
câu chuyện tình nổi tiếng Tình Sử Sông
Tương, câu chuyện tình Đề Tích
Sở Kiến Xứ thì Việt Nam sao không có chuyện tình sử Màu Tím Hoa Sim. Mời xem
các videoclip minh họa liên hệ: Tình Sử Sông Tương, Màu Tím Hoa Sim, Giấc Ngủ Cô Đơn, Đề Tích Sở Kiến Xứ.
Đầu mùa
Đông năm 2016. Ongtampy.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét