![]() |
| Mất Ải Nam Quan Phần 3 |
![]() |
| Xuất hiện tòa nhà kiểu Pháp ở mặt sau ải |
![]() |
| Tòa nhà kiểu Pháp ở mặt sau ải |
![]() |
| Các em khiếm thị TQ |
![]() |
| Nông dân Đồng Đăng chứng kiến lằn biên. |
![]() |
| 12 cữa khẩu ở Nam Quan |
![]() |
| Pháp tiến đánh ải Nam Quan năm 1885. |
Mất ẢI NAM QUAN
Phần 3.
(Hôm nay 16-8-2013)
Việt Nam mất ải Nam Quan: Ngay
sau ảnh Mục Nam Quan thấy có 1 tòa
nhà có kiến trúc kiểu Pháp mà các ảnh Nam Quan thời Pháp Thuộc được sưu tầm không
thấy có. Nhiều tác giả cho Mục Nam Quan, năm 1965 gọi là Hữu Nghị Quan, được xây mới ở trong đất Đồng
Đăng, nơi đây có khả năng có 1 kiến trúc của Pháp. Việt Nam mất ải Nam Quan từ đây? Ta chỉ biết trên đồi Đông
Nam, trong đất Đồng Đăng, trong bản đồ Charpès năm 1894 thấy có lô cốt của Pháp đang xây dựng(blockhaus
francais en constructions). Suy ra có khả năng ở dưới chân đồi đó có thể có 1 kiến trúc của Pháp dùng cho nhân viên biên phòng? Bây giờ nó xuất hiện ở mặt sau Hữu Nghị Quan? Tất cả chỉ là nghi vấn.
Năm 1961 HCM và Chu Ân Lai hội
đàm trên lầu 2 Mục NamQuan không biết đề cập đến việc gì. Năm 1958 thì có việc TQ
tuyên bố về lãnh hải và đề cập tới Tam Sa. TQ để lộ ý chiếm những điểm chiến lược
ở phía Nam. Năm 1999 Hiệp Ứơc Biên Giới Việt-Trung ra đời làm dấy lên việc VN mất
còn ải Nam Quan lan truyền trên mạng truyền thông. Năm 2002 thì bắt đầu tiến
hành cắm mốc và nói đến năm 2008 sẽ hoàn thành. Người ta nói cột mốc(CM) cũ 53 ở
Bản Giốc và cột 18 ở ải Nam Quan bị di dời.
1-Các cột móc cũ. Có nhiều ảnh CM 53 và CM 18 không phân biệt được thật hay
giả được đưa ra làm rối cả mắt không biết đâu mà nhận định sự việc thật hay hư.
Tìm hiểu thì sự việc lại rõ ra dần dần. Các cột móc không phải đánh số theo thứ
tự đồng loạt. Có 3 đoạn cắm mốc. Đoạn Đông Quảng Tây(thời đó gọi Quảng Đông)
đánh dấu từ cữa Bắc Luân(cột số 1). Đoạn Tây Quảng Tây khởi sự ở cữa Bình Nhi(cột
số 1) trên sông Kỳ Cùng đánh số về bên Tả Ngạn đến Nam Quan là số 18 và 19 và về
Hữu Ngạn tới Bản Giốc là số 53, 54. Đoạn Vân Nam lấy gốc ở sông Hồng, đánh số về
bên Tả và bên Hữu. Vì thế có nhiều cột móc trùng số.
2-Cột móc số 18 và cột Km0.
2.1-Cột móc 18 và 19 cũ. Bác sĩ P. Neis là thành viên trong phái đoàn phân định
biên giới tháng 12 năm 1885 sau chiến dịch Lạng Sơn(2/1885-3/1885) trong trận
chiến Pháp-Thanh(9/1884-6/1885). Trong bài viết “Sur les frontières du Tonkin,”
bác sĩ nói bên TQ yêu cầu mạnh mẽ nói cữa ải và tường thành có lỗ châu mai
không phải là đường biên. Cột móc phải đặt trước mặt về phía Nam ít nhất vài mét. Phái đoàn Pháp nhượng bộ. Kết quả nói đường biên
đi theo 1 con suối cách xa cữa ải 150m. Trong bộ tài liệu lưu trử tại Văn Khố
Đông Dương ở Aix-en-Provence, Biên Bản Số 4(Procès verbal N04) viết:
“Phái đoàn Pháp-Hoa nhìn nhận ngày 4-7-1886 rằng bắt đầu từ điểm ở 100m phía trước cổng Nam Quan,
trên đường Nam Quan đến Đồng Đăng, đường biên giới leo lên về phía Tây cho tới
đỉnh núi đá trên đó có cái đồn tọa lạc(sur lequel est situe’ le fort) được đánh
dấu điểm A trên giấy(croquis) đính kèm, từ đồn đó nó theo cao độ bức tường
đá(le haut de la muraille rocheuse) trông xuống con đường Đồng Đăng cho đến điểm
được đánh dấu B trên giấy. Điểm B này ở nơi mà con đường mòn, tách ra từ con đường
Đồng Đăng đến Nam Quan, dẫn đến làng Lung Ngieu, cắt bức tường đá. Kế tiếp nó
đi theo chính con đường mòn này cho tới
cổng làng Lung Ngieu. Bắt đầu từ cổng đó nó rở lại lấy độ cao của núi
đá(reprend le haut des rochers) bao quanh thung lũng làng Lũng Ngieu để đi đến
điểm đánh dấu C. Từ điểm C nó hướng về Tây cho đến cổng Kida.)
Mô tả cho thấy đường đỉnh bức
tường đá và đường đỉnh núi đá bao quanh làng Lũng Ngieu chênh nhau 1 đoạn
Đông-Tây(từ điểm B đến cổng làng.)
Còn biên bản ký 21-4-1891 liệt kê tên các cột móc theo thứ tự:
Đoạn thứ nhất từ Móng Cái tới biên giới Quảng Đông-Quảng Tây. Đoạn thứ 2 từ Chi
Ma đến Nam Quan:…cột thứ 24(cột 19) ở trên đỉnh đồi đối diện đồn Kouei-Tao của
TQ(24è bone: sur le sommet place’ face du fort chinois de Kouei-Tao Khon Long Ải
坤隆); cột thứ 25(cột 18) ở 100m phía trước cữa Nam
Quan trên đường Đồng Đăng đến Nam Quan(25è
borne: à 100m en avant de la porte de Nam Quan sur le chemin de Dong-Dang à Nam
Quan). Đoạn
thứ 3 từ Nam Quan tới Bình Nhi:…cột thứ nhất(cột 18) ở trên đường Nam Quan-Đồng Đăng
về phía Nam cữa ải 100m(1er borne: sur le
chemin de Nam Quan à Dong Dang à 100m au S de la porte); cột thứ 2(cột 17) ở 1
đèo nhỏ cắt sống lưng dãy núi đá và ở trên đường mòn đi từ đường Đồng Đăng đến
làng Lung Ngao(2è borne: au petit col coupant
la crête rocheuse sur le sentier
allant de la route de Dong Dang à Nam Quan au village de Lung Ngao. Lộng Diêu弄搖.). Nơi đây được đánh dấu điểm B trong biên bản nói trên;
cột thứ 3(cột 16)
ở 250m phía Tây làng Lung Ngao trên đường mòn đi đến Khua-Da( 3è borne: à 250 m à l’O du village de
Lung-Ngao sur le sentier allant à Khua-Da); cột thứ 4(cột 15) ở cữa
khẩu Bo-Sa(4è borne: à la porte de Bo-Sa Ải.
Bố Sa).
Kết luận: Từ
cột 18 đến cột 16 đường biên qua 3 điểm và 3 ải. Cột 18 nằm ở điểm 100m trước Ải Nam Quan và ở trên đường Nam Quan-Đồng
Đăng. Điểm A có đồn binh và ở trên đỉnh
bức tường đá. Điểm B có đồn binh và
cữa ải nhỏ có đường mòn đi vào làng
Lũng ngieu. Điểm C ở trên núi đá bao
bọc làng Lũng Ngieu. Bức tường đá(muraille
rocheuse) và núi đá(des rochers)
bao làng Lũng Ngieu cách nhau 1 đoạn đường mòn(từ điểm B vào cổng làng). Cột 16
ở cữa ải Kida, trên đường mòn đi
Khua Da và ở phía Tây làng Lung Ngieu 250m.
Mô tả như vậy thì quá rõ địa
giới phần tận cùng đất của Trấn Nam Quan(cái mũi của “mỏ vẹc”) vào sâu tới đâu
trong đất Lạng Sơn(Đồng Đăng). Biên giới thời Pháp Thuộc quá rạch ròi, chính
xác và bình đẳng(kẻ một cách tự nhiên theo đường đỉnh. Đỉnh này qua đỉnh kia,
giữa là ải). Nếu TQ di dời cột 18 xuống tới đường mòn đi vào Lũng Ngieu(cột 17)
thì trọn bức tường đá và đoạn đường Nam Quan-Đồng Đăng ở dưới chân mà nó khống
chế(le haut de la muraille rocheuse qui domine la route như biên bản số 4 trên
kia mô tả) thuộc TQ. Đường biên ở trên đỉnh bức tường đá bây giờ sẽ dời về phía Đông và ở trên đường đỉnh
dãy núi đất(ở trên đỉnh các đồi ở phía Đông Nam).
Bắt đầu từ hòa ước
Pháp-Thanh 1887 mới có ý niệm biên giới cách cữa ải 100m ở trong đầu người TQ
và người VN. Ý niệm mặt Bắc cữa ải thuộc TQ, mặt Nam cữa ải thuộc Đại Việt như
ông cha không còn nữa(xem bài viết phần 1 và bài viết phần 2).
2.2-Cột móc 18 và 19 bị di dời. TQ tiến hành xóa bỏ CM 18. Năm 1979 ban giao Trung-Việt
trở nên xấu đi. Một Giác Thư(Memorandum) Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN công bố
15-3-1979 tố cáo “TQ lợi dụng sửa chữa đường
sắt dời nối ray 300m về phía Nam, ủi nát
mốc biên giới số 18 nằm cách cữa Nam Quan 100m trên đường Quốc Lộ rồi đặt cột
Km0 đường bộ sâu vào lãnh thổ VN
trên 100m.”
Nhận xét quan trọng: cho thấy cột 19 cũng bị di dời. Biên bản mô tả cọc 19 ở trên đỉnh đồi
đối diện với đồn Kouei-Tao Khon
Long Ải của TQ(sur le sommet place’ face du fort chinois de Kouei-Tao Khon Long Ải).
Nếu ải nhỏ ở cột 17(điểm B) là ải
Kouei-Tao Khon Long và tên ải cũng là tên đồn thì rõ ràng cột 19 đối diện với ải
nhỏ này, tức đối diện với cột 17. Đồn này(ở điểm B, chỗ cột 17) khác với đồn ở
trên đỉnh bức tường đá(ở điểm A, đối diện cột 18). Giữa A và B quá ngắn không
thể có đồn nào khác để mà lầm. Cột 19 ngày nay cắm ở chân 1 cái đồi mà đỉnh
không có công sự. Như thế cột 19 cũ bị di dời. Cột 19 cũ ở đồi Đông Nam đối diện
cột 17 cũ ở đồi Tây Nam, chỗ điểm B. Đồi Đông Nam có lô cốt của Pháp đang xây dựng
và đồi Tây Nam có đồn TQ Kouei-Tao Khon
Long Ải. Như vậy đường biên cũ từ
cột 18 đến cột 19 phải chạy từ Tây sang Đông hơi chênh chếch xuống phía Nam 1
chút(TAT). Còn đường biên từ đồn ở điểm A chạy xuống tới cột 18 thì chạy thẳng
Tây sang Đông(MTL). Nghĩa là đường biên cũ gồm 1 đoạn thẳng và 1 đoạn xiên xuống
phía Nam. Trong bản đồ khó thấy đường biên gồm 2 đoạn như thế. Cột 19 ở trên đồi
ĐôngNam. Điều này rất họp lý, có thể tin được. Khi cột móc 18 dời về Nam 100m,
tức không chạy thẳng lên đỉnh đồi ở phía Đông nên cột 19 phải dời về đỉnh đồi
phía ĐôngNam. Sau đó Pháp xây lô cốt trên đó là nơi thuộc quyền của họ ở sát đường
biên. Pháp sở hữu ½ cái đồi. Không biết ở Nam cột 18 Pháp có xây kiến trúc nào
nữa hay không. Những thông tin này giúp nhận định cột 19 cũ bị bị di dời và giải
thích cái nhà kiểu Pháp ở đàng sau Hữu Nghị Quan.
Giữa 2 đồi(cột 17, 19) là đường
Đồng Đăng đến Nam Quan(ĐĐ-NQ) và đường
mòn cắt đường ĐĐ-NQ rồi đi vào Lũng Ngao (xem các biên bản, bản đồ Charpès 1894
và ảnh Các Đồi ở Phía Nam ải).
2.3-Cột móc Km0. Truyền khẩu nói khoảng năm 1960 Phạm Văn Đồng trồng 1
cây si-Cây Si Phạm Văn Đồng(CSPVĐ)- ở trước mặt cữa ải để đánh dấu đường biên
cách ải 100m(để thay thế cột 18?). Nhưng tác giả Chân Mây tìm hiểu qua khách du
lịch, người địa phương và tài liệu tiếng Hoa mới biết về cây “Trung
Việt Hữu Nghị Thụ.” Cây này là cây cổ thụ ở trước cổng Mục Nam Quan.
Năm 1961 HCM hội đàm với Chu Ân Lai ở Bằng Tường, trên lầu Mục Nam Quan. HCM
khen tặng họ Chu nói “Tình hữu nghị
Trung-Việt như cổ thụ ở Mục Nam Quan luôn xanh mãi không bao giờ thay đổi.”
Do chuyện này nên từ năm 1965 cây được gọi là “Trung Việt Hữu nghị Thụ” còn CSPVĐ trồng trong sân Mục Nam Quan để
đánh dấu mốc đường biên cách cữa ải 100m là một cây khác. Cũng có thể không có CSPVĐ.
Chuyện được đặt ra để lợi dụng lấy đó làm mốc giới dựng cột Km0 theo ý tưởng đường
biên cách ải 100m. Cột móc Km0 thay cột 18 bị xóa dấu vết.
Các lãnh đạo đời sau không
trở về lịch sử để đòi cho được mặt Nam của cữa ải thuộc về người Việt như ông
cha bao đời mà chấp nhận nhượng bộ của Pháp, chấp nhận đường biên cách ải 100m. Vì thế mới có chuyện CSPVĐ, cây
si thật hay phao tin có cây si Phạm Văn Đồng để đánh dấu cột Km0? Trước đây người Pháp không hiểu lịch sử và văn hóa VN nên
mới nhượng bộ khi bị ép xê dịch đường biên. Người Việt thì không thể nhượng bộ
như vậy được.
Có nhiều hình ảnh về cột Km0
được tung ra. Thoạt đầu 1 bức ảnh nói CSPVĐ
ở trong sân trước mặt ải, cây còn nhỏ. Xa về góc Phải có tòa nhà trắng hải
quan TQ nói là xây trên nền tòa nhà tròn. Các bức ảnh có tòa nhà tròn cho thấy
Trùng Đài(TĐ) thấp, hình chóp cụt, nét kiến trúc thẳng khác TĐ Hữu Nghị Quan
xây sau hay vào năm 1965 có TĐ cao nhọn. Vậy CSPVĐ ở trong sân phải có trước năm 1965(tương ứng
trùng đài thấp). Đó là CSPVĐ trước năm 1965,
cột móc Km0(1).
Kết tiếp, bức ảnh cho thấy CSPVĐ nay đã lớn đứng trước ải. TĐ có 3 tầng cao, nhọn,
khác với TĐ thấy trong ảnh có tòa nhà tròn. Như vậy đây là CSPVĐ
sau 1965, cột mốc Km0(2). Đứng tại cây si này thì còn thấy rõ ải bây giờ
gọi là Hữu Nghị Quan. Bức ảnh chụp năm 1990
cho thấy cột Km0 đề chữ H.N. QUAN cắm ở trước 1 cây to(CSPVĐ?), cột mốc H.N. QUAN Km0(3). Đứng nơi đây không còn thấy Hữu
Nghị Quan(HNQ) đâu cả. Tức mốc Km0 lần này được dời xa xuống phía Nam. Bức ảnh
đầu thập niên 2000(lúc xây dựng đường
cao tốc, và hầm đường cao tốc tức sau hiệp ước Phân Định Biên Giới 1999 ) cho
thấy cột móc Km0 đề chữ HỮU NGHỊ, mất chữ
QUAN cắm trước gốc 1 cái cây đã bị đốn đi, cột móc HỮU NGHỊ Km0(4). Đứng nơi đây cũng không thấy HNQ. Bức ảnh chụp
năm 2005 cho thấy sau cột HỮU NGHỊ Km0 không thấy Hữu Nghị Quan
đâu cả mà chỉ thấy có 2 cữa hầm đường
cao tốc(2 cữa hầm thay thế Hữu Nghị Quan), cột mốc HỮU NGHỊ Km0(5). Cữa hầm được cho là xuyên qua cái đồi cao điểm
ở phía Đông Nam ải và mở vào 1 quãng trường với khu hải quan có bia Nam Cương
Quốc Môn.
3-Chuyện Mất Còn Ải Nam Quan. Sau Hiệp Ước Phân Định Biên Giới Việt-Trung năm 1999 nổi
lên thông tin VN mất ải Nam Quan lan truyền trên mạng. Thứ trưởng bộ ngoại
giao, trưởng ban biên giới ông Lê Công Phụng, nói dù cách 100 hay 200m, cách
bao nhiêu thì ải cũng thuộc TQ khi đường biên được đưa qua khỏi mặt Nam của ải(hòa
ước Pháp-Thanh 1887). Tức VN không mất ải. Ải đã thuộc về TQ từ năm 1887.
3.1 Thông tin trên mạng Trong buổi ban đầu không
biết vì quá bức xúc hay còn thiếu tài liệu nên 1 số bài viết viết “lố” thiếu
chính xác nên có bài phản bác cho bài nói mất ải là bài của phe thù địch. Ví dụ
như bài nói biên giới ở Ải Nam Quan bị dời đi 500m. Có lẽ lập luận do điểm nối
ray đường sắt TQ vào đường sắt VN bị dời 300m cọng với cột Km0 dời đi 200m mà
ra. Hay nói biên giới dời trên 5km là sai với sách địa dư: Cữa Nam Quan ở Km
167. Đồng Đăng ở Km 162. Dời 5Km là tới Đồng Đăng là phi lý(các tài liệu người Pháp viết nói Đồng Đăng đến
Nam Quan khi thì 4km, khi thì 3km). Phe phản bác chỉ trích gay gắt.
Có nhiều chi tiết khác nói “lố” tương tự do buổi
ban đầu thiếu tài liệu làm giảm độ tin tưởng của bài viết gây sự nghi ngờ
chuyện mất ải. Người ta tin nói mất ải là do ác ý của thế lực thù địch. Lâu
ngày người dân trở nên vô cảm chuyện mất còn. Dần dần có nhiều bài viết và hình
ảnh được mô tả khách quan, có giá trị khoa học làm ta nhận định được việc mất
hay còn. Tổng họp các bài viết có giá
trị ta thấy có sự di dời thật chưa kể Giác
Thư(Memorandum) của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN công bố 15-3-1979 nói TQ dời nối ray
đường xe lửa xuống sâu 300m và đặt cột Km0 đường bộ sâu vào lãnh thổ VN(xem mục 2).
Hình ảnh cột móc Km0(1,2,3,4,5) với “cây si” Phạm
Văn Đồng đứng đàng sau làm chứng lần lượt được tung ra mà vị trí càng ngày càng
xa Hữu Nghị Quan tới 1 lúc đứng ở đây không còn thấy trùng đài đâu cả như trình
bày trên đây(xem mục số 2 trong bài này). Lúc đó mới hay cột Km0 bị dời xuống
phía Nam! Kiểu cứ nói Tam Sa của TQ ở trong Biển Đông riết rồi nó cũng ở trong
Biển Đông thật.
Trường họp thứ 2: trong các bản đồ cũ cho thấy
đường biên đi từ cột 18 tới cột 19 thẳng từ Tây sang Đông(Mai Thái Lĩnh) hay
chếch xuống Đông Nam một chút(Trương Nhân Tuấn) trong khi bản đồ 249C đường
biên do VN lẫn TQ đưa ra yêu cầu đều có xu hướng chếch lên hướng Đông Bắc, có
nghĩa cột Km0 bị dời xuống TâyNam. Định tính thì thấy như thế nhưng không biết
dời đi bao nhiêu.
Để định lượng là đã dời bao nhiêu, tác giả Trương
Nhân Tuấn(TNT) bảo phải lấy bản đồ cũ và nội dung các biên bản của hiệp định
phân định biên giới Pháp-Thanh quy chiếu mới có giá trị thuyết phục(xem mục số
2). Xét các bản đồ SGI của sở Địa Dư Đông Dương, bản đồ của Charpès năm 1894,
bản đồ 249C có kèm bản đồ cũ đối chiếu và hình ảnh chụp hay họa thời Pháp thuộc
ta có kết luận:
Ở trên trục
chính Đồng
Đăng đến Nam Quan độ di dời trên dưới 400m(TAT).
Hiện đường hầm xuyên núi nói là xuyên qua quả đồi cao điểm ở Đông Nam của ải,
để cao tốc 322 nối kết với QL 1A tại mốc 1116(Km0) và 1117 đối diện bên kia
đường. Cột số 19 cũ thì ở trên đỉnh đồi mà đường hầm xuyên qua(có đặt công sự).
Tước 2 miệng hầm có 1 khoảng cách mới tới chân 1 cái đồi nói là có cột 19
dựng ở đây trùng với cột 1118 ngày nay. Trên đỉnh đồi không có công sự nên nhiều
tác giả nói đó là vị trí cột 19 mới.
Nửa qủa đồi Đông Nam cọng khoảng
cách từ 2 cữa hầm Nam đến chân đồi cắm cột 1118 ước chừng 400m(TAT). Đối chiếu
đồi có cọc mốc 19 cũ đối diện với đồi có cọc mốc số 17 cũ, nơi có con đường mòn
cắt đường Đồng Đăng đến Nam Quan để vào Lũng Ngao như biên bản cắm mốc mô tả và
thấy trên bản đồ Charpès 1894, thì ta thấy đường biên dời xuống rất nhiều, qua
khỏi các đồi Đông Nam.
Đường biên
phía Tây
thay vì chạy trên đỉnh bức tường đá(la
muraille rocheuse) và trên đỉnh của dãy núi đá(la crête rocheuse) bao quanh làng Lũng Ngiêu
thì bây giờ chạy ở dưới chân. Xem độ rộng của sườn núi(đếm vòng cao độ) thì biết di
dời vào đất Đồng Đăng là bao nhiêu.
Đường biên ở phía Đông cũng không có xu
hướng chạy trên đường đỉnh dãy núi đất. Rõ nhất ở cao điểm 474. Đường biên rẽ
sang Đông để ngọn đồi này thuộc TQ.
3.2-Chuyện mất còn. Việc mất hay còn không phải
ở vài trăm thước đất hay Km đường. Ở chỗ rừng rú vô cảm thì mất mát chẳng nhằm
nhò gì. Ỏ đây cũng như ở Bản Giốc mất mát là mất di sản văn hóa lịch sử, mất
tình hữu nghị của 2 lân bang do tính chất lấn hơn của nước lớn áp đặt nước nhỏ
phải cam chịu. Chẳng lẽ chỉ 1 chuyện nhỏ thành viên người Thanh không chịu cắm
mốc tại bờ thành của ải mà cả dân tộc chịu để mất di tích lịch sử văn hóa đã tồn
tại mấy trăm năm! Và các cao điểm
chiến lược của ta dùng để khống chế đường vào Đồng Đăng ở phía Đông Nam của ải
cũng bị mất. Tổ tiên của 2 lân quốc đã từng gìn giữ hình ảnh ải không thay đổi bao
nhiêu cả trên 500 năm(1406-1946) từ ngày ải có tên. Tự nhiên nay TQ đơn phương
xây dựng nhà cữa lâu đài bên mặt Nam làm ải thay đổi quá nhiều. Người VN không
còn thấy “mặt mũi” cái ải thời tổ tiên nữa, một di tích thuộc sở hữu chung của
2 nước. Trước đây TQ đơn phương ký với Pháp, ép Pháp nhượng bộ(nhật ký của bác
sĩ P. Neis) xê dịch cột mốc về phía Nam cách ải 150m(các biên bản về sau nói
100m) để hưởng trọn cái ải. Sao không
nghĩ Pháp đã từng nhường cho người Thanh các làng người Việt vùng Trường Bình-Bạch
Long thuộc huyện Phòng Thành Cảng(Fangchenggan), kế cận Khâm Châu(Quizhou), đưa
biên giới từ sông Dương Hà còn gọi là An Nam Giang (Fengchen River) bao luôn
mũi Bạch Long(wikipedia-carte du Tong King 1879) dời về sông Bắc Luân ở Móng
Cái(xem Người Việt Ly Hương đăng trong blog này). Nay di tích ải Nam Quan này
thuộc của chung mà TQ cũng áp đặt chiếm lấy. Hữu Nghị ở chỗ nào? Hiệp ước
Pháp-Thanh bất bình đẳng? Nay phân định lại cho bình đẳng hơn ở chỗ nào? Xét về
lịch sử và địa thế tự nhiên của ải ta không thể chịu như vậy được.
3.3-Cái lý tự nhiên theo
địa thế buộc như vậy. Tự nhiên thiên
nhiên vạch ra nơi đây là biên ải ngăn chia 2 nước. Trên bản đồ ta thấy đường
biên Việt-Trung tự nhiên đang chạy thẳng xuống gần như thẳng đứng từ Bắc xuống
Nam bỗng dưng ngoặc xiên theo hướng TâyBắc xuống Đôngnam rồi vòng ngược lại làm
thành hình “mỏ vẹc” đâm thọt vào đất Lạng Sơn. Mới nhìn ta cứ tưởng nhà làm bản
đồ muốn ăn gian lấn đất vào Lạng Sơn nhưng nhìn kỹ không phải ý đồ lấn đất mà kẽ
đường biên như thế là theo thế đất tự nhiên. Thọt vào như vậy là do địa thế phải
như vậy thôi. Thung lũng Bằng Tường chạy thọt vào đất Lạng Sơn.
Trên bản đồ có kẽ đường vòng
cao độ thì nhận ra rõ việc đương nhiên đó. Sông Tả Giang bên TQ chạy đến thủ phủ
Long Châu(Longzhou) thì nhận 2 nguồn là sông Bằng Giang từ Cao Bằng chảy sang
theo hướng TâyBăc-ĐôngNam và sông Kỳ Cùng chảy theo hướng TâyNam lên ĐôngBắc rồi
sang Đông tới làng biên giới Bình Nhi, tiếp tục về Đông để đến Long Châu TQ.
Quân Quảng Châu(Lưỡng Quản) vào Giao Châu theo 2 lối này. Trên sông Kỳ Cùng
thuyền bè chỉ đi được từ Long Châu đến ải Bình Nhi. Đoạn trên đất VN sông có
nhiều gềnh thác hiểm trở. Quân phải rẽ xuống phía Nam theo hướng Bắc xuống Nam
dọc theo biên giới, theo thung lũng Bằng Tường(Panxiang). Qua khỏi Bằng Tường,
thung lũng hẹp dần và chạy theo hướng ĐôngBắc xuống TâyNam tức theo trục của “mỏ
vẹc” nói trên, thọt vào đất Đồng Đăng của Lạng Sơn.
Trên bản đồ quân sự Jm
Henthorn dùng trong chiến tranh VN thập niên 1960 ta thấy thung lũng chạy từ Bằng
Tường đến đây hẹp lại. Thung lũng bị kẹp gữa 2 vòng cao độ 1500 feet(trên 400m),
hẹp dần cho tới chổ ải Nam Quan. Trong bản đồ của Charpès năm 1894 cho thấy rõ
đường phân thủy ở dãy núi đất ở phía Đông. Chỗ ải là nơi dãy đồi núi đất ở phía
Đông kẹp sát vào dãy núi đá(biên bản nói trên gọi là bức tường đá) ở phía Tây.
Thung lũng đã từ trên cao(400m) xuống thấp tới đây. Bây giờ thung lũng trông
như 1 cái rãnh hẹp. Bác sĩ P. Neis mô tả trong “Sur les frontières du Tonkin”:
“Ải Nam Quan nằm ở dưới 1 rảnh núi hẹp, hai bên là hai đồi núi
khá dựng đứng, cao chừng 50-60 m.” Đồi cao 50-60m nhưng ở trên vùng cao độ
dưới 1500 feet(400m) trên mực nước
biển(màu nâu). Bên kia ải là thung lũng Đồng Đăng(màu vàng) hạn định bỡi vòng
cao độ 1000 feet thấp hơn hơn(trên 300m)
cũng chạy lên tới đây. Rõ ràng nơi đây là 1 cái đèo ở giữa 2 đường phân thủy.
Nước chia đôi đường: về Bằng Tường ở phía Bắc và về Đồng Đăng ở phía Nam. Đường
phân thủy thấy rõ ở cánh phía Đông của ải trong bản đồ của Charpès.
Trên bản đồ của Charpès năm
1894 mà Trương Nhân Tuấn công bố ta thấy dãy núi đất phía Đông chạy xuống Nam
thấp dần làm các nguồn nước chảy về Nam và về Đông Nam. Các nguồn nước đổ vào 1
suối lớn ở phía Nam của ải chảy về TâyNam. Suối đổi hướng chảy xuống Nam men
theo đường xe lửa(thấy trong các bản đồ sau nầy) trong thung lũng đến Đồng Đăng
rồi suối tiếp nối vào sông Hang là 1 nguồn của sông Kỳ Cùng. Phía Tây “mỏ vẹc”
có núi đá nhấp nhô hơn phía Đông.
Trong hồi ký tháng 12 năm
1885(sau chiến dịch Lạng Sơn và sau trận Bắc Lệ) của bác sĩ Neis, tác giả nói đường
biên là con suối cách ải 150m về phía Nam. Có phải suối này là 1 chi lưu của suối
lớn đó. Còn trong chuyện chia tay lịch sử cha con Nguyễn Phi Khanh-Nguyễn Trãi ở Ải Nam Quan thì nói nơi chia tay ở tại
con suối sau này gọi kỷ niệm là suối Phi Khanh. Có phải là chi lưu này?
Trên bản đồ Jm Henthorn cũng
thấy sự phân thủy. Nước từ biên giới(trên
đường đỉnh) phía Tây “mỏ vẹc” tiếp tục đổ nước xuống phía TâyNam vào hạ lưu
sông Hang. Sông Hang chảy về Tâybắc rồi hợp lưu vào sông Kỳ Cùng.
Tóm lại biên của “mỏ vẹc” là
1 đường phân thủy hình vòng cung tự nhiên giới hạn Trấn Nam Quan ở phía Bắc(trong
vùng mỏ vẹc cao 400m) với Đồng Đăng phía Nam(cao 300m). Hạ lưu sông Hang và 1
nhánh hữu ngạn thượng lưu của nó hình thành 1 vòng cung hình chữ V ôm khu “mỏ vẹc.”
Biên cương định tại thiên thư. Địa thế (căn cứ đường phân thủy) cho thấy Trấn
Nam Quan(mỏ vẹc) phải hẹp. Tại sao người TQ cứ muốn cái “mỏ vẹc” cứ phình ra lấn
đất sang đất Đồng Đăng ở phía dưới(phần màu vàng là vùng cao độ dưới 300m thấp
hơn Trấn Nam Quan màu nâu là vùng cao độ trên 300m)? Thiên nhiên phân định rõ
ràng.
Trên bản đồ Jm Henthorn cho
thấy địa hình núi non ở ải. Phía Tây ải có nhiều đồi núi đá. Một trái núi đá to(biên bản nói là bức
tường đá) ở ngay tại ải. Phía Đông dãy núi đất ép sát vào dãy núi đá. Phía
ĐôngNam ải có mấy đồi cao của dãy núi đất thấy rõ ở bản đồ của Charpes 1894. Chính nơi đây dựng 1 đường biên phân chia
Nam-Bắc. Đường biên Tây sang Đông xắn ngang qua khe núi. Bức ảnh 598 và 792
cho thấy dãy núi đá hùng vĩ ở phía Tây của ải và ải nằm ở đáy của 1 khe núi hẹp
như Neis mô tả. Nơi đây là phần chót của 2 thung lũng gặp nhau: Bằng Tường ở
Phiá Bắc(cao 400m). Đồng Đăng ở phía Nam(cao 300m). Tại đường biên này tổ tiên
của 2 lân quốc đã dựng lên cái lũy để phân chia: “Lưỡng quốc bình phân cô
lũy diện /Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…” (Nguyễn Du). Nghĩa là: Hai nước chia đều nhau(bình phân) bởi mặt
1 chiếc lũy lẻ loi. Một cửa quan oai hùng trấn giữa muôn quả núi. Lịch sử và địa
hình phân chia tự nhiên như thế. Tại sao con người chúng ta ngày nay muốn cải lại
sự phân chia? TQ cuối thế kỷ 20 vượt qua mặt Nam của ải dựng 1 lần trạm hải
quan ở Km0 cách ải 100m lấy cớ Thanh triều đã cắm cọc như vậy năm 1887. Vào đầu
thế kỷ 21 con cháu của họ lại 1 lần nữa dựng cột móc Km0 nhưng cách xa ải(đứng
tại đây không còn thấy ải nữa). Cột móc Km0 nào cũng lấy cây cổ thụ làm chứng
và nói là cây si của Phạm Văn Đồng trồng. Nhưng những lần này tại Km0 không còn
thấy được Trùng Đài của ải nữa. Rồi con cháu họ(TQ) dùng kỷ thuật của thời văn
minh hiện đại đục thủng 1 trái núi phía ĐôngNam của ải để nối kết cao tốc 322
hoành tráng của họ với QL A1 nhỏ bé khiêm nhường của ta. Lần này cữa hầm với
trái núi che khuất tầm nhìn để thấy cảnh ải hùng tráng năm xưa “Lưỡng quốc
bình phân cô lũy diện /Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…” Bây giờ đường biên
chỉ là lằn ranh nối kết mong manh trên đường nhựa LQ 1A nằm khép mình hữu nghị
ép sát vào đường nhựa cao tốc 322 hoành tráng dưới sự chứng kiến của mấy anh
nông dân thật thà Đồng Đăng và bên kia là mấy em mù lòa người TQ đang sờ soạn mấy
ngón tay dò dẫm lên lằn ranh(bienxua.over-blog.com)! Hai bên lằn ranh là 2 cột
mốc mới 1116 và 1117. Có 1 điều lạ là bây giờ đứng tại đường biên không còn thấy
Hữu Nghị Quan ở đâu cả, không còn thấy ta cách Hữu Nghị Quan 100m như trong hòa
ước 1887 mà người VN ngày nay vẫn chịu chấp nhận đường biên giới này, chẳng lẽ
không thông hiểu lịch sử nước nhà hay sao!
3.4-Cái lý lịch sử. TQ để cho người VN từ
ngàn xưa hiểu ải là của chung của 2 nước. Đó là mốc phân ranh, một sở hữu chung.
Theo thông lệ giao tiếp thì TQ không tự đơn phương lấy lại ải, dựng dinh cơ nhà
cữa bên nay ải được. Hàng trăm năm trước quan biên phòng TQ vẫn đóng bên kia ải,
trong trấn Nam Quan. Người TQ ngày nay bị estppel.
Trong
giao tiếp người ta xử dụng nguyên tắc Estoppel. Đây là nguyên tắc: Không cứ gì
lời nói hay văn bản mới cấu thành trách nhiệm 2 bên A/B. Bên B để bên A HIỂU là A đi chợ sẵn mua cho B bó rau
muống. A mua rau đem về. B không thể nại lý do là tôi có biểu hay viết thư biểu A mua đâu mà A bảo B phải trả tiền để lấy
rau. Có bằng chứng để kết luận B để cho A HIỂU
là phải mua giùm thì B phải có trách nhiệm rồi(phải trả tiền lấy rau). Tòa án
công lý quốc tế La Haye xử Thái Lan phải trả đền Preah Vihear cho cambodge vì
Thái Lan để Pháp và người Cambodge hiểu trong nhiều năm trời HIỂU đền thuộc người Pháp và Cambodge mặc dù Thái dẫn nhiều bằng
chứng kể cả văn bản để suy ra đền lý ra thuộc về họ(Thái) nhưng những lý lẽ đó
không phủ nhận được việc Thái để Pháp-Cambodge HIỂU đền thuộc về họ(Pháp-Cambodge). Trường hợp Ải Nam Quan cũng
tương tợ. Hàng mấy 100 năm 2 bên đều HIỂU ải là của chung.
Xây
ải thì có thể xây vào thời Minh Gia Tĩnh như đề cập ở phần 1 và 2. Vào thời nhà
Mạc, nước ta có nội loạn. Việc xây ải có thể do nhà Minh xây để biên phòng chống
quân ly khai ẩn nấp chống nhà Lê Mạc ở Thăng Long. Còn việc tu bổ thì năm 1725
án sát tĩnh Quảng Tây tu bổ. Đốc trấn Lạng Sơn năm 1784 cũng trùng tu ải tương
tự như người TQ. Ải là của chung. Không bên này lo tu bổ thì cũng bên kia.
Suốt
quá trình lịch sử từ khi ải có tên Pha Lũy, 2 bên cũng để HIỂU ải là của chung. Tháng 9 /1406 phó tướng chinh di Trương Phụ,
Trần Húc đem 40 vạn binh đánh vào ải Pha
Lũy. Vậy ải thuộc ta hay ít ra cũng là biên ải chung cho 2 nước. Sách Việt
Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim nói khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt đem về
Kim Lăng(Nam Kinh), Nguyễn Trãi(NT) theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu
trở lại. Phi Khanh bảo rằng: " Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa
thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ? " NT trở lại. Ải Nam
Quan là biên ải. Kịch thơ Hận Nam Quan của
Hoàng Cầm và tên suối Phi Khanh đã lưu truyền trong dân chúng nói lên ý nghĩa
đây là nơi biên ải chung. NT theo tới đây thì chia tay cha. Người Việt đến đây mới
là hết đất của mình.
Các
trận đánh đuổi quân Minh của Lê Lợi thu hồi nền độc lập năm 1427 cũng cho thấy ải
là nơi biên thùy chung. Tháng 6 trấn thủ Quảng Tây Cố Hưng Tổ đem 5 vạn quân cứu
viện. Đến cữa ải Pha Lũy bị Lê Lựu,
Lê Bôi giữ cữa ải phá tan. Tháng 9,
ngày 18 Liễu Thăng đem hơn 10 vạn quân đánh vào cữa Pha Lũy. Lê Lựu giữ cữa ải
Pha Lũy thấy giặc đến lui giữ cữa ải “Lưu”.
Năm 1540, Nguyên Hòa thứ 8, Minh Gia Tĩnh 19 Mạc
Đăng Dung cùng thuộc hạ qua Trấn Nam Quan, đến phủ phục trước mạc phủ của quân
Minh. Đoạn sử này mô tả rõ đất trấn và cữa trấn. Mạc Đăng Dung qua cữa trấn để đến mạc phủ. Mạc phủ của
quân Minh phải đóng trên đất của nhà Minh ở thủ phủ Bằng Tường hay ở thủ phủ
Long Châu. Cữa ải là cái của chung.
Hoạt động ngoại giao đời Lê Thế Tông-Trịnh Tùng
cũng cho thấy ải là nơi biên cương chung. Họ Trịnh muốn phục chức ngôi vương mà
nhà Minh đã phong cho tiên đế nhà Lê. Nhà Mạc tố cáo họ Trịnh tiếm ngôi. Nhà
Minh tổ chức hội khám xem thực hư. Bị nhà Mạc đút lót quan biên phòng nên cuộc
khám xét hẹn tới hẹn lui rồi đến tháng 4, mồng 10 năm 1597, vua Lê chỉnh đốn
binh tượng, qua cửa Trấn Nam Giao, cùng với bọn Trần Đôn Lâm và quan các phủ Tư
Minh, Thái Bình, các châu Long Châu(Longzhou), Bằng Tường(Pingxiang) tỉnh Quảng
Tây cử hành hội khám. Phân biệt rạch ròi cữa trấn và đất trấn. Tháng 12 năm
1598 tiết chế Trịnh Tùng sai bọn đỗ Uông đến
cữa trấn Nam Giao đón tiếp Bắc sứ là Phùng Khắc Khoan đi sứ xin phong tước
vương(nhưng chỉ phong Đô Thống Sứ như nhà Mạc). Hoạt động cho thấy người Việt
chỉ xử dụng đất của mình là tới cữa ải.
Phải qua cữa ải mới đến chỗ làm việc của quan biên phòng như thời Mạc Đăng
Dung.
Năm 1788 quân Thanh
sang giúp vua Lê chống Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị theo đường lớn từ trấn Nam
Quan xuất phát. Trấn thủ Lạng Sơn
Phan Khải Đức đầu hàng. Đoạn sử này cũng nói lên ải là địa đầu đến xứ ta và là
điểm cuối của quân TQ. Từ đó xuất phát cuộc xâm lăng.
Cuộc xâm lăng cuối
cùng: Chiến Tranh
Pháp-Thanh. Ít ai biết lần xâm lăng này. Lợi dụng Pháp uy hiếp triều đình Huế
nhà Thanh mưu chiếm Bắc VN lấy cớ tiểu trừ thổ phỉ quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh
Phúc và theo yêu cầu triều đình Huế nhờ quân Thanh đánh Pháp chiếm lại Bắc
Thành(thành Hà Nội). Tháng 1 năm 1884 50 ngàn
quân Thanh đóng thành vòng cung từ Hưng Hóa vòng qua Thái Nguyên đến Bắc
Ninh. Pháp hạ thành Hưng Hóa, Bắc Ninh, Tuyên Quan, Thái nguyên. Hòa ước
Patrenôte(hòa ước Giáp Thân 1884) được ký kết. Triều Huế công nhận Pháp bảo hộ,
từ bỏ thần phục nhà Thanh, giao nộp ấn bạc(không chịu nộp mà nấu chảy ra). Nhà
Thanh ký với Pháp chấp nhận hòa ước 1884,
rút khỏi Bắc Việt, bàn giao cho Pháp. Pháp lên tiếp nhận Lạng Sơn. Quân Thanh ở
làng Bắc Lệ không tuân lệnh. Chiến
tranh Pháp-Thanh bùng nổ(9/1884-6/1885 sau trận Bắc Lệ). Pháp đánh Phúc
châu(Phúc Kiến), Bành Hồ(eo biển Đài Loan). Thủy quân Thanh vào vịnh Bắc Kỳ. Bộ
binh vây thành Tuyên Quang. Pháp giải vây Tuyên Quang và tiến đánh lên vùng
biên giới Lạng Sơn, chiến dịch Lạng Sơn(2/1885-3/1885). Pháp-Thanh đình chiến. Lý Hồng Chương ký hiệp ước 1885 chấp nhận hòa ước 1884 và từ bỏ
quyền bá chủ. Tháng 12/1885 bác sĩ P. Neis lên Nam Quan tham gia phái đoàn phân
định biên giới. Sang năm 1887 ký
hiệp ước Pháp-Thanh phân định biên giới Bắc Kỳ-TQ. Trong chiến tranh này vẫn
thấy biên giới là cữa Trấn Nam Quan. Khi hòa bình được lập lại, phái đoàn nhà Thanh đòi cực lực cổng và
tường thành không phải đường biên giới(trái với tổ tiên của họ). Họ muốn ít
nhất vài mét đám đất trống ở phía
trước(les commissaries chinois tiennent absolument à ce que la porte et le
mur crenele ne soient pas la ligne frontière; ils veulent au moins quelques mètres de terrain inculte
situe en avant). Cuối cùng phái đoàn Pháp nhận đường biên là con suối cách
ải 150m. Các phái đoàn về sau cắm mốc
cột 18 cách ải 100m. Chỉ 1 chút này mà đàn anh TQ lấy trọn ải Nam Quan sao!
Bề dày lịch sử như vậy, ông cha 2 bên thỏa thuận
nhau như vậy không chỉ vì 1 toán nhỏ thành viên nhà Thanh tham gia phân định
biên giới năm 1885 ngược ngạo không chịu lấy bờ tường làm mốc mà đòi cắm mốc ở mặt
Nam của ải mà hậu sinh người TQ lấy cớ đó sang mặt Nam ải xây dinh cơ nhà cữa
để lấy trọn ải và chiếm cao điểm phía Đông Nam nhòm ngó đường vào thung lũng
Đồng Đăng.
Bao đời trước, mạc phủ quân biên phòng TQ đều đóng
ở phía Bắc cửa ải, trong đất Trấn Nam Quan, để cái ải là của chung. Đất bên mặt
này thuộc về tôi, đất bên mặt kia thuộc về anh. Đặc tính biên giới là như vậy nên biết bao trường hợp người ta dùng
biên giới để dung thân, tránh né chính quyền bên này hay bên kia. Ở đây không
có dòng sông thì ngày xưa ông bà cả 2 bên lấy tường thành làm giới mốc:“Lưỡng
quốc bình phân cô lũy diện” như ý
của Nguyễn Du khi đi sứ qua đây mô tả ải.
Các
ải kia như ở Móng Cái, Lào Cai đều như vậy. Cái cầu là của chung. Đầu bên nay
tôi xây cái cữa. Đầu bên kia anh xây cái cữa. Đi qua khỏi cái cữa là vào đất
tôi, qua khỏi cữa thì vào đất của anh. Đứng ở giữa là ở trên biên giới, tức
phần trách nhiệm chung của 2 lân quốc.
Giao
tiếp thường tình hàng xóm với nhau của dân chúng cũng thế. Bức tường, hàng rào
có thể do bên này hay bên kia xây và thuộc về họ nhưng đất ở chân mặt bên này
hay bên kia là của riêng. Các ảnh khi còn gắn biển “Trấn Nam Quan” đều cho thấy
tường ải rất dày. Chiến tranh nổ ra chỉ phần trùng đài bị phá và được xây lại
nhiều lần mà thôi. Tường dày của ải đủ để phân định chủ quyền và là của chung. Nểu
đúng nghĩa hữu nghị thì phải xem ải là của chung, là đường ranh chung.
Saigon 14 tháng 9 năm 2011
HuynhBaCung


























0 nhận xét:
Đăng nhận xét