Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Mất ẢI NAM QUAN Phần 3.



Mất Ải Nam Quan Phần 3




Xuất hiện tòa nhà kiểu Pháp ở mặt sau ải

Tòa nhà kiểu Pháp ở mặt sau ải







Các em khiếm thị TQ
Nông dân Đồng Đăng chứng kiến lằn biên.





12 cữa khẩu ở Nam Quan
Pháp tiến đánh ải Nam Quan năm 1885.


Mất ẢI NAM QUAN
Phần 3.
(Hôm nay 16-8-2013)
Việt Nam mất ải Nam Quan: Ngay sau ảnh Mục Nam Quan thấy có 1 tòa nhà có kiến trúc kiểu Pháp mà các ảnh Nam Quan thời Pháp Thuộc được sưu tầm không thấy có. Nhiều tác giả cho Mục Nam Quan, năm 1965 gọi là  Hữu Nghị Quan, được xây mới ở trong đất Đồng Đăng, nơi đây có khả năng có 1 kiến trúc của Pháp. Việt Nam mất ải Nam Quan từ đây? Ta chỉ biết trên đồi Đông Nam, trong đất Đồng Đăng, trong bản đồ Charpès năm 1894 thấy có lô cốt của Pháp đang xây dựng(blockhaus francais en constructions). Suy ra có khả năng ở dưới chân đồi đó có thể có 1 kiến trúc của Pháp dùng cho nhân viên biên phòng? Bây giờ nó xuất hiện ở mặt sau Hữu Nghị Quan? Tất cả chỉ là nghi vấn.
Năm 1961 HCM và Chu Ân Lai hội đàm trên lầu 2 Mục NamQuan không biết đề cập đến việc gì. Năm 1958 thì có việc TQ tuyên bố về lãnh hải và đề cập tới Tam Sa. TQ để lộ ý chiếm những điểm chiến lược ở phía Nam. Năm 1999 Hiệp Ứơc Biên Giới Việt-Trung ra đời làm dấy lên việc VN mất còn ải Nam Quan lan truyền trên mạng truyền thông. Năm 2002 thì bắt đầu tiến hành cắm mốc và nói đến năm 2008 sẽ hoàn thành. Người ta nói cột mốc(CM) cũ 53 ở Bản Giốc và cột 18 ở ải Nam Quan bị di dời.

1-Các cột móc cũ. Có nhiều ảnh CM 53 và CM 18 không phân biệt được thật hay giả được đưa ra làm rối cả mắt không biết đâu mà nhận định sự việc thật hay hư. Tìm hiểu thì sự việc lại rõ ra dần dần. Các cột móc không phải đánh số theo thứ tự đồng loạt. Có 3 đoạn cắm mốc. Đoạn Đông Quảng Tây(thời đó gọi Quảng Đông) đánh dấu từ cữa Bắc Luân(cột số 1). Đoạn Tây Quảng Tây khởi sự ở cữa Bình Nhi(cột số 1) trên sông Kỳ Cùng đánh số về bên Tả Ngạn đến Nam Quan là số 18 và 19 và về Hữu Ngạn tới Bản Giốc là số 53, 54. Đoạn Vân Nam lấy gốc ở sông Hồng, đánh số về bên Tả và bên Hữu. Vì thế có nhiều cột móc trùng số.
2-Cột móc số 18 và cột Km0.
2.1-Cột móc 18 và 19 cũ. Bác sĩ P. Neis là thành viên trong phái đoàn phân định biên giới tháng 12 năm 1885 sau chiến dịch Lạng Sơn(2/1885-3/1885) trong trận chiến Pháp-Thanh(9/1884-6/1885). Trong bài viết “Sur les frontières du Tonkin,” bác sĩ nói bên TQ yêu cầu mạnh mẽ nói cữa ải và tường thành có lỗ châu mai không phải là đường biên. Cột móc phải đặt trước mặt về phía Nam ít nhất vài mét. Phái  đoàn Pháp nhượng bộ. Kết quả nói đường biên đi theo 1 con suối cách xa cữa ải 150m. Trong bộ tài liệu lưu trử tại Văn Khố Đông Dương ở Aix-en-Provence, Biên Bản Số 4(Procès verbal N04) viết: “Phái đoàn Pháp-Hoa nhìn nhận ngày 4-7-1886 rằng bắt đầu từ điểm ở 100m phía trước cổng Nam Quan, trên đường Nam Quan đến Đồng Đăng, đường biên giới leo lên về phía Tây cho tới đỉnh núi đá trên đó có cái đồn tọa lạc(sur lequel est situe’ le fort) được đánh dấu điểm A trên giấy(croquis) đính kèm, từ đồn đó nó theo cao độ bức tường đá(le haut de la muraille rocheuse) trông xuống con đường Đồng Đăng cho đến điểm được đánh dấu B trên giấy. Điểm B này ở nơi mà con đường mòn, tách ra từ con đường Đồng Đăng đến Nam Quan, dẫn đến làng Lung Ngieu, cắt bức tường đá. Kế tiếp nó đi theo  chính con đường mòn này cho tới cổng làng Lung Ngieu. Bắt đầu từ cổng đó nó rở lại lấy độ cao của núi đá(reprend le haut des rochers) bao quanh thung lũng làng Lũng Ngieu để đi đến điểm đánh dấu C. Từ điểm C nó hướng về Tây cho đến cổng Kida.)
Mô tả cho thấy đường đỉnh bức tường đá và đường đỉnh núi đá bao quanh làng Lũng Ngieu chênh nhau 1 đoạn Đông-Tây(từ điểm B đến cổng làng.)
Còn biên bản ký 21-4-1891 liệt kê tên các cột móc theo thứ tự: Đoạn thứ nhất từ Móng Cái tới biên giới Quảng Đông-Quảng Tây. Đoạn thứ 2 từ Chi Ma đến Nam Quan:…cột thứ 24(cột 19) ở trên đỉnh đồi đối diện đồn Kouei-Tao của TQ(24è bone: sur le sommet place’ face du fort chinois de Kouei-Tao Khon Long Ải 坤隆); cột thứ 25(cột 18) ở 100m phía trước cữa Nam Quan trên đường Đồng Đăng đến Nam Quan(25è borne: à 100m en avant de la porte de Nam Quan sur le chemin de Dong-Dang à Nam Quan).  Đoạn thứ 3 từ Nam Quan tới Bình Nhi:…cột thứ nhất(cột 18) ở trên đường Nam Quan-Đồng Đăng về phía Nam cữa ải 100m(1er borne: sur le chemin de Nam Quan à Dong Dang à 100m au S de la porte); cột thứ 2(cột 17) ở 1 đèo nhỏ cắt sống lưng dãy núi đá và ở trên đường mòn đi từ đường Đồng Đăng đến làng Lung Ngao(2è borne: au petit col coupant la crête rocheuse sur le sentier allant de la route de Dong Dang à Nam Quan au village de Lung Ngao. Lộng Diêu弄搖.). Nơi đây được đánh dấu điểm B trong biên bản nói trên; cột thứ 3(cột 16) ở 250m phía Tây làng Lung Ngao trên đường mòn đi đến Khua-Da( 3è borne: à 250 m à l’O du village de Lung-Ngao sur le sentier allant à Khua-Da); cột thứ 4(cột 15) ở cữa khẩu Bo-Sa(4è borne: à la porte de Bo-Sa Ải. Bố Sa).
Kết luận: Từ cột 18 đến cột 16 đường biên qua 3 điểm và 3 ải. Cột 18 nằm ở điểm 100m trước Ải Nam Quan và ở trên đường Nam Quan-Đồng Đăng. Điểm A có đồn binh và ở trên đỉnh bức tường đá. Điểm B có đồn binh và cữa ải nhỏ có đường mòn đi vào làng Lũng ngieu. Điểm C ở trên núi đá bao bọc làng Lũng Ngieu. Bức tường đá(muraille rocheuse) và núi đá(des rochers) bao làng Lũng Ngieu cách nhau 1 đoạn đường mòn(từ điểm B vào cổng làng). Cột 16 ở cữa ải Kida, trên đường mòn đi Khua Da và ở phía Tây làng Lung Ngieu 250m.
Mô tả như vậy thì quá rõ địa giới phần tận cùng đất của Trấn Nam Quan(cái mũi của “mỏ vẹc”) vào sâu tới đâu trong đất Lạng Sơn(Đồng Đăng). Biên giới thời Pháp Thuộc quá rạch ròi, chính xác và bình đẳng(kẻ một cách tự nhiên theo đường đỉnh. Đỉnh này qua đỉnh kia, giữa là ải). Nếu TQ di dời cột 18 xuống tới đường mòn đi vào Lũng Ngieu(cột 17) thì trọn bức tường đá và đoạn đường Nam Quan-Đồng Đăng ở dưới chân mà nó khống chế(le haut de la muraille rocheuse qui domine la route như biên bản số 4 trên kia mô tả) thuộc TQ. Đường biên ở trên đỉnh bức tường đá  bây giờ sẽ dời về phía Đông và ở trên đường đỉnh dãy núi đất(ở trên đỉnh các đồi ở phía Đông Nam).
Bắt đầu từ hòa ước Pháp-Thanh 1887 mới có ý niệm biên giới cách cữa ải 100m ở trong đầu người TQ và người VN. Ý niệm mặt Bắc cữa ải thuộc TQ, mặt Nam cữa ải thuộc Đại Việt như ông cha không còn nữa(xem bài viết phần 1 và bài viết phần 2).
 
2.2-Cột móc 18 và 19 bị di dời. TQ tiến hành xóa bỏ CM 18. Năm 1979 ban giao Trung-Việt trở nên xấu đi. Một Giác Thư(Memorandum) Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN công bố 15-3-1979 tố cáo “TQ lợi dụng sửa chữa đường sắt dời nối ray 300m về phía Nam, ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cữa Nam Quan 100m trên đường Quốc Lộ rồi đặt cột Km0 đường bộ sâu vào lãnh thổ VN trên 100m.
Nhận xét quan trọng: cho thấy cột 19 cũng bị di dời. Biên bản mô tả cọc 19 ở trên đỉnh đồi đối diện với đồn Kouei-Tao Khon Long  Ải của TQ(sur le sommet place’ face du fort chinois de Kouei-Tao Khon Long Ải). Nếu ải nhỏ ở cột 17(điểm B) là ải Kouei-Tao Khon Long và tên ải cũng là tên đồn thì rõ ràng cột 19 đối diện với ải nhỏ này, tức đối diện với cột 17. Đồn này(ở điểm B, chỗ cột 17) khác với đồn ở trên đỉnh bức tường đá(ở điểm A, đối diện cột 18). Giữa A và B quá ngắn không thể có đồn nào khác để mà lầm. Cột 19 ngày nay cắm ở chân 1 cái đồi mà đỉnh không có công sự. Như thế cột 19 cũ bị di dời. Cột 19 cũ ở đồi Đông Nam đối diện cột 17 cũ ở đồi Tây Nam, chỗ điểm B. Đồi Đông Nam có lô cốt của Pháp đang xây dựng và đồi Tây Nam có đồn TQ Kouei-Tao Khon Long Ải. Như vậy đường biên cũ từ cột 18 đến cột 19 phải chạy từ Tây sang Đông hơi chênh chếch xuống phía Nam 1 chút(TAT). Còn đường biên từ đồn ở điểm A chạy xuống tới cột 18 thì chạy thẳng Tây sang Đông(MTL). Nghĩa là đường biên cũ gồm 1 đoạn thẳng và 1 đoạn xiên xuống phía Nam. Trong bản đồ khó thấy đường biên gồm 2 đoạn như thế. Cột 19 ở trên đồi ĐôngNam. Điều này rất họp lý, có thể tin được. Khi cột móc 18 dời về Nam 100m, tức không chạy thẳng lên đỉnh đồi ở phía Đông nên cột 19 phải dời về đỉnh đồi phía ĐôngNam. Sau đó Pháp xây lô cốt trên đó là nơi thuộc quyền của họ ở sát đường biên. Pháp sở hữu ½ cái đồi. Không biết ở Nam cột 18 Pháp có xây kiến trúc nào nữa hay không. Những thông tin này giúp nhận định cột 19 cũ bị bị di dời và giải thích cái nhà kiểu Pháp ở đàng sau Hữu Nghị Quan.
Giữa 2 đồi(cột 17, 19) là đường Đồng Đăng đến Nam Quan(ĐĐ-NQ)  và đường mòn cắt đường ĐĐ-NQ rồi đi vào Lũng Ngao (xem các biên bản, bản đồ Charpès 1894 và ảnh Các Đồi ở Phía Nam ải).
2.3-Cột móc Km0. Truyền khẩu nói khoảng năm 1960 Phạm Văn Đồng trồng 1 cây si-Cây Si Phạm Văn Đồng(CSPVĐ)- ở trước mặt cữa ải để đánh dấu đường biên cách ải 100m(để thay thế cột 18?). Nhưng tác giả Chân Mây tìm hiểu qua khách du lịch, người địa phương và tài liệu tiếng Hoa mới biết về cây “Trung Việt Hữu Nghị Thụ.” Cây  này là cây cổ thụ ở trước cổng Mục Nam Quan. Năm 1961 HCM hội đàm với Chu Ân Lai ở Bằng Tường, trên lầu Mục Nam Quan. HCM khen tặng họ Chu nói “Tình hữu nghị Trung-Việt như cổ thụ ở Mục Nam Quan luôn xanh mãi không bao giờ thay đổi.” Do chuyện này nên từ năm 1965 cây được gọi là “Trung Việt Hữu nghị Thụ” còn CSPVĐ trồng trong sân Mục Nam Quan để đánh dấu mốc đường biên cách cữa ải 100m là một cây khác. Cũng có thể không có CSPVĐ. Chuyện được đặt ra để lợi dụng lấy đó làm mốc giới dựng cột Km0 theo ý tưởng đường biên cách ải 100m. Cột móc Km0 thay cột 18 bị xóa dấu vết.
Các lãnh đạo đời sau không trở về lịch sử để đòi cho được mặt Nam của cữa ải thuộc về người Việt như ông cha bao đời mà chấp nhận nhượng bộ của Pháp, chấp nhận đường biên cách ải 100m. Vì thế mới có chuyện CSPVĐ, cây si thật hay phao tin có cây si Phạm Văn Đồng để đánh dấu cột Km0? Trước đây người Pháp không hiểu lịch sử và văn hóa VN nên mới nhượng bộ khi bị ép xê dịch đường biên. Người Việt thì không thể nhượng bộ như vậy được.
Có nhiều hình ảnh về cột Km0 được tung ra. Thoạt đầu 1 bức ảnh nói CSPVĐ ở trong sân trước mặt ải, cây còn nhỏ. Xa về góc Phải có tòa nhà trắng hải quan TQ nói là xây trên nền tòa nhà tròn. Các bức ảnh có tòa nhà tròn cho thấy Trùng Đài(TĐ) thấp, hình chóp cụt, nét kiến trúc thẳng khác TĐ Hữu Nghị Quan xây sau hay vào năm 1965 có TĐ cao nhọn. Vậy CSPVĐ  ở trong sân phải có trước năm 1965(tương ứng trùng đài thấp). Đó là CSPVĐ trước năm 1965, cột móc Km0(1). Kết tiếp, bức ảnh cho thấy CSPVĐ nay đã lớn đứng trước ải. TĐ có 3 tầng cao, nhọn, khác với TĐ thấy trong ảnh có tòa nhà tròn. Như vậy đây  CSPVĐ sau 1965, cột mốc Km0(2). Đứng tại cây si này thì còn thấy rõ ải bây giờ gọi là Hữu Nghị Quan. Bức ảnh chụp năm 1990 cho thấy cột Km0 đề chữ H.N. QUAN cắm ở trước 1 cây to(CSPVĐ?), cột mốc H.N. QUAN Km0(3). Đứng nơi đây không còn thấy Hữu Nghị Quan(HNQ) đâu cả. Tức mốc Km0 lần này được dời xa xuống phía Nam. Bức ảnh đầu thập niên 2000(lúc xây dựng đường cao tốc, và hầm đường cao tốc tức sau hiệp ước Phân Định Biên Giới 1999 ) cho thấy  cột móc Km0 đề chữ HỮU NGHỊ, mất chữ QUAN cắm trước gốc 1 cái cây đã bị đốn đi, cột móc HỮU NGHỊ Km0(4). Đứng nơi đây cũng không thấy HNQ. Bức ảnh chụp năm 2005 cho thấy sau cột HỮU NGHỊ Km0 không thấy Hữu Nghị Quan đâu cả mà chỉ thấy có 2 cữa hầm đường cao tốc(2 cữa hầm thay thế Hữu Nghị Quan), cột mốc HỮU NGHỊ Km0(5). Cữa hầm được cho là xuyên qua cái đồi cao điểm ở phía Đông Nam ải và mở vào 1 quãng trường với khu hải quan có bia Nam Cương Quốc Môn.

3-Chuyện Mất Còn Ải Nam Quan. Sau Hiệp Ước Phân Định Biên Giới Việt-Trung năm 1999 nổi lên thông tin VN mất ải Nam Quan lan truyền trên mạng. Thứ trưởng bộ ngoại giao, trưởng ban biên giới ông Lê Công Phụng, nói dù cách 100 hay 200m, cách bao nhiêu thì ải cũng thuộc TQ khi đường biên được đưa qua khỏi mặt Nam của ải(hòa ước Pháp-Thanh 1887). Tức VN không mất ải. Ải đã thuộc về TQ từ năm 1887.
3.1 Thông tin trên mạng Trong buổi ban đầu không biết vì quá bức xúc hay còn thiếu tài liệu nên 1 số bài viết viết “lố” thiếu chính xác nên có bài phản bác cho bài nói mất ải là bài của phe thù địch. Ví dụ như bài nói biên giới ở Ải Nam Quan bị dời đi 500m. Có lẽ lập luận do điểm nối ray đường sắt TQ vào đường sắt VN bị dời 300m cọng với cột Km0 dời đi 200m mà ra. Hay nói biên giới dời trên 5km là sai với sách địa dư: Cữa Nam Quan ở Km 167. Đồng Đăng ở Km 162. Dời 5Km là tới Đồng Đăng là phi lý(các  tài liệu người Pháp viết nói Đồng Đăng đến Nam Quan khi thì 4km, khi thì 3km). Phe phản bác chỉ trích gay gắt.
Có nhiều chi tiết khác nói “lố” tương tự do buổi ban đầu thiếu tài liệu làm giảm độ tin tưởng của bài viết gây sự nghi ngờ chuyện mất ải. Người ta tin nói mất ải là do ác ý của thế lực thù địch. Lâu ngày người dân trở nên vô cảm chuyện mất còn. Dần dần có nhiều bài viết và hình ảnh được mô tả khách quan, có giá trị khoa học làm ta nhận định được việc mất hay còn. Tổng  họp các bài viết có giá trị ta thấy có sự di dời thật chưa kể Giác Thư(Memorandum) của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN công bố 15-3-1979 nói TQ dời nối ray đường xe lửa xuống sâu 300m và đặt cột Km0 đường bộ sâu vào lãnh thổ VN(xem mục 2).
Hình ảnh cột móc Km0(1,2,3,4,5) với “cây si” Phạm Văn Đồng đứng đàng sau làm chứng lần lượt được tung ra mà vị trí càng ngày càng xa Hữu Nghị Quan tới 1 lúc đứng ở đây không còn thấy trùng đài đâu cả như trình bày trên đây(xem mục số 2 trong bài này). Lúc đó mới hay cột Km0 bị dời xuống phía Nam! Kiểu cứ nói Tam Sa của TQ ở trong Biển Đông riết rồi nó cũng ở trong Biển Đông thật.
Trường họp thứ 2: trong các bản đồ cũ cho thấy đường biên đi từ cột 18 tới cột 19 thẳng từ Tây sang Đông(Mai Thái Lĩnh) hay chếch xuống Đông Nam một chút(Trương Nhân Tuấn) trong khi bản đồ 249C đường biên do VN lẫn TQ đưa ra yêu cầu đều có xu hướng chếch lên hướng Đông Bắc, có nghĩa cột Km0 bị dời xuống TâyNam. Định tính thì thấy như thế nhưng không biết dời đi bao nhiêu.
Để định lượng là đã dời bao nhiêu, tác giả Trương Nhân Tuấn(TNT) bảo phải lấy bản đồ cũ và nội dung các biên bản của hiệp định phân định biên giới Pháp-Thanh quy chiếu mới có giá trị thuyết phục(xem mục số 2). Xét các bản đồ SGI của sở Địa Dư Đông Dương, bản đồ của Charpès năm 1894, bản đồ 249C có kèm bản đồ cũ đối chiếu và hình ảnh chụp hay họa thời Pháp thuộc ta có kết luận:
Ở trên trục chính Đồng Đăng đến Nam Quan độ di dời trên dưới 400m(TAT). Hiện đường hầm xuyên núi nói là xuyên qua quả đồi cao điểm ở Đông Nam của ải, để cao tốc 322 nối kết với QL 1A tại mốc 1116(Km0) và 1117 đối diện bên kia đường. Cột số 19 cũ thì ở trên đỉnh đồi mà đường hầm xuyên qua(có đặt công sự). Tước 2 miệng hầm có 1 khoảng cách mới tới chân 1 cái đồi nói là có cột 19 dựng ở đây trùng với cột 1118 ngày nay. Trên đỉnh đồi không có công sự nên nhiều tác giả nói đó là vị trí cột 19 mới. Nửa qủa đồi Đông Nam cọng khoảng cách từ 2 cữa hầm Nam đến chân đồi cắm cột 1118 ước chừng 400m(TAT). Đối chiếu đồi có cọc mốc 19 cũ đối diện với đồi có cọc mốc số 17 cũ, nơi có con đường mòn cắt đường Đồng Đăng đến Nam Quan để vào Lũng Ngao như biên bản cắm mốc mô tả và thấy trên bản đồ Charpès 1894, thì ta thấy đường biên dời xuống rất nhiều, qua khỏi các đồi Đông Nam.
Đường biên phía Tây thay vì chạy trên đỉnh bức tường đá(la muraille rocheuse) và trên đỉnh của dãy núi đá(la crête rocheuse) bao quanh làng Lũng Ngiêu  thì bây giờ chạy ở dưới chân. Xem độ rộng của sườn núi(đếm vòng cao độ) thì biết di dời vào đất Đồng Đăng là bao nhiêu.
 Đường biên ở phía Đông cũng không có xu hướng chạy trên đường đỉnh dãy núi đất. Rõ nhất ở cao điểm 474. Đường biên rẽ sang Đông để ngọn đồi này thuộc TQ.
3.2-Chuyện mất còn. Việc mất hay còn không phải ở vài trăm thước đất hay Km đường. Ở chỗ rừng rú vô cảm thì mất mát chẳng nhằm nhò gì. Ỏ đây cũng như ở Bản Giốc mất mát là mất di sản văn hóa lịch sử, mất tình hữu nghị của 2 lân bang do tính chất lấn hơn của nước lớn áp đặt nước nhỏ phải cam chịu. Chẳng lẽ chỉ 1 chuyện nhỏ thành viên người Thanh không chịu cắm mốc tại bờ thành của ải mà cả dân tộc chịu để mất di tích lịch sử văn hóa đã tồn tại mấy trăm năm! Và các cao điểm chiến lược của ta dùng để khống chế đường vào Đồng Đăng ở phía Đông Nam của ải cũng bị mất. Tổ tiên của 2 lân quốc đã từng gìn giữ hình ảnh ải không thay đổi bao nhiêu cả trên 500 năm(1406-1946) từ ngày ải có tên. Tự nhiên nay TQ đơn phương xây dựng nhà cữa lâu đài bên mặt Nam làm ải thay đổi quá nhiều. Người VN không còn thấy “mặt mũi” cái ải thời tổ tiên nữa, một di tích thuộc sở hữu chung của 2 nước. Trước đây TQ đơn phương ký với Pháp, ép Pháp nhượng bộ(nhật ký của bác sĩ P. Neis) xê dịch cột mốc về phía Nam cách ải 150m(các biên bản về sau nói 100m) để hưởng trọn cái ải.  Sao không nghĩ Pháp đã từng nhường cho người Thanh các làng người Việt vùng Trường Bình-Bạch Long thuộc huyện Phòng Thành Cảng(Fangchenggan), kế cận Khâm Châu(Quizhou), đưa biên giới từ sông Dương Hà còn gọi là An Nam Giang (Fengchen River) bao luôn mũi Bạch Long(wikipedia-carte du Tong King 1879) dời về sông Bắc Luân ở Móng Cái(xem Người Việt Ly Hương đăng trong blog này). Nay di tích ải Nam Quan này thuộc của chung mà TQ cũng áp đặt chiếm lấy. Hữu Nghị ở chỗ nào? Hiệp ước Pháp-Thanh bất bình đẳng? Nay phân định lại cho bình đẳng hơn ở chỗ nào? Xét về lịch sử và địa thế tự nhiên của ải ta không thể chịu như vậy được.
3.3-Cái lý tự nhiên theo địa thế buộc như vậy. Tự nhiên thiên nhiên vạch ra nơi đây là biên ải ngăn chia 2 nước. Trên bản đồ ta thấy đường biên Việt-Trung tự nhiên đang chạy thẳng xuống gần như thẳng đứng từ Bắc xuống Nam bỗng dưng ngoặc xiên theo hướng TâyBắc xuống Đôngnam rồi vòng ngược lại làm thành hình “mỏ vẹc” đâm thọt vào đất Lạng Sơn. Mới nhìn ta cứ tưởng nhà làm bản đồ muốn ăn gian lấn đất vào Lạng Sơn nhưng nhìn kỹ không phải ý đồ lấn đất mà kẽ đường biên như thế là theo thế đất tự nhiên. Thọt vào như vậy là do địa thế phải như vậy thôi. Thung lũng Bằng Tường chạy thọt vào đất Lạng Sơn.
Trên bản đồ có kẽ đường vòng cao độ thì nhận ra rõ việc đương nhiên đó. Sông Tả Giang bên TQ chạy đến thủ phủ Long Châu(Longzhou) thì nhận 2 nguồn là sông Bằng Giang từ Cao Bằng chảy sang theo hướng TâyBăc-ĐôngNam và sông Kỳ Cùng chảy theo hướng TâyNam lên ĐôngBắc rồi sang Đông tới làng biên giới Bình Nhi, tiếp tục về Đông để đến Long Châu TQ. Quân Quảng Châu(Lưỡng Quản) vào Giao Châu theo 2 lối này. Trên sông Kỳ Cùng thuyền bè chỉ đi được từ Long Châu đến ải Bình Nhi. Đoạn trên đất VN sông có nhiều gềnh thác hiểm trở. Quân phải rẽ xuống phía Nam theo hướng Bắc xuống Nam dọc theo biên giới, theo thung lũng Bằng Tường(Panxiang). Qua khỏi Bằng Tường, thung lũng hẹp dần và chạy theo hướng ĐôngBắc xuống TâyNam tức theo trục của “mỏ vẹc” nói trên, thọt vào đất Đồng Đăng của Lạng Sơn.
Trên bản đồ quân sự Jm Henthorn dùng trong chiến tranh VN thập niên 1960 ta thấy thung lũng chạy từ Bằng Tường đến đây hẹp lại. Thung lũng bị kẹp gữa 2 vòng cao độ 1500 feet(trên 400m), hẹp dần cho tới chổ ải Nam Quan. Trong bản đồ của Charpès năm 1894 cho thấy rõ đường phân thủy ở dãy núi đất ở phía Đông. Chỗ ải là nơi dãy đồi núi đất ở phía Đông kẹp sát vào dãy núi đá(biên bản nói trên gọi là bức tường đá) ở phía Tây. Thung lũng đã từ trên cao(400m) xuống thấp tới đây. Bây giờ thung lũng trông như 1 cái rãnh hẹp. Bác sĩ P. Neis mô tả trong “Sur les frontières du Tonkin”: “Ải Nam Quan nằm ở dưới 1 rảnh núi hẹp, hai bên là hai đồi núi khá dựng đứng, cao chừng 50-60 m.” Đồi cao 50-60m nhưng ở trên vùng cao độ dưới 1500 feet(400m) trên mực nước biển(màu nâu). Bên kia ải là thung lũng Đồng Đăng(màu vàng) hạn định bỡi vòng cao độ 1000 feet thấp hơn hơn(trên 300m) cũng chạy lên tới đây. Rõ ràng nơi đây là 1 cái đèo ở giữa 2 đường phân thủy. Nước chia đôi đường: về Bằng Tường ở phía Bắc và về Đồng Đăng ở phía Nam. Đường phân thủy thấy rõ ở cánh phía Đông của ải trong bản đồ của Charpès.
Trên bản đồ của Charpès năm 1894 mà Trương Nhân Tuấn công bố ta thấy dãy núi đất phía Đông chạy xuống Nam thấp dần làm các nguồn nước chảy về Nam và về Đông Nam. Các nguồn nước đổ vào 1 suối lớn ở phía Nam của ải chảy về TâyNam. Suối đổi hướng chảy xuống Nam men theo đường xe lửa(thấy trong các bản đồ sau nầy) trong thung lũng đến Đồng Đăng rồi suối tiếp nối vào sông Hang là 1 nguồn của sông Kỳ Cùng. Phía Tây “mỏ vẹc” có núi đá nhấp nhô hơn phía Đông.
Trong hồi ký tháng 12 năm 1885(sau chiến dịch Lạng Sơn và sau trận Bắc Lệ) của bác sĩ Neis, tác giả nói đường biên là con suối cách ải 150m về phía Nam. Có phải suối này là 1 chi lưu của suối lớn đó. Còn trong chuyện chia tay lịch sử cha con Nguyễn Phi Khanh-Nguyễn  Trãi ở Ải Nam Quan thì nói nơi chia tay ở tại con suối sau này gọi kỷ niệm là suối Phi Khanh. Có phải là chi lưu này?
Trên bản đồ Jm Henthorn cũng  thấy sự phân thủy. Nước từ biên giới(trên đường đỉnh) phía Tây “mỏ vẹc” tiếp tục đổ nước xuống phía TâyNam vào hạ lưu sông Hang. Sông Hang chảy về Tâybắc rồi hợp lưu vào sông Kỳ Cùng.
Tóm lại biên của “mỏ vẹc” là 1 đường phân thủy hình vòng cung tự nhiên giới hạn Trấn Nam Quan ở phía Bắc(trong vùng mỏ vẹc cao 400m) với Đồng Đăng phía Nam(cao 300m). Hạ lưu sông Hang và 1 nhánh hữu ngạn thượng lưu của nó hình thành 1 vòng cung hình chữ V ôm khu “mỏ vẹc.” Biên cương định tại thiên thư. Địa thế (căn cứ đường phân thủy) cho thấy Trấn Nam Quan(mỏ vẹc) phải hẹp. Tại sao người TQ cứ muốn cái “mỏ vẹc” cứ phình ra lấn đất sang đất Đồng Đăng ở phía dưới(phần màu vàng là vùng cao độ dưới 300m thấp hơn Trấn Nam Quan màu nâu là vùng cao độ trên 300m)? Thiên nhiên phân định rõ ràng.
Trên bản đồ Jm Henthorn cho thấy địa hình núi non ở ải. Phía Tây ải có nhiều đồi núi đá. Một trái núi đá to(biên bản nói là bức tường đá) ở ngay tại ải. Phía Đông dãy núi đất ép sát vào dãy núi đá. Phía ĐôngNam ải có mấy đồi cao của dãy núi đất thấy rõ ở bản đồ của Charpes 1894. Chính nơi đây dựng 1 đường biên phân chia Nam-Bắc. Đường biên Tây sang Đông xắn ngang qua khe núi. Bức ảnh 598 và 792 cho thấy dãy núi đá hùng vĩ ở phía Tây của ải và ải nằm ở đáy của 1 khe núi hẹp như Neis mô tả. Nơi đây là phần chót của 2 thung lũng gặp nhau: Bằng Tường ở Phiá Bắc(cao 400m). Đồng Đăng ở phía Nam(cao 300m). Tại đường biên này tổ tiên của 2 lân quốc đã dựng lên cái lũy để phân chia: “Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện /Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…” (Nguyễn Du). Nghĩa là: Hai nước chia đều nhau(bình phân) bởi mặt 1 chiếc lũy lẻ loi. Một cửa quan oai hùng trấn giữa muôn quả núi. Lịch sử và địa hình phân chia tự nhiên như thế. Tại sao con người chúng ta ngày nay muốn cải lại sự phân chia? TQ cuối thế kỷ 20 vượt qua mặt Nam của ải dựng 1 lần trạm hải quan ở Km0 cách ải 100m lấy cớ Thanh triều đã cắm cọc như vậy năm 1887. Vào đầu thế kỷ 21 con cháu của họ lại 1 lần nữa dựng cột móc Km0 nhưng cách xa ải(đứng tại đây không còn thấy ải nữa). Cột móc Km0 nào cũng lấy cây cổ thụ làm chứng và nói là cây si của Phạm Văn Đồng trồng. Nhưng những lần này tại Km0 không còn thấy được Trùng Đài của ải nữa. Rồi con cháu họ(TQ) dùng kỷ thuật của thời văn minh hiện đại đục thủng 1 trái núi phía ĐôngNam của ải để nối kết cao tốc 322 hoành tráng của họ với QL A1 nhỏ bé khiêm nhường của ta. Lần này cữa hầm với trái núi che khuất tầm nhìn để thấy cảnh ải hùng tráng năm xưa “Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện /Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…” Bây giờ đường biên chỉ là lằn ranh nối kết mong manh trên đường nhựa LQ 1A nằm khép mình hữu nghị ép sát vào đường nhựa cao tốc 322 hoành tráng dưới sự chứng kiến của mấy anh nông dân thật thà Đồng Đăng và bên kia là mấy em mù lòa người TQ đang sờ soạn mấy ngón tay dò dẫm lên lằn ranh(bienxua.over-blog.com)! Hai bên lằn ranh là 2 cột mốc mới 1116 và 1117. Có 1 điều lạ là bây giờ đứng tại đường biên không còn thấy Hữu Nghị Quan ở đâu cả, không còn thấy ta cách Hữu Nghị Quan 100m như trong hòa ước 1887 mà người VN ngày nay vẫn chịu chấp nhận đường biên giới này, chẳng lẽ không thông hiểu lịch sử nước nhà hay sao!

3.4-Cái lý lịch sử. TQ để cho người VN từ ngàn xưa hiểu ải là của chung của 2 nước. Đó là mốc phân ranh, một sở hữu chung. Theo thông lệ giao tiếp thì TQ không tự đơn phương lấy lại ải, dựng dinh cơ nhà cữa bên nay ải được. Hàng trăm năm trước quan biên phòng TQ vẫn đóng bên kia ải, trong trấn Nam Quan. Người TQ ngày nay bị estppel.
Trong giao tiếp người ta xử dụng nguyên tắc Estoppel. Đây là nguyên tắc: Không cứ gì lời nói hay văn bản mới cấu thành trách nhiệm 2 bên A/B. Bên B để bên A HIỂU là A đi chợ sẵn mua cho B bó rau muống. A mua rau đem về. B không thể nại lý do là tôi có biểu hay viết thư biểu A mua đâu mà A bảo B phải trả tiền để lấy rau. Có bằng chứng để kết luận B để cho A HIỂU là phải mua giùm thì B phải có trách nhiệm rồi(phải trả tiền lấy rau). Tòa án công lý quốc tế La Haye xử Thái Lan phải trả đền Preah Vihear cho cambodge vì Thái Lan để Pháp và người Cambodge hiểu trong nhiều năm trời HIỂU đền thuộc người  Pháp và Cambodge mặc dù Thái dẫn nhiều bằng chứng kể cả văn bản để suy ra đền lý ra thuộc về họ(Thái) nhưng những lý lẽ đó không phủ nhận được việc Thái để Pháp-Cambodge HIỂU đền thuộc về họ(Pháp-Cambodge). Trường hợp Ải Nam Quan cũng tương tợ. Hàng mấy 100 năm  2 bên đều HIỂU ải là của chung.
Xây ải thì có thể xây vào thời Minh Gia Tĩnh như đề cập ở phần 1 và 2. Vào thời nhà Mạc, nước ta có nội loạn. Việc xây ải có thể do nhà Minh xây để biên phòng chống quân ly khai ẩn nấp chống nhà Lê Mạc ở Thăng Long. Còn việc tu bổ thì năm 1725 án sát tĩnh Quảng Tây tu bổ. Đốc trấn Lạng Sơn năm 1784 cũng trùng tu ải tương tự như người TQ. Ải là của chung. Không bên này lo tu bổ thì cũng bên kia.
Suốt quá trình lịch sử từ khi ải có tên Pha Lũy, 2 bên cũng để HIỂU ải là của chung. Tháng 9 /1406 phó tướng chinh di Trương Phụ, Trần Húc đem 40 vạn binh đánh vào ải Pha Lũy. Vậy ải thuộc ta hay ít ra cũng là biên ải chung cho 2 nước. Sách Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim nói khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt đem về Kim Lăng(Nam Kinh), Nguyễn Trãi(NT) theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Phi Khanh bảo rằng: " Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ? " NT trở lại. Ải Nam Quan là biên ải.  Kịch thơ Hận Nam Quan của Hoàng Cầm và tên suối Phi Khanh đã lưu truyền trong dân chúng nói lên ý nghĩa đây là nơi biên ải chung. NT theo tới đây thì chia tay cha. Người Việt đến đây mới là hết đất của mình.
Các trận đánh đuổi quân Minh của Lê Lợi thu hồi nền độc lập năm 1427 cũng cho thấy ải là nơi biên thùy chung. Tháng 6 trấn thủ Quảng Tây Cố Hưng Tổ đem 5 vạn quân cứu viện. Đến cữa ải Pha Lũy bị Lê Lựu, Lê Bôi giữ cữa ải phá tan. Tháng 9, ngày 18 Liễu Thăng đem hơn 10 vạn quân đánh vào cữa Pha Lũy. Lê Lựu giữ cữa ải Pha Lũy thấy giặc đến lui giữ cữa ải “Lưu”.
Năm 1540, Nguyên Hòa thứ 8, Minh Gia Tĩnh 19 Mạc Đăng Dung cùng thuộc hạ qua Trấn Nam Quan, đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh. Đoạn sử này mô tả rõ đất trấn và cữa trấn. Mạc Đăng Dung qua cữa trấn để đến mạc phủ. Mạc phủ của quân Minh phải đóng trên đất của nhà Minh ở thủ phủ Bằng Tường hay ở thủ phủ Long Châu. Cữa ải là cái của chung.
Hoạt động ngoại giao đời Lê Thế Tông-Trịnh Tùng cũng cho thấy ải là nơi biên cương chung. Họ Trịnh muốn phục chức ngôi vương mà nhà Minh đã phong cho tiên đế nhà Lê. Nhà Mạc tố cáo họ Trịnh tiếm ngôi. Nhà Minh tổ chức hội khám xem thực hư. Bị nhà Mạc đút lót quan biên phòng nên cuộc khám xét hẹn tới hẹn lui rồi đến tháng 4, mồng 10 năm 1597, vua Lê chỉnh đốn binh tượng, qua cửa Trấn Nam Giao, cùng với bọn Trần Đôn Lâm và quan các phủ Tư Minh, Thái Bình, các châu Long Châu(Longzhou), Bằng Tường(Pingxiang) tỉnh Quảng Tây cử hành hội khám. Phân biệt rạch ròi cữa trấn và đất trấn. Tháng 12 năm 1598 tiết chế Trịnh Tùng sai bọn đỗ Uông đến cữa trấn Nam Giao đón tiếp Bắc sứ là Phùng Khắc Khoan đi sứ xin phong tước vương(nhưng chỉ phong Đô Thống Sứ như nhà Mạc). Hoạt động cho thấy người Việt chỉ xử dụng đất của mình là tới cữa ải. Phải qua cữa ải mới đến chỗ làm việc của quan biên phòng như thời Mạc Đăng Dung.
Năm 1788 quân Thanh  sang giúp vua Lê chống Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị theo đường lớn từ trấn Nam Quan xuất phát. Trấn thủ Lạng Sơn Phan Khải Đức đầu hàng. Đoạn sử này cũng nói lên ải là địa đầu đến xứ ta và là điểm cuối của quân TQ. Từ đó xuất phát cuộc xâm lăng.
Cuộc xâm lăng cuối cùng: Chiến Tranh Pháp-Thanh. Ít ai biết lần xâm lăng này. Lợi dụng Pháp uy hiếp triều đình Huế nhà Thanh mưu chiếm Bắc VN lấy cớ tiểu trừ thổ phỉ quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc và theo yêu cầu triều đình Huế nhờ quân Thanh đánh Pháp chiếm lại Bắc Thành(thành Hà Nội). Tháng 1 năm 1884  50 ngàn  quân Thanh đóng thành vòng cung từ Hưng Hóa vòng qua Thái Nguyên đến Bắc Ninh. Pháp hạ thành Hưng Hóa, Bắc Ninh, Tuyên Quan, Thái nguyên. Hòa ước Patrenôte(hòa ước Giáp Thân 1884) được ký kết. Triều Huế công nhận Pháp bảo hộ, từ bỏ thần phục nhà Thanh, giao nộp ấn bạc(không chịu nộp mà nấu chảy ra). Nhà Thanh   ký với Pháp chấp nhận hòa ước 1884, rút khỏi Bắc Việt, bàn giao cho Pháp. Pháp lên tiếp nhận Lạng Sơn. Quân Thanh ở làng Bắc Lệ không tuân lệnh. Chiến tranh Pháp-Thanh bùng nổ(9/1884-6/1885 sau trận Bắc Lệ). Pháp đánh Phúc châu(Phúc Kiến), Bành Hồ(eo biển Đài Loan). Thủy quân Thanh vào vịnh Bắc Kỳ. Bộ binh vây thành Tuyên Quang. Pháp giải vây Tuyên Quang và tiến đánh lên vùng biên giới Lạng Sơn, chiến dịch Lạng Sơn(2/1885-3/1885). Pháp-Thanh đình chiến. Lý Hồng Chương ký hiệp ước 1885 chấp nhận hòa ước 1884 và từ bỏ quyền bá chủ. Tháng 12/1885 bác sĩ P. Neis lên Nam Quan tham gia phái đoàn phân định biên giới. Sang năm 1887 ký hiệp ước Pháp-Thanh phân định biên giới Bắc Kỳ-TQ. Trong chiến tranh này vẫn thấy biên giới là cữa Trấn Nam Quan. Khi hòa bình được lập lại, phái đoàn nhà Thanh đòi cực lực cổng và tường thành không phải đường biên giới(trái với tổ tiên của họ). Họ muốn ít nhất vài mét đám đất trống ở phía trước(les commissaries chinois tiennent absolument à ce que la porte et le mur crenele ne soient pas la ligne frontière; ils veulent au moins quelques mètres de terrain inculte situe en avant). Cuối cùng phái đoàn Pháp nhận đường biên là con suối cách ải 150m. Các phái đoàn về sau cắm  mốc cột 18 cách ải 100m. Chỉ 1 chút này mà đàn anh TQ lấy trọn ải Nam Quan sao!
Bề dày lịch sử như vậy, ông cha 2 bên thỏa thuận nhau như vậy không chỉ vì 1 toán nhỏ thành viên nhà Thanh tham gia phân định biên giới năm 1885 ngược ngạo không chịu lấy bờ tường làm mốc mà đòi cắm mốc ở mặt Nam của ải mà hậu sinh người TQ lấy cớ đó sang mặt Nam ải xây dinh cơ nhà cữa để lấy trọn ải và chiếm cao điểm phía Đông Nam nhòm ngó đường vào thung lũng Đồng Đăng.
Bao đời trước, mạc phủ quân biên phòng TQ đều đóng ở phía Bắc cửa ải, trong đất Trấn Nam Quan, để cái ải là của chung. Đất bên mặt này thuộc về tôi, đất bên mặt kia thuộc về anh. Đặc tính biên giới là như vậy nên biết bao trường hợp người ta dùng biên giới để dung thân, tránh né chính quyền bên này hay bên kia. Ở đây không có dòng sông thì ngày xưa ông bà cả 2 bên lấy tường thành làm giới mốc:“Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện” như ý của Nguyễn Du khi đi sứ qua đây mô tả ải.
Các ải kia như ở Móng Cái, Lào Cai đều như vậy. Cái cầu là của chung. Đầu bên nay tôi xây cái cữa. Đầu bên kia anh xây cái cữa. Đi qua khỏi cái cữa là vào đất tôi, qua khỏi cữa thì vào đất của anh. Đứng ở giữa là ở trên biên giới, tức phần trách nhiệm chung của 2 lân quốc.
Giao tiếp thường tình hàng xóm với nhau của dân chúng cũng thế. Bức tường, hàng rào có thể do bên này hay bên kia xây và thuộc về họ nhưng đất ở chân mặt bên này hay bên kia là của riêng. Các ảnh khi còn gắn biển “Trấn Nam Quan” đều cho thấy tường ải rất dày. Chiến tranh nổ ra chỉ phần trùng đài bị phá và được xây lại nhiều lần mà thôi. Tường dày của ải đủ để phân định chủ quyền và là của chung. Nểu đúng nghĩa hữu nghị thì phải xem ải là của chung, là đường ranh chung.
Saigon 14 tháng 9 năm 2011
HuynhBaCung
 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét