![]() | |
| Chành ra ba goc da còn thiếu. |
Thơ của Hồ Xuân Hương thì tục
hay không tục. Có nhiều tranh cãi. Tác giả được hậu thế kính trọng và được liệt vào hàng danh nhân lịch sử.
Thơ của bà được liệt vào hàng kiệt tác
dù trong đó hầu như bài nào cũng chứa đựng hình ảnh cái ấy, chuyện ấy của đàn
ông đàn bà, tức đề cập tới sex. Ngày nay có đến 213 bài nói là của Xuân Hương thuộc
loại thơ có 2 nghĩa mô tả một bức tranh thanh, ẩn bên dưới là bức tranh tục. Khó
biết bài nào thực sự là của Hồ Xuân Hương(HXH). Bản chữ Nôm có phần chắc là của
nữ sĩ.
Người nghệ sĩ thì có tâm hồn xuất chúng biểu
hiện bỡi sự phong phú về tư tưởng và có cái nhìn sự và vật tinh tế, có độ thẩm
mỹ cao. Những thứ ấy để lộ trong thơ văn của họ. Dựa vào tính chất phong phú về
hình tượng, âm thanh, tinh tế và giàu tư tưởng của bài thơ để nhận ra bản nào
có khả năng tác giả là bác học(HXH), bản nào không phải(giới người thường). Một
nhà nghiên cứu viết: “bài thơ dâm tục mà
không có tính tư tưởng cao hoặc nghệ thuật điêu luyện thì đích thị là những
“thai hoang” dân gian lẫn vào.”
Nghiên cứu bài thơ “Cái Quạt.” Trên mạng không tìm thấy bản chữ Nôm. PGS TS Kiều Thu
Hoạch dẫn nguồn “Quốc Văn Tùng Ký” nói bản in bài thơ “Cái Quạt” chỉ có 4 câu: “Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa/Duyên em dính dáng tự bao giờ/Chành
ra ba góc da còn thiếu/Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.” Tác giả này viết
nói các bản quốc ngữ sau này thêm 4 câu nữa:
“Mát mặt anh hùng khi tắt gió/Che đầu quân tử lúc sa mưa/Nâng niu ướm hỏi người
trong trướng/Phì phạch trong lòng đã sướng chưa.” Một dị bản có nhan đề là
“Cái Quạt 2” nói là thơ của HXH nhưng
không có khảo cứu nào nói rõ xuất xứ: “Mười
bẩy hay mười tám đây/Cho ta yêu dấu chẳng rời tay/Mỏng dầy chừng ấy chành ba
góc/Rộng hẹp đường nào cắm một cây/Càng nóng bao nhiêu càng muốn mát/Yêu đêm
chưa phỉ lại yêu ngày/Hồng hồng má phấn duyên vì cậy/Chúa dấu vua yêu một cái nầy.”
Lấy yếu tố tư tưởng và độ thẩm
mỹ để đánh giá thì thấy 3 bản có giá trị văn chương cao thấp khác nhau. Bản đầu
có lẽ tác giả là HXH. Hai bản sau có phải là “thai hoang dân gian lẫn vào” như một nhà nghiên cứu trên đây phát
biểu hay là không?
Bản thứ nhất:
“Một lỗ xâu xâu
mấy cũng vừa/Duyên em dính dáng tự bao giờ/Chành ra ba góc da còn thiếu/Khép lại
đôi bên thịt vẫn thừa.” “Một lỗ
xâu xâu” là lỗ của cái nan quạt muốn xâu mấy cái nan lại cũng được. “Duyên em dính dáng tự bao giờ” là cái
duyên để người ta thấy cái quạt giấy trông giống cái bướm của phụ nữ có từ đó,
từ cái động tác “xâu xâu” để các nan tạo
thành cái quạt có 3 góc hoạt động trông giống cái bướm. “Em” là cái quạt. Trông cái quạt giấy thì nghĩ ngay tới cái bướm. “Chành ra ba góc da còn thiếu.” Đến đây mới
thấy tác giả để lộ tác giả đang mô tả cái bướm qua hình ảnh cái quạt: Chành ra
để thấy hình ảnh tổng thể cái quạt có 3 góc trông giống hình ảnh tổng thể của
cái bướm cũng có 3 góc. Cái bướm hiện hình rõ dần ra một khi tác giả xử dụng cụm
từ tiếp theo “da còn thiếu.” Các nan
quạt tách ra thì để lộ chỗ trống giữa các nan nằm kế cận nhau. Giấy bồi không
che lấp hết các nan, da(giấy bồi) còn thiếu. Nếu tả cái quạt thì xử dụng cụm từ
“giấy còn thiếu” chứ sao xử dụng danh
từ “da”! Đến câu kết “khép lại đôi bên thịt
vẫn thừa.” Các nan quạt xấp lại thì rõ ràng giấy bồi ở giữa các nan quạt
lòi ra trông như thịt dư thừa như thịt thừa lòi ra ở cái bướm mỗi khi hai chân
khép lại. Hình ảnh cái bướm hiện ra mồn một mặc dầu tựa đề mô tả là “Cái Quạt.” Rõ ràng tác giả đang mô tả
cái bướm. Đọc giả quên mất tác giả đã từng nói là “tôi” đang mô tả cái quạt. Hai
hình ảnh cái cái quạt và cái bướm cùng lúc hiện lên như hai bức tranh “lung linh đáy nước in trời”, hai bức
nhưng mà là một và một mà là hai. Bài mô tả cái quạt đột nhiên lẫn lộn mô tả
cái bướm. Cái cọ và màu sắc không giúp họa sĩ phát họa hai bức tranh khác hoắc
trên cùng 1 nền. Nghệ thuật thứ 7 ngày nay cũng không thể thay thế chữ nghĩa để
phát họa bức tranh cái bướm lồng trong bức tranh cái quạt. Thế mới hay tài dựng
thơ sex quán quân của HXH có một không hai. Đến đây theo tôi thì nữ sĩ đã đạt được mục
đích dựng thơ sex rồi. Dựng được bức tranh nói về cái ấy, chuyện ấy qua sự và vật
hết sức bình thường ở quanh ta. Hình ảnh sex(cái ấy, chuyện ấy) được che dấu. Đó
là thuật làm thơ độc đáo của HXH. Đọc đoạn mô tả cái quạt giấy thì đọc giả nghĩ
ngay tới cái bướm là được rồi. Bài thơ tứ tuyệt chấm hết. Phần sau chắc ai đó thêm
thắt vào để thành bài thơ bát cú.
Bản thứ 2 là bản
chữ Quốc Ngữ. Bài thơ bát cú gồm 4 câu trên làm câu “đề” và câu “thực” và thêm
2 câu “luận” và “kết” nữa là: “Mát
mặt anh hùng khi nắng(tắt) gió/Che đầu quân tử lúc sa mưa/Nâng niu ướm hỏi người
trong trướng/Phì phạch trong lòng đã sướng chưa.”
Thời HXH sex là
chuyện phòng the, chuyện kín đáo. Cái ấy, chuyện ấy nói ra ở chỗ đông người đã
là chuyện cấm kỵ, chuyện tục tiễu dâm ô huốn hồ làm thơ để mà phô bày trên văn
đàn chữ nghĩa. Thơ nói cái ấy, chuyện ấy là dâm thơ, thô tục.
Thi sĩ HXH đã nổi
danh. Người ta không muốn nghĩ thơ của bà là thứ dâm thư thô tục. Người ta cho
nó có con đường sống để tồn tại trong thế nhân. Người ta đưa triết lý vào bài
thơ để nói sex không phải là động cơ làm thơ của nữ sĩ. HXH đưa sex vào bài thơ
là để đả kích chế độ trọng nam khinh nữ, kìm kẹp nữ giới trong gọng kiềm “Tam
Tòng”, giết chết tự do của nữ giới. 4 câu luận và kết được đưa vào để nữ giới
chế giễu người quân tử. “Cái đó” làm “mát mặt anh hùng”, “che đầu
quân tử”, đem hạnh phúc đến cho giới của họ. Giới này khinh khi “cái” của
giới của chúng tôi là tại làm sao? Chỉ có cái thế “đi đái” khác biệt giữa
phái nam và nữ mà các ông cũng tranh giành.
Nữ giới ti tiện thấp hèn bỡi vì “đái không khỏi đầu ngọn cỏ” còn
nam giới các ông thì đứng đái trông rất anh hùng, đường đường là một đấng nam
nhi! Thế mà cái bướm của giới chúng tôi lại được “chúa dấu vua yêu” mới
lạ chứ!(xem dị bản thứ 3).
Dị bản thứ 3 chất
văn chương thua 2 bản nói trên. “Thai
hoang dân gian lẫn vào” chăng? Ta phân tích. Trong bài “Dày Dày Sẵn Đúc Một
Tòa Thiên Nhiên” với tựa đề phụ “Sex Xưa-Sex Nay” tôi có đề cập tới định nghĩa
sex ở tự điển Anh-Việt hay Pháp-Việt. Sex ngoài ý nghĩa chỉ phái tính, thực hiện
sinh hoạt phái tính còn có ý nghĩa là “làm
cho thêm thú vị. ” Sách cho ví dụ: “sex up a story with picturesque details. ” Nghĩa là làm cho câu chuyện thêm thú vị bằng 1 số chi
tiết đầy màu sắc. Chẳng phải
HXH đưa hình ảnh giới tính cái bướm của giới của bà vào bức tranh mô tả cái quạt
cho bài thơ trở nên sống động, giàu hình ảnh hơn sao? Nữ sĩ dùng thuật xử dụng
từ có 2 nghĩa làm bài thơ trở nên sống động thêm ra, kích thích đọc giả động
não, tưởng tượng. Bài thơ có giá trị văn chương. Nếu đưa sex vào mà không xử dụng
mỹ từ để mô tả, thì bản văn trở thành tục, mô tả cái ấy và chuyện ấy một cách
trần trụi thô thiển, chỉ gợi dục mà thôi.
Trở lại dị bản 3. Dị bản này mô tả thô hơn, để lộ tính
dâm tục nhiều hơn. Vào đề tác giả gợi hơn 1 tá hình cô gái ở tuổi dậy thì. Mười
bảy mười tám cái nan quạt là hình ảnh 17, 18 cô gái tơ. “Yêu dấu chẳng rời tay” nghe rất khiêu dâm. Bản 1 có câu “Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa” chỉ cách
xâu các nan để thành cái quạt. Cụm “xâu
xâu” thay bằng cụm “sâu sâu” thì
câu thơ trở nên thô tục ngay vì gợi hình ảnh tính giao. Cái lỗ sâu mấy thì đút
cũng vừa. Trong dị bản thứ 3 câu “Mỏng dầy
chừng ấy chành ba góc” gợi lên hình ảnh cái bướm. “Rộng hẹp
đường nào cắm một cây” gợi hình ảnh tính giao. Câu này lại đặt kề câu tả
cái bướm nên tính dục được khơi dậy ngay, không cần trí tưởng tượng, động não.
Những cụm từ “mỏng dầy”, “chành ba góc”, “rộng hẹp”, “cắm một cây”
bổ túc cho nhau làm tăng tính gợi dục của 2 câu thơ. Hai câu “Càng nóng
bao nhiêu càng muốn mát/Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày” cũng có tính gợi dục cao. Tới 2 câu kết thì mới thấy
đưa triết lý vào: cớ sao trọng nam khinh nữ. Cả chúa, vua cũng yêu “cái” của nữ
phái kia mà!
Hồ Xuân Hương thi vị
hóa sex. Xem videoclip minh họa. Ở bài thơ “Cái Giếng” ta thấy nữ sĩ đưa phái tính của bà và
tính giao lên hàng công cụ, một thành phần của mỹ thuật, của văn chương. Sex
không còn ở thế giới trần tục trần trụi thô tục nữa: “Ngõ ngay thăm
thẳm tới nhà ông /Giếng tót thanh thơi rất lạ lùng /Cầu trắng phau phau hai ván
ghép /Nước trong leo lẻo một dòng thông /Cỏ gà lún phún leo quanh mép /Cá diếc
le te lội giữa dòng/Giếng ấy thanh tân ai đã biết /Đố ai dám thả nạ rồng rồng.”
“Tót” là từ cổ, có nhĩa là tột bực. “thanh
thơi” là rất trong trẻo. “Nạ” là tiếng cổ chỉ mẹ. “Rồng rồng” là cá quả con(cá quả, địa phương Phú Yên gọi là
cá tràu, giống như cá lóc ở Miền Nam nhưng nhỏ chỉ bằng cán của cái câu liêm,
có hình dáng giống dương vật. Cá quả là biểu tượng chỉ cái của đàn ông. Cá diếc
là biểu tượng chỉ cái bướm) .
Phân tích. Đây là bài thơ tả cái giếng chẳng có gì lạ.
Tác giả đưa sex vào đây để nó trở nên một tuyệt tác, mô tả cái đẹp phái tính của
bà và cái đẹp của tính giao. Nhắc lại thơ của Xuân Hương có cái biểu tượng giới
tính gốc và biểu tượng giới tính phát sinh. Biểu tượng gốc đọc lên thì biết
ngay nó chỉ cái ấy, chuyện ấy. Ví dụ “cữa
son đỏ loét tùm hum nóc” biết ngay là cái bướm. Còn “lắt léo cành thông cơn gió thốc/Đầm đìa lá liễu giọt sương rơi” thì
đọc toàn bài ta mới nhận ra tác giả mô tả tính giao. Cành thông với đầy đủ “lông lá” phất phơ, đu đưa trong gió là
biểu tượng giới tính phát sinh chỉ cái của đàn ông và lá liễu thì ướt át đầy giọt
sương là biểu tượng cái bướm đang sẵn sàng. Cả 2 ở trong tình trạng chuẩn bị thực
hiện tính giao.
Những cụm từ chỉ phái tính nữ: trong trẻo(thanh thơi), “trắng phau phau”, “trong leo
lẻo”, “leo quanh mép”, “cá diếc”, “thanh tân.” Chỉ có mỗi một cụm từ chỉ giới tính nam là “nạ rồng rồng.” Chẳng phải Nguyễn Du cũng
dùng thuật ngữ “trong như ngọc, trắng như
ngà” để chỉ giới tính nữ? Cụm từ chỉ sinh thực khí nữ: “giếng tót thanh thơi” là giếng nước
trong thấy mặt chỉ cái bướm trắng trong; “Cầu
trắng phau phau hai ván ghép” chỉ 2 môi lớn của cái bướm; “Cá diếc le te lội giữa dòng” chỉ cái môi
nhỏ và âm hạch; “Cá diếc” còn là hình ảnh cái mà Xuân Hương gọi là mảnh “thịt thừa” trong bài “Cái Quạt”: “khép lại đôi
bên thịt vẫn thừa”; “Nước
trong leo lẻo một dòng thông” chỉ khe của cái bướm; “Cỏ gà lún phún leo quanh mép” chỉ ngoại
vi cái bướm đã trưởng thành giới tính bậc 2, tức đang trải qua tuổi dậy thì; “Cá diếc le te lội giữa dòng”: cá diết
nõn nà, trắng trẻo chỉ hình ảnh cái bướm
thanh tân ở thế động, nhởn nhơ, trêu ghẹo. Hình ảnh cái bướm đẹp tới độ tinh
khiết làm cánh đàn ông không dám đụng tới: “Giếng
ấy thanh tân ai đã biết /Đố ai dám thả nạ rồng rồng.” Khi đã biết “thanh
tân” thì thấy cái bướm đẹp đến độ
đáng nâng niu trân trọng, không ai dám thả mẹ của con rồng rồng, tức con cá
tràu hay thô tục hơn là cái củ từ xấu xí của cánh đàn ông vào đó được. Hình ảnh
thả con cá lóc
vào ao là hình ảnh thực hiện tính giao. Bài văn mô tả cái bướm “trinh nguyên” và tả thực hiện tính giao
như thế sao không gọi là một tác phẩm tuyệt bút được. Mô tả sex hay đến nỗi độc
giả quên thưởng thức bức tranh đẹp đường dẫn đến nhà ông mà chỉ chú ý đến mô tả
cái bướm còn trinh.
Hình ảnh con cá lóc dẫn đàn con rồng rồng bơi trong ao
còn gợi tình mẫu tử của phái tính này nữa. Thật đường dẫn đến nhà Ông quá đẹp quá thi vị nhưng nhà ông hãy còn quá cách
xa cái giếng đẹp: “Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông.” Thẳng cánh chim bay mà hãy còn thấy thăm thẳm! Còn lâu
phái các ông mới vói tới “cái” của phái của bà.
Trung Thu 2015. CuHhBa







0 nhận xét:
Đăng nhận xét