![]() | ||
| Cọc nhỏ lên rồi, lỗ bỏ không! |
Là tên một bài thơ
được nói là của Hồ Xuân Hương. Trải qua 235 năm từ năm Tây Sơn Quang Trung ra BắcHà(1789, thơ của nữ sĩ họ Hồ đi vào lòng dân tộc nên có đến 213 bài thơ đang lưu hành không biết bài nào là của Xuân hương bài nào là của tác giả khác có văn phong thơ của Xuân hương. Bản chữ Quốc Ngữ thì không chắc là của Xuân Hương. Bản chữ Nôm thì có bản như bài "Đánh Đu" thì giống bài "Cây Đánh Đu ở trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập(HĐQÂTT)". Bài "Bà Đanh" vốn được ghi ở văn bản Nôm "Sự Tích Ông Trạng Quỳnh và trong HĐQÂTT; bài "Đồng Tiền Hoẻn" vốn là thơ của Yên Đỗ. Bài "Đánh Cờ Người", "Tát Nước", "Thân Phận người Đàn Bà" được cho là không phải của HXH(tác giả Nguyên Khôi). Nguyên Khôi(NK) giới thiệu GS TS Kiều Thu Hoạch nghiên cứu công bố cuốn sách "Thơ Nôm Hồ Xuân hương" gồm có 84 bài thơ, câu đối. NK viết "Cái gì của Xuân Hương trả lại cho Xuân hương"
Tính sex của bài thơ “Đánh Đu.” Bài thơ “Cây
Đánh Đu” vốn đã có trong tập Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập: “Bốn
cột lang nha ngắm để trồng/Ả thì đánh
cái ả còn ngong/Tế hậu thổ khom khom cật,/Vái hoàng thiên ngửa
ngửa lòng/Tám bức quần hồng bay phất phới,/Hai hàng châu ngọc
đứng song song/Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy/Nhổ cột đem về để
lỗ không”. Bài “Đánh Đu” nói là của Hồ Xuân Hương, cũng mô tả
chuyện đánh đu và sự đánh đu. Bài “Cây Đánh Đu” ít gợi nghĩa thứ 2, nghĩa sex,
hơn bài “Đánh Đu”. Nếu nghi tác giả bài “Đánh Đu” không phải Xuân Hương thì
người làm ra bài này tài tình và có tư tưởng không khác XH, sáng tác ra được bài
thơ có 2 nghĩa. Nghĩa sex thì rất mạnh bạo và rất phong phú.
Đọc bài “Cây Đánh Đu” ta không thấy gì gợi ra cảnh
sex. Ngay cái đề “Cây Đánh Đu” cũng không thấy phản phất “mùi vị” sex.
Trong khi cái đề “Đánh Đu” thì thấy ngay nó gợi ra hành động sex rồi. Nếu không
cẩn thận, ta lỡ gõ dấu nặng(.) thì rõ ràng ta gõ động từ tính giao(đ…u.. và
nặng…). Thứ đến tính chất không phải là bài thơ nói về sex là vì tính không
phân biệt giới tính nam nữ trong bài thơ “Cây Đánh Đu”, tức đề cập tới
sex của nhân vật tham gia. Nhân vật đồng tính là nữ giới. “Ả thì đánh cái, ả
còn ngong.” Cả 2 tham gia cuộc chơi đều là “ả” cả. “Tế hậu thổ khom khom
cật,/Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng.” “Cật” ở đây là trái cật, quả
thận. Hình ảnh cái lưng. “khom khom cật” là khom khom lưng. Chẳng có gì
là sex cả. Ở đây có 2 mụ đàn bà có hành động đang làm lễ ở chùa thờ phật, ở
miếu thờ thần. Họ khấn vái trời đất phù hộ, cầu tài, cầu lộc nhân dịp đầu Xuân
chẳng có gì là hình ảnh sex cả. Chắc chắn là có 2 ả đàn bà mặc áo tứ thân đang đánh
đu vì có tới 8 bức quần hồng.
Nhiều sự khảo cứu xác định nghĩa từ “quần” thời xưa. Quần là phần che bên dưới
của cơ thể, từ thắt lưng trở xuống như cái xiêm, cái váy, cái xống. Như vậy một
phụ nữ mặc áo tứ thân có 4 bức quần hồng.
Hai thân trước của áo thắt vạt nút lại ở thắt lưng và để buông lơi bay tự do ở
bên dưới cơ thể. Đó là 2 bức. Cái váy hay cái xống là bức thứ 3. Bức thứ 4 là 2
thân sau của áo được may dính thành 1 tấm. Tứ thân là 2 thân trước và 2 thân
sau tạo 3 bức quần hồng, cộng với cái váy thành 4 bức. Đến khi đọc câu “Hai hàng
châu
ngọc đứng song song” thì ta cũng
không khám phá ra hình ảnh sex. Cây đánh đu ngày xưa thiết kế gồm 4 cái cột để
gác qua dó 1 xà ngang. Cái để đu thì không treo vào xà ngang bằng dây thừng hay
dây cab, dây xích sắt mà treo bỡi 2 ống tre. Đầu ống ăn khớp hệ thống đoạn ống
tre ngắn cài với nhau bỡi chốt ngang làm thành hệ thống trục nằm ngang để các
ống tre có thể quay tự do chung quanh các trục nằm ngang ấy. Trên ống tre người
ta có thể treo vật trang trí hay quà có giá trị để thưởng. ‘Hai hàng châu ngọc”
là 2 hàng đồ
vật trang trí trên 2 ống tre đó. Ở tranh Đông Hồ thì thấy gác qua xà ngang còn có
thêm 1 cây dọc treo lủng lẳng đồ vật.
Đầu bên kia cây gắn vào 1 cái cột bự. Tất cả không có chi là hình ảnh sex cả.
Trở lại bài “Đánh Đu”
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng/Người
thì lên đánh, kẻ ngồi trông/Trai đu gối hạc khom khom cật,/Gái
uốn lưng ong ngửa ngửa lòng/Bốn mảnh
quần hồng bay phất phới/Hai hàng chân
ngọc duỗi song song/Chơi xuân
ai biết xuân chăng tá? /Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!” Bài thơ đầy
hình ảnh cơ quan sinh thực khí nam nữ(sex) và hành động thực hiện chức năng của
nó là tính giao ở cả 2 cung bậc tục và thanh(xem định nghĩa sex ở bài viết địa
chỉ
http://ongtam2013.blogspot.com/2015/09/day-day-san-uc-mot-toa-thien-nhien-sex.html#more). Ví dụ như cũng mô tả hành động giao phối nhưng ở bài “Đánh Cờ Người” thì
thô hơn ở bài “Đèo Ba Dội” cho nên người
ta nghi bài “Đánh Cờ Người” không phải thơ của Xuân Hương: “Chàng lừa thiếp
đương khi bất ý,/Đem tốt đầu dú dí vô cung/Thiếp
đang mắc nước xe lồng/Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu-Đánh Cờ Người.” Đọc lên thấy ngay là hành
động giao phối. Ở “Đèo Ba Dội” phải tinh tế và có thời gian tưởng tượng mới
thấy cành thông là biểu tượng sinh thực khí nam và lá liễu là biểu tượng sinh
thực khí nữ trừ dân biết chơi bài chòi và bài tới. Quân bài lá liễu được gọi
thẳng thừng là lá “l..ô…n…huyền(ồ)”, hay bạch quê. “Lắt léo cành thông cơn
gió thốc/Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.” Và phải tư tưởng hơn nữa mới
nhận ra 2 câu đó mô tả sự giao hoan, ân ái(cung bậc cao hơn giao cấu). Cành
thông với đầy đủ lông lá lắc lư trong gió giống sinh thực khí nam ở thế động như bướm đang vườn hoa(lá liễu). Lá
liễu cũng ở thế động là đã đầm đìa hạt sương gieo, sẵn sàng dâng hiến. Thật khó
giảng văn(bình văn) thơ của Hồ Xuân Hương cho học sinh trung học. Làm sao giảng
cái nghĩa thứ 2 của bài thơ cho sắp nhỏ nó hiểu mà không ngượng mồm? Làm sao
tránh ngôn ngữ bài giảng trở thành ngôn ngữ dâm thư? Thơ của Hồ Xuân Hương là
loại thơ dành để giảng cho giới sinh viên đã trưởng thành tính dục. Biết triết
lý và trách nhiệm của sự yêu đương.
Trở lại đầu bài
“Đánh Đu” ta thấy ngay từ đầu thấp thoáng từ ngữ nói về sex. Tên gọi bài thơ là “Đánh Đu”. Bài thơ trở nên hay bỡi yếu
tố sex được đưa vào để bài thơ có 2 nghĩa, có 2 bức tranh và từ dùng cho nó
phải có 2 nghĩa. Bài thơ trở nên lung linh huyền ảo do trí tưởng tượng về 2 bức
tranh tục mà thanh, thanh mà tục. Độc giả phải động não để thưởng thức 2 bức
tranh thanh tục trái ngược nhau trong cùng một bài thơ. Tôi nói “thấp thoáng”
là vì mãi tới 2 câu 3 và 4 “Trai
đu gối hạc khom khom cật,/Gái
uốn lưng ong ngửa ngửa lòng” ta mới thấy yếu
tố giới tính(sex) được đưa vào bắt ta phải kiểm tra lại các từ đã dùng xem có 2
nghĩa hay là không để thưởng thức bức tranh thứ 2, bức tranh sex. Trước đó là
câu “Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông” không để lộ giới tính. Cặp tham
gia cuộc chơi đồng tính hay khác tính? Đôi nữ, đôi nam hay đôi nam nữ? Đọc tới
câu “Bốn
mảnh quần hồng bay phất phới” ta mới hay
cặp thực hiện đánh đu là một cặp nam/nữ. Chỉ có 1 nữ nên chỉ có 4 mảnh quần
hồng. Từ đây ta mới trở lại từ đầu để xem bức tranh thứ 2 là bức tranh sex.
Bài thơ nhan để
là “Đánh Đu.” Rõ ràng đây là bức tranh thực hiện tính giao. Có phải cặp
đôi nam nữ đang làm tình, đánh “đ…u… nặng(.)” chứ còn gọi là gì?
Tiếp theo là câu mở đầu “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng.” Vần “éo”
láy đi láy lại nghe eo éo như tiếng mèo kêu mùa động đực và cùng vần với động
từ tính giao có phụ âm là “đ” của con người. Trước đó là cụm từ “bốn cột…
trồng”(người Bắc đọc “trồng” thành “chồng”). Bốn cột chồng lên nhau là
biểu tượng tính giao. Ngày nay ai cũng
biết hình ảnh 2 bàn chân ngửa nằm giữa 2 bàn chân úp là biểu tượng giao họp. Một
điều lạ là trước đây hơn 200 năm mà Xuân Hương đã nhận ra biểu tượng này.
PTS GS nói
trong thơ sex của Xuân Hương có những biểu tượng gọi là gốc cho ta thấy ngay
vật ấy, hành động ấy là sex như cái khe(cái bướm), cái chày(cái của đàn ông),
giã gạo(hành động giao cấu). Những biểu tượng khác gọi là phát sinh. Phải đặt
trong toàn cảnh và có thời gian suy tưởng mới khám phá ra chúng nói lên cái ấy,
chuyện ấy. Hàng ngày chúng không hề nói đến cái ấy, chuyện ấy bao giờ. Ví dụ ta
không thể nhận ra cành thông trong “Đèo Ba Dội” là cái của đàn ông.
Những từ ngữ như “đánh đu”, “khéo, khéo”, “bốn cột khéo khéo
chồng”, một khi được khám phá ra là biểu tượng phát sinh chỉ hình ảnh sex
thì tiếp theo các từ ngữ khác lôi kéo độc giả phải hiểu từ ngữ theo nghĩa thứ 2,
nghĩa sex của bài thơ. Bức tranh sex lần lần lộ ra bên cạnh bức tranh thanh tú
mô tả sự và vật bình thường.
Tiếp theo là
câu thứ 2: “Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.” Chưa biết giới tính
người tham gia chơi nhưng biết 2 người đôi mặt với nhau. Người khởi động. Người
đang đợi chờ.
Tiếp đến 2 câu thứ 3 và 4: “Trai đu gối hạc khom khom cật,/Gái uốn
lưng ong ngửa ngửa lòng.” Thì bức tranh sex mới thực sự lộ ra. Một cặp trai
gái thực hiện cuộc chơi. Rõ ràng là sex vì giới tính được xác định, chuyện của
một đôi nam nữ, chuyện đang làm tình. Tác giả mô tả rõ vị thế của nam và nữ
trong cuộc chơi. “Trai đu gối hạc khom khom cật” mô tả trai tham gia
đánh đu ở trong cái thế cẳng chân và bắp vế gập lại như vị thế con cò nhún chân
để bay bổng lên. Lưng thì khom khom. “Cật” là trái cật, quả thận, tức là nói
đến cái lưng. Có bản in là “trai du gối
hạc”, nghe hay hơn
là vì thêm động tác. Động tác đâm ngang ra. Bức tranh trở nên lung linh động
đậy hơn. Còn như hiểu trai đu thì gối giống như gối con hạc, lưng thì khom khom
thì bức tranh ở thế tĩnh hơn. Tiếp theo
là hình ảnh giới tính nữ. “Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.” Có 2 động
tác là uốn lưng và ngửa lòng phô bày 2 hình ảnh đặc thù đẹp của phái nữ là vòng
số 2 và số 1. Chẳng phải “lưng ong” biểu hiệu nữ tính sao?
Đã bảo thơ sex
của Xuân Hương có 2 biểu tượng sex gốc và biểu tượng sex phát sinh. Hình ảnh “gối hạc”, “khom khom cật”(khom lưng), “ngửa
lòng” chỉ là biểu tượng gốc. Đọc lên thì biết ngay là cái của giới tính nam
và cái của gới tính nữ. Là hình ảnh sex nhưng hãy còn che dấu. Tiếp theo là
biểu tượng phát sinh do động não tưởng tượng ra mà nhận biết. Hãy để ý đến 2 từ
“cật” và “lòng” trong 2 câu đối nhau “Trai du gối hạc khom khom cật,/Gái
uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.” Hai từ đối với nhau “cật” và lòng có phụ âm
“c” và “l” giống phụ âm của từ chỉ cái ấy của nam và nữ. Đọc lên thì âm thanh
cũng na ná 2 từ ấy là từ “c…ă…c” và “l…ô…n.” Đến khi nhận ra biểu tượng phát
sinh thì tính chất sex mới thấy được đề cập thẳng thừng, mạnh bạo, không che
dấu nữa. Trình tự mô tả phù họp với trình tự tâm lý tự nhiên là khi đến đỉnh
điểm thì cảm thông nhau, muốn cho nhau nên không còn mắc cỡ nữa, không cần che
dấu nữa. Tới đây tác giả chơi chữ
và xử dụng âm thanh để miêu tả bức tranh sex lộ liễu ra. Gõ đến
đây tôi nhớ đến chuyện cười hiện nay “Trồng Luồng Mà Bỏ Urea”: “Trồng
luồng mà bỏ u rê/ Từ già tới trẻ ai ai cũng mê trồng luồng.” “Luồng” là một
giống cây tre nhỏ cây như cây mò o ở trên rừng. “Luồng” mà bỏ mẫu tự “u”
và mẫu tự “g” thì thành tên gọi một giống cây mà từ già tới trẻ ai ai cũng mê
trồng!
Đó là tác giả
chỉ mới mô tả cái thế đặc thù riêng của 2 phái ở thế tĩnh, chưa đề cập tới cái
thế tương đối trai, gái với nhau trong không gian, vị thế động. Đu đưa sẽ làm
vị thế trai, gái thay đổi trong không gian. Đánh 1 cái, nhún 1 cái. Cặp nam nữ
bay lên không trung trong thế trai nằm trên, gái nằm dưới, vị thế truyền thống.
Chuyển động ngược lại, cái đu để gái nằm trên, vị thế sáng tạo chắng bao giờ được dám nói ra. Một điều lạ là vào
các thập niên 1790s mà Xuân Hương đã để ý đến vị thế làm tình(sex position). Ngày
nay chuyện ấy chẳng lạ. Hình ảnh đầy rẫy trong film, trên tranh cổ ở các đền
đài thuộc tín ngưỡng phồn thực, trong sách Kama Sutra đề cập thẳng thừng Nghệ
Thuật Làm Tình Ấn Độ. Có lẽ chuyện ấy là tự nhiên nên cha sanh mẹ đẻ không dạy,
ai ai cũng biết làm, cũng biết sáng tạo ra một khi yêu đương lên đến đỉnh điểm phá vỡ sự
khắt khe của lễ giáo tạo ra tâm lý hổ ngươi(mắc cỡ). Tại vì văn hóa Nho Giáo
cấm kỵ nên không ai hở môi nói ra mà thôi. Nhất là phái nữ không ai có bạo gan
thực hiện thế “sáng tạo” trừ trường họp yêu đương đắm đuối.
Hai câu 5 và 6
“Bốn mảnh
quần hồng bay phất phới/Hai hàng chân
ngọc duỗi song song” mô tả tính
giao lên tới đỉnh điểm bay bổng rồi thình lình rớt xuống trong khoảng lặn mênh
mông! Rất khoa học và rất tự nhiên là mô
tả cảm nhận đỉnh điểm dành cho nữ phái, phái nhận đỉnh điểm sau cùng. “Bay
phất phới” là hình ảnh thăng hoa, bay bổng. Về âm thanh nghe như thánh
thót, nghe như bay lên cao vút. Tâm hồn thì bay bổng. Rồi thì thể xác nổ tung như
bị cơn gió thốc, coi như không còn gì để che dấu nữa. Rồi như người chơi đàn đột
ngột ngưng gảy, tạo một khoảng lặn êm ái, mênh mông: “Hai hàng chân
ngọc duỗi song song.” Tuy câu này mô
tả trạng thái cho cả 2 phái sau đỉnh điểm nhưng tác giả gây chú ý phái nữ hơn. Chẳng
phải đôi “chân ngọc” là hình ảnh phái nữ. Chân ngọc thì trắng trẻo, đẹp
đẽ và duỗi song song một cách thoải mái hơn đôi chân nam(tác giả lơ đi không
nói tới).
Gõ đến đây tôi
liên tưởng đến cuộc làm tình của một loài vật khác trong thế giới tự nhiên.
Giao phối của chúng cũng được thực hiện công phu nhiêu khê và ngoạn mục không
kém, giao phối ở loài ong. Ong đực và ong chúa ở cùng trong 1 tổ nhưng “tụi nó”
không làm “chuyện ấy” thô bạo ngay tại trận trong ổ của chúng mà chọn một nơi
“bồng lai tiên cảnh” thường ở trong thung lũng nắng ráo và kín gió. Đến kỳ giao
phối, ong đực thao dượt những chuyến bay mà từ ngữ chuyên môn gọi là “bay
định hướng.” Ong đực bay đến chỗ “bồng lai tiên cảnh” nói trên tụ
tập ở đấy đợi chờ. Một ngày, chúa tơ cũng trưởng thành, thực hiện chuyến “bay
định hướng” đến đó. Ong đực được trang bị đôi mắt “tinh anh” dễ dàng
nhận ra ong chúa từ xa. Chúng đuổi bắt. Ong đực nào bay khỏe nhất thì tiếp cận
được chúa tơ, trao hết cơ quan sinh dục đực vào thân chúa tồi “tuẩn tiết,”
kết thúc đời mình độc mỗi một lần “trao thân.” Chúa tơ bay về tổ, thực
hiện việc sanh sôi nẩy nở. Trong thân chúa, giao tử đực lần lần được phóng
thích từ cơ quan đực để giao phối với giao tử cái thành trứng thụ tinh phát
triển bầy đàn. Chính hình ảnh giao phối của loài ong mật này mới sinh ra từ
honeymoon: trăng mật chăng? Hình ảnh “trai du gối hạc”, nhún 1 cái bay
bổng lên “mây xanh”, là hình ảnh ong đực. Hình ảnh “gái uốn lưng ong,
ngửa ngửa lòng” là hình ảnh chúa tơ của loài ong mật.
Hai câu kết 7 và 8: “Chơi xuân ai biết xuân chăng tá?/Cột
nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!” Như trên đã nói từ “xuân”, “lỗ”, “chơi
Xuân”, “nhổ cột” bình thường hàng ngày chẳng nói đến cái đó, chuyện
đó cả. Đặt vào một bài thơ sex thì nó là biểu tượng phát sinh chỉ cái đó làm chuyện
đó. “Xuân” chỉ giới tính nữ, người nữ, cái của nữ giới; “cột” chỉ cái
của giới tính nam. “Chơi Xuân”, “nhổ cột” là hình ảnh thực hiện tính
giao. “Chơi xuân ai biết xuân chăng tá?” là câu cảm thán thương thân
phận nữ giới tham gia vào cuộc chơi. Chơi hoa có mấy ai biết quí hoa nhỉ? “Cột
nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!” Cũng là một câu cảm thán nữa, cảm thương cho phái
nữ. Ở đây cũng có cặp đối “cột/lỗ” chỉ cái của giới tính nam và nữ. Âm
thanh cũng nghe như phát âm từ “c” và “l.” Một lần nữa tác giả cảm thương cho
nữ giới bị nam giới cư xử phủ phàng: cột nhổ lên rồi thì lỗ bỏ không! Cắm vào
thì biết bao hào hứng “khen ai khéo khéo trồng.” Hết cuộc chơi thì lạnh lùng
nhổ ra, bỏ “lỗ” hoang phế, trơ trọi, lạnh lùng. Nguyễn Du cũng than tương tợ: “87.Sống
làm vợ khắp người ta/Hại thay thác xuống làm ma không chồng/Nào người phượng
chạ loan chung/Nào người thích lục tham hồng là ai!” Trong bài thơ tếu sau
đây, nhân vật nữ cũng than tương tương tự, trách nhân vật nam ích kỷ, hẹp hòi,
thường hay nghi nan. Nhân vật nam hằn học chất vấn nhân vật nữ. Một ngày tôi đề
một chữ xuân dán vào chỗ kín ấy để khóa nó lại. Ai đã lui tới phá nó thành chữ
thung? Nàng nhỏ nhẹ trả lời. Phu quân không hiểu nên phu quân hận. Đứng thì là
chữ “Xuân” mà ngồi lại là chữ “thung” chứ chẳng có ai phá, chọt cả. Chỉ tại em đứng
hay ngồi mà thôi: “Nhất nhật ngô đề nhất tự XUÂN/Hà nhân lai vãn phá thành THUNG/Phu quân bất
thức phu quân hận/Lập tắc XUÂN, tọa tắc THUNG.” 春(Xuân) 摏(Thung: giã cho
nát). Đứng thì chữ
nhật có dấu ngang. Ngồi thì dấu ngang bị đứt chứ chẳng có ai đâm thủng cả.
Click chuột vào cụm từ “nhất tự XUÂN” trong bài thơ thì sẽ có link liên
kết dẫn đến bài viết và videoclip youtube minh họa “XUÂN phá thành THUNG.”
“Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!” còn chuyển tải triết lý vô thường nữa. Đó là câu
kết luận diễn biến 1 sự việc bao gồm nghĩa đen lẫn nghĩa bóng là đánh đu và
sinh hoạt tình dục. Phàm cái gì lên cực điểm thì lập tức hoàn lại số không, tạo
duyên để tiến hành chu kỳ mới. Vì thế mới vô thường, không có gì bất biến cả. Mọi
sự việc biến dịch theo luật âm dương chi phối. Khi dương phát triển thì có mầm
móng âm rồi. Âm dần dần lớn lên trong khi dương suy giảm. Âm dương tương tác
giữa 2 thái cực. Tới thái cực thì yếu tố đối kháng kéo hệ thống về số không. “Lỗ
bỏ không” phản ảnh triết lý đó. Không có chi là vĩnh cửu cả. Cuộc chơi rồi
cũng tàn. Hình ảnh đôi trai gái đánh đu giống hình ảnh con lắc đu đưa. Động
năng do vận tốc góc tạo ra đưa quả lắc lên đỉnh điểm. Động năng(yếu tố dương)
suy yếu. Đôi nam nữ lên tới đỉnh điểm phải rớt xuống thôi. Rớt xuống là duyên
để thế năng(trên cao rớt xuống) nhả năng lượng, tạo duyên động năng do vận tốc
góc sinh ra phát triển. Động năng đẩy
đôi nam nữ lên lần thứ 2. Cơ trời có chi là lạ.
Bàn về tính thanh tục bài thơ “Đánh Đu.” Bài thơ chứa đựng đầy hình ảnh
âm thanh và tư tưởng triết lý để ta phân tích như trên sao gọi là thơ tục tằn
thô thiển. Không bàn thêm nữa. Phần này tôi đề cập tới sự linh thiêng và triết
lý của tính giao, tín ngưỡng phồn thực.
Tín ngưỡng phồn thực là niềm tin, sự cầu mong sinh sôi nảy
nở ở cây cối, động vật, và ở con người. Vì thế các dân tộc theo tín ngưỡng này tôn
thờ sinh thực khí đực và cái. Họ cho chúng là vật linh thiêng Linga và Yoni. Thực
hiện tính giao là chuyện linh thiêng(sacré) thuộc quyền hạn của thần Vishnu, thần
sáng tạo, nhằm duy trì sự sống, sự trường tồn cho sinh vật. Tín ngưỡng Ấn Độ thờ
3 vị thần. Thần Sáng Tạo Vishnu, thần Duy Trì Bảo Dưỡng Brahmâ và thần Hủy Diệt
Shiva. Sự thật ba ngôi tối linh Brahmâ-Vishnu-Shiva
chỉ là ba tác dụng khác nhau của cùng một bản thể. Vì thế có khi tượng Linga không
chỉ coi như tượng trưng cho sinh thực khí đực nữa mà là hình ảnh bao gồm 3 vị
thần. Phần dưới của Linga đặt trên một cái đế(Yoni) tượng trưng thần Sáng Tạo
Vishnu(gồm linga giao hòa với yoni), phần giữa tượng trưng thần Bảo Dưỡng Duy
Trì Brahmâ(tiếp nối thiên chức sinh sôi của Vishnu) và trên cùng là ngọn lửa tượng
trưng thần hủy diệt(có Sinh, có Dưỡng thì có Tử). Cái gì cũng có sự sinh ra, tồn
tại rồi hủy diệt để tiếp nối chu kỳ khác. Triết lý cũng giống triết lý Vô Thường
ở Đông Phương chi phối bỡi luật Âm Dương.
Một năm là một chu kỳ biến hóa bỡi tác động Âm Dương. Có
2 thái cực là mùa Hè và mùa Đông. Có 2 thời điểm Âm Dương dung hòa là Xuân và
Thu, trời đất giao hòa với nhau. Đó là dịp người ta thực hiện lễ hội tế lễ cảm
ơn trời đất. Chẳng phải trong dân gian có câu “Xuân Thu nhị kỳ” chỉ mùa lễ hội truyền thống. Ở bài “Cây Đánh Đu” ta thấy mô tả mùa lễ hội cầu
tài lộc. Ở bài “Đánh Đu” ta thấy mùa
lễ hội đậm đà bản sắc tín ngưỡng phồn thực. Mùa Xuân là mùa giao hợp, mùa của hoa lá,
bươm ong, khoe sắc khoe hương. Đến khi “370.Thưa
hồng rậm lục đã chừng xuân qua-Truyện Kiều” là Hè đến. Cây cối “thưa hồng”, hoa rụng; mọc đầy lá xanh “rậm lục” để tồi kết trái cho ra quả ngọt.
“Chín mươi ngày nhảy nhót ở miển quê/Ôi tất
cả mùa Xuân trong mùa Hạ…/Trên đường làng huyết phượng nở thành bông/Và vườn rộng
nhiều trái cây ngon ngọt.-Nghỉ Hè
của Xuân Tâm.”
Mùa Xuân, mùa đất
trời giao hòa thuận cho việc sinh sôi nẩy nở. Một nam 1 nữ tượng trưng âm dương
giao hòa. Lễ hội mới có ý nghĩa cầu mong cho sự sinh sôi nẩy mở, mùa màng tốt
tươi có chi là tục tằn dâm đãng. Nếu một đôi đồng tính nam hay nữ thì không nói
lên sự cầu mong này, và không bị xuyên tạc tục tiễu nữa.
Vào địa chỉ sau đây xem videoclip minh họa:
https://www.youtube.com/watch?v=jniHvMurwhM
Vào địa chỉ sau đây xem videoclip minh họa:
https://www.youtube.com/watch?v=jniHvMurwhM
Mùa Thu 2015. CuHhBa.








0 nhận xét:
Đăng nhận xét