Từ vào thu đến nay
/Gió thu hiu hắt,/Sương thu lạnh/Trăng thu bạnh(bạch)/Khói thu xây thành./2-Lá thu rơi rụng đầu ghềnh/Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly./Nhạn về én lại bay đi,/Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm./Lá sen tàn tạ trong đầm,/Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa./Sắc đâu nhuộm ố quanh hà/Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương./3-Nào người cố lí tha phương,/Cảm thu ai có tư lường hỡi ai?/4-Nào những ai:/Bảy thước thân nam tử,/Bốn bể chí tang bồng/Đường mây chưa bổng cánh hồng,/Tiêu ma tuế nguyệt, ngại ngùng tu mi./5-Nào những ai:
Sinh trưởng nơi khuê các,/Khuya sớm phận nữ nhi,/Song the ngày tháng thoi đi,/Vương tơ ngắm nhện nhỡ thì thương hoa./6-Nào những ai:/Tha phương khách thổ/Hải giác thiên nha,/Ruột tằm héo, tóc sương pha,/Góc phần trạnh tưởng quê nhà đòi cơn./7-Nào những ai/Cù lao báo đức/Sinh dưỡng đền ơn/Kinh sương nghĩ nỗi mền đơn,/Giàu sang bất nghĩa mà hơn nghèo hèn!/8-Nào những ai:/Tóc xanh mây cuốn/Má đỏ hoa ghen/Làng chơi duyên đã hết duyên/Khúc sông trăng dãi con thuyền chơi vơi!/9-Nào những ai:/Dọc ngang trời rộng,/Vùng vẫy bể khơi/Đội trời đạp đất ở đời/Sa cơ thất thế quê người chiếc thân./10-Nào những ai/Kê vàng tỉnh mộng/Tóc bạc thương thân/Vèo trông lá rụng đầy sân,/Công danh phù thế có ngần ấy thôi./11-Thôi nghĩ cho:/Thu tự trời,/Cảm tự người./Người đời ai cảm ta không biết!/Ta cảm thay ai viết mấy lời./12-Thôi thời:/Cùng thu tạm biệt/Thu hãy tạm lui,/Chỉ để khách đa tình đa cảm,/Một mình thay cảm những ai ai!
Bình luận:
Tự nhiên bài thơ gây xúc cảm trong lòng
tôi. Do đâu nhỉ? Thử gạn từng câu từng
chữ, từng đoạn để tìm cái gì làm rung cảm. Trước nhất có lẽ bài thơ chứa nhiều
hình ảnh gây ấn tượng như văn tả cảnh, tả người trong các tuyệt tác khác trong
kho tàng văn học, âm nhạc VN. Tản Đà đề cập tới cái gì thì y như vẽ ra một bức
tranh làm lòng tôi rung động.
Tác gia mô
tả mùa Thu: Đầu tiên tác giả vẽ ra bức tranh
đặc thù mùa Thu
có gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, trăng thu bạch(bạc lạc) và khói thu xây
thành. Đặng Thế Phong và Nguyễn Du cũng tả mùa Thu tương tự: “Đêm nay Thu sang cùng heo may/Đêm nay sương lam
mờ chân mây-Con Thuyền Không Bến”; “1603.Long lanh đáy nước in
trời,/Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng-Kiều, đoạn Hoạn Thư tiễn Thúc Sinh lai quê.” Mùa Thu là mùa chuyển tiếp sang nửa
chu kỳ thứ 2 trong chu kỳ vận hành biến hóa của đất trời tuần hoàn trong một
năm. Cái gì tươi/sáng(Xuân và Hè) mai một dần rồi mất đi nhường chỗ cho cái gì âm
u/lạnh lẽo của Thu-Đông tìm đến. Vì thế nên cảnh thu thì buồn. “Non phơi bóng vàng” là lá rừng không còn
xanh nữa, đổi sang màu vàng. Mùa Thu là mùa của lá vàng, của chia ly. ”Lá thu rơi rụng đầu ghềnh/Sông thu đưa là
bao ngành biệt ly.” Lá trên cành xanh tốt cả mùa Xuân lẫn Hè, bây giờ cơ trời
vận chuyển tới đây, mở ra một giai đoạn mới, cũng phải lìa cành, biệt ly. Ly biệt
còn tiếp tục diễn biến sâu đậm không biết đi về đâu: “sông thu đưa lá, bao ngành biệt ly”. Ảm đạm lạnh lẽo của Thu-Đông
không biết kéo dài đến đâu. Lá thu vừa lìa cành ở đầu nguồn(ghềnh) thì không biết
sông thu sẽ đưa lá đi về đâu nữa. Hình ảnh ấy giống hình ảnh con thuyền vô định
xuôi dòng ở ca khúc “Con Thuyền Không bến”: “Biết
đâu bờ bến/Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu…/Trên sông bao la/Thuyền mơ bến nơi
đâu.” Biến dịch tiếp tục không ngừng, Tản Đà vẽ tiếp bức tranh: “Nhạn về, én lại bay đi.” Mùa Thu(chim
nhạn) về thì mùa Xuân(chim én) phải bay đi thôi. Nguyễn Du cũng vẽ bức tranh buồn
mùa Hè chuyển sang mùa Thu như thế: “565.Buồn
trông phong cảnh quê người,/Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa- Cảnh Kim Trọng chia tay Kiều để về Liêu
Dương thọ tang.” Kim-Kiều gặp nhau cuối mùa Xuân. Đến đây khoảng đầu mùa Hè thì
chia tay. Hành trình chia ly tiên liệu tới mùa Thu: “2741.Từ ngày muôn dăm phù tang/Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.” Nửa
năm nữa là đến mùa Thu.
Những
hình ảnh trên đây như không đủ diễn tả hết cái thê lương buồn bực của mùa Thu
nên tác giả bồi thêm 2 câu đầy âm thanh não nuột: “Đêm thì vượn hót/ Ngày thì ve ngâm.” Hót và ngâm than thở cho chia
ly chiếm hết 24/24 giờ, ngày và đêm, thì còn đâu để chỗ cho tiếng đàn đoàn tụ
như ở cuối Truyện Kiều: “3199.Khúc đâu đầm
ấm dương hòa,/Ấý là hồ điệp hay là Trang sinh/Khúc đâu êm ái xuân tình/Ấy hồn
Thục Đế hay mình đỗ quyên?/Trong sao châu nhỏ duềnh quyên/Ấm sao hạt ngọc Lam
điền mới đông-Khúc nhạc đoàn tụ Kiều gảy cho Kim Trọng nghe, bõ những ngày
ly biệt trước đây suốt 24/24 giờ vượn hót ve ngâm. Vượn hót thì mùa nào cũng hót
còn ve ngâm thì chỉ có ngâm vào mùa Hè. Nhưng nhờ 2 câu kế tiếp điều chỉnh để biết ở đây cũng còn có tiếng ve ngâm. Đây
là thời điểm cuối Hè đầu Thu(“Từ vào Thu
đến nay”): “Lá sen tàn tạ trong đầm./Nặng
mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.” Lá sen tàn tạ là hết mùa Hè. Giọt sương đọng
trên lá trông như giọt nước mắt thương tiếc một mùa hoa đã qua.
Và sau cùng, để chấm dứt mô tả một mùa Thu
buồn, tác giả phủ sắc màu vàng ố như màu của tấm liệm phủ lên thây ma một mùa
Xuân từng có “một thời” rực rỡ vui tươi đầy sức sống và hi vọng: “Sắc đâu nhuộm ố quan hà/Cỏ vàng cây đỏ bóng
tà tà dương.” Quan là cữa ải, nơi biên cương. Hà là sông núi. Quan hà là
vùng sâu vùng xa nơi biên cương vắng vẻ nên thê lương ảm đạm. Dưới ánh mặt trời
chiều tà toàn cảnh phủ một màu ảm đạm. Cỏ thì vàng. Cây thì đỏ. Không gian sắp
đi vào cõi chết tăm tối một khi tắt nắng. Rồi cái gì lại xảy ra? Mùa Thu chết.
Mùa đông cũng chết. Nhiều sinh vật sẽ đi vào giấc ngủ đông(miên trạng), sang
Xuân thì mới chỗi dậy, tái sinh. Đó là biến dịch theo lẽ vô thường của tạo hóa.
Cảm cho cái lẽ đó, tác giả đặt một loạt các câu hỏi tiếp theo và nghĩ rằng lẽ
vô thường không chừa một ai, một giới nào.
Vấn
nhân: Hỏi người là phần
triết lý của bài thơ nói lên cái lẽ vô thường biến dịch Xuân Hạ Thu Đông của tạo
hóa. “Nào người cố
lí tha phương,/Cảm thu ai có tư lường hỡi ai.” Lý là xã(đứng đầu có ông lý trưởng). Tha
phương là đất khách. Tác giả hỏi từ người sống cố định ở quê nhà(cố lí) đến người
ở phương xa cầu thực(tha phương) có ai cảm
mùa Thu không? Có sự suy nghĩ về sự vô thường của Tạo Hóa không? Đến kẻ tráng
sĩ đầy chí khí hoài bảo liệu có chùng bước với năm tháng vô tích sự trôi
qua(tiêu ma tuế nguyệt) hay là không? Tác giả lại đặt câu hỏi cho phái yếu hơn,
giới nữ nhi. Liệu năm tháng cứ trôi mà chưa được tơ hồng xe duyên có làm nàng
buồn hông? Câu hỏi lại đến những ai tha phương lưu lạc kiếm cái miếng ăn vất vả
Thu về có chạnh lòng nhớ quê nhà, nhớ
cha mẹ hay là không? Lại nghĩ tới kẻ công danh thành đạt giàu có liệu có bằng lòng
không? Họ có hơn người người nghèo hèn sống có tình có nghĩa hay là không? Câu
hỏi gởi đến gái làng chơi. Sắc nước hương trời một thời hưởng thụ. Rồi thì cũng
qua. Duyên rồi cũng hết. Đoạn đời còn lại tẻ nhạt như khúc sông này: “khúc sông trăng dãi con thuyền chơi vơi.”
Vấn nhân gởi đến bậc anh hùng xuất thế. Đội trời đạp đất ở đời cũng có lúc sa
cơ thất thế. Công danh có thực thì cũng không thoát khỏi luật Vô Thường lên voi
xuống chó thì có nghĩa lý gì kẻ nằm mơ được công danh. Dù thực sự có một đời hưởng
thụ cũng ngắn như giấc Nam Kha mà thôi: “Vèo
trông lá rụng đầy sân/Công danh phù thế có ngần ấy thôi.”
Tác
giả trả lời: Sau một loạt hỏi người thì tác giả tự trả
lời. Chuyện Xuân, Hạ, Thu, Đông là lẽ thường trong sự biến dịch vô thường của tạo
hóa. Hoa nở mùa Xuân và tàn khi Thu đến. Chuyện của Trời. Vui buồn là cảm nhận của
người. Thu đến có kẻ cảm thấy buồn có kẻ không cảm thấy chi cả. Không chắc các
giới kể trên đều có cùng cảm nhận như tác giả. Tác giả nhắn gửi đến Thu: “Cùng Thu tạm biệt, Thu hãy tạm lui.” Dù
có ai vì có tính đa tình đa cảm cảm Thu hay không thì cũng được. Tác giả nhận cảm
Thu thay cho những ai ai. Xem video minh họa ở Trang Ngâm Thơ 6.
Thu Đông 2016
CuHhBa.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét