Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Mất Ải Nam Quan Phần 1

Ai Nam Quan
Lưu vực sông Châu Giang.
Cống Linh Cừ xẻ nước dòng sông Tương.
Huazui, Đập nước và đầu cống Linh Cừ.
Quế Lâm, Ung Châu, Liêm Châu.



Đường vào ải Nam Quan có từ lâu. Lâu đời vì từ ngàn xưa vùng phía Tây Nam của TQ, vùng Vân Nam, hãy còn rừng núi hiểm trở hoang vắng hơn vùng phía Đông(Lưỡng Quảng) cặp kè với bờ biển. Người Bắc Phương đầu tiên phải xử dụng đường phía Đông để đi vào Giao Châu.
1.1-Biên giới ở bên Tàu:  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT, bản điện tử của Phan Huy Lê, sử Bắc Hà) nói năm 214 TCN nhà Tần sai Đồ Thư đem lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi để vận lương đi sâu vào đất Lĩnh Nam(Ngũ Lĩnh, xứ của 5 ngọn núi) lấy đất Lục Dương đặt quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng quận. Ghi chú số 30 của ĐVSKTT nói Nam Hải là Quảng Đông, Quế Lâm là 1 phần Quảng Đông và Bắc Quảng Tây. Ghi chú số 31 nói quận tượng là Quảng Tây và Nam Qúi Châu. Ghi chú số 31 nói các nhà sử học thế kỷ 19 bác thuyết các nhà sử học trước đó nói Tượng Quận là Nhật Nam hay cả Giao Chỉ Cửu Chân Nhật Nam và nói thời nhà Tần chỉ có 2 quận ở cực Nam rõ rệt là Quế Lâm Nam Hải. Phần đất còn lại chưa chinh phục được rộng lớn không biết tới đâu nên tạm gọi là quận Tượng(tượng trưng như quân tượng trong bàn cờ tướng). Các nhà sử học sau đó hiểu lầm quận Tượng là Tượng Quận gồm Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thời nhà Đông Hán. Thuyết bác bỏ quận Tượng không phải là Tượng Quận dựa vào Hán Thư phần Bản Kỷ(Tây Hán) chép rõ rằng năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương(76TCN) bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào 2 quận Uất LâmTường Kha. Quận Uất Lâm là vùng Quảng Tây, quận Tường Kha ở phía Tây quận Uất Lâm và 1 phần Qúi Châu(ĐVSKTT). Nghĩa là vùng còn lại của Lĩnh Nam(Ngũ Lĩnh) thuộc nhà Tần là “vùng sâu vùng xa”, không rõ ràng gì hết. Quảng Tây hãy còn tình trạng như thế ở đời nhà Tần. Người Trung Châu mới vừa đặt chân đến đây, đất Lĩnh Nam, sau khi cống Linh Cừ(Linqu Canal) đi vào hoạt động nối kết Trung Châu với đất vừa mới chinh phục, qua trung gian sông Tương chảy về Bắc vào S. Dương Tử và S. Châu Giang chảy về Nam vào biển Nam Hải. Năm 214 TCN Sử Lộc đào cống này để nối đầu nguồn của 2 con sông nói trên. Châu thổ sông Châu Giang(Tây Giang) mới có thể liên lạc được với châu thổ sông Dương Tử.
 Nhà Tần suy, Triệu Đà lấy nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương sát nhập vào quận Quế Lâm và Nam Hải lập ra nước Nam Việt. Năm 111 TCN đời nhà Hán, Lộ Bác Đức sang chiếm kinh đô Phiên Ngung ở Nam Hải của Triệu  Đà. Hai quan sứ của nước Việt(phần đất của nước Văn Lang bị Thục Phán thôn tính) ra hàng được cho làm quan ở Giao Chỉ và Cửu Chân(KĐVS). ĐVSKTT nói có 3 quan sứ tức có thêm Nhật Nam là sai. Hồi đó chưa có Nhật Nam, tức nước Văn Lang chỉ tới đất Hà Tĩnh. Sách sử không nói Lộ Bác Đức có tiến quân qua nước ta (Giao Chỉ và Cửu Chân) hay là không và qua thì theo đường nào và qua ải nào?
Về sau nhà Hán chia quận Quế Lâm(1 phần Quảng Đông và Bắc Quảng Tây) thành Thương NgôUất Lâm ở phía Bắc. Xắn quận Nam Hải và Tượng Quận(Tây Quảng Tây và Nam Qúi Châu) thành Hợp Phố ở phía Nam. Thêm 2 châu ở trong biển là Châu Nhai, Đạm NhĩGiao Chỉ-Cửu Chân-Nhật Nam (Giao Châu). Tổng cộng là 9 châu thuộc Giao Chỉ Bộ. Có lúc gọi là 9 quận, thứ tự là Nam Hải, Châu Nhai, Đạm Nhĩ(Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố(Quảng Tây), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam(KĐVS). Nhà Đông Ngô năm Giáp Thân(264) cắt Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô thành Quảng Châu. Hợp Phố, Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu(KĐVS). Hiện nay Wikipedia nói huyện Thương Ngô thuộc Ngô Châu(Wuzhou) là vùng chung quanh chỗ hợp lưu của sông Quế(Guijiang) với sông Xunjiang để thành sông Tây Giang(Xijiang). Thượng nguồn sông Quế là Lijiang. Lijiang+Guijiang-Xijiang thành sông Châu Giang(pearl River). Họp Phố thuộc Bei Hai(Bắc Hải) ở góc Đông Bắc Vịnh Bắc Bộ.
Tiền Hán thư nói quận Uất Lâm có 12 huyện trong đó có huyện Ung Khê, huyện Quế Lâm(Mai Thái Lĩnh). Quế Lâm trở thành tên huyện. Hoàng Xuân Hãn viết về chuyến đi sứ của Lê Qúi Đôn năm 1760 có đề cập tới địa danh Ngô Châu và Quế Lâm là thủ phủ tĩnh Quảng Tây. Đời Tần Quế Lâm là tên 1 quận rộng lớn như quận Nam Hải.
Trong Chiến tranh 1075-1076 Lý Thường Kiệt(LTK) đánh Tống, Tôn Đản vây Ung Châu. LTK đánh Khâm Châu(tiếp giáp VN) và Liêm Châu. LTK chận viện quân  của đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết, chém Thủ Tiết tại trận ở cữa ải Côn Lôn(wikipedia nói ải cách Nam Ninh 59km phía Đông Bắc, nhà Tần thành lập sau khi chinh phục Lĩnh Nam). Như trên nói đất nhà Tần giới hạn ở 2 quận là Nam Hải và Quế Lâm. Phần còn lại là quận Tượng. Do đó ta đưa ra gỉa thiết nói ải Côn Lôn là biên ải giữa quận Quế Lâm và quận Tượng, tức biên giới đất của Triệu Đà với nước Âu Lạc của Thục Phán. Năm 208 TCN Triệu Đà đánh Thục Phán lấy nước Âu Lạc có qua ải này hay không? Một bài viết trên mạng có đề cập tới Ung Kê quan và nói đó là 1 tên khác của Ải Nam Quan. Tác giả Mai Thế Lĩnh cho ải đó ở thẳng bên Tàu và nói có 1 thời biên giới nước ta chạy tới địa phận thuộc Quảng Tây. Ý kiến đó phù hợp lý giải trên đây nói là biên giới Âu Lạc với đất nhà Tần là ải Côn Lôn. Có phải Ung Kê quan là ải Côn Lôn, biên giới của nước Âu Lạc với phần đất của nhà Tần mới chinh phục Lĩnh Nam? Có phải cữa quận Quế Lâm mở vào quận Tượng là ải “NamQuan”đời Thục Phán An Dương Vương? Biên giới nước ta, tức nước Âu Lạc, thì ở bên Tầu.
Khi Quảng Châu(Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm) được thành lập vào thời Đông Ngô để phân biệt với Giao Châu(Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam) thì ranh giới được đưa lùi về phía Nam. Không biết Họp Phố tách khỏi Giao Châu từ lúc nào. Thời nhà Mạc Phòng Thành Cảng(PTC) và mũi Bạch Long(Bailong) còn thuộc VN cho tới năm 1887(Hiệp ước Pháp Thanh) nó mới bị mất. PTC(Fangchenggan) ở giữa khoảng Móng Cái đến thủ phủ Khâm Châu(Qinzhou)
Một chút nói về Cống Linh Cừ(Linqu Canal). Cống do Sử Lộc(Shi Lu) năm 214 TCN đời nhà Tần xây dựng. Họ đào ngòi dẫn nước để vận lương,  tiến sâu vào đất Lĩnh Nam(ngũ Lĩnh) để chinh phục  châu thổ sông Tây Giang(Xijing) của nhóm Bách Việt còn sót lại.
Đó là kinh đào nối thủy lộ phía Bắc đổ nước ra biển Đông gồm: sông Tương+sông Dương Tử với Thủy lộ Nam là sông Châu Giang(Pearl River) gồm sông Lijiang+Guijiang+Xijiang. Người ta có cảm tưởng như kênh đào “ngồi xổm” trên đỉnh xứ Ngũ Lĩnh(Sit at the “Five Moutains region”) trông ra 2 phía, châu thổ Dương Tử và châu thổ Châu Giang.
Đây là kênh đào xưa cũ tới trên 2000 năm được UNESCO liệt vào hàng di tích lịch sử nhân loại, công trình thứ 2 ở phía Nam sau công trình Vạn Lý Trường Thành ở phía Bắc của nhà Tần. Họ xử dụng cả 100.000 lao động di chuyển đá tảng nặng cả tấn. Không có chất nổ. Chỉ dùng búa để đào. Họ nung đá lên rồi dội nước lã vào để đá nứt ra… Kỷ thuật hoàn hảo đến nỗi dù xưa cũ nhưng cho tới nay hầu như người ta không thay đổi nó mấy tuy có sửa chữa vài lần.
Kênh đào nằm giữa 2 con sông Tây-Đông cách nhau chỉ 1,5km và chỉ bị cản trở bỡi mỗi 1 cái đồi cao hơn 500m và rộng 30m. Trên bản đồ có vòng cao độ ta thấy ở đây có 1 “hành lang” trũng ở sườn bờ Đông của sông Lijiang tiếp xúc với sườn bờ Tây của sông Xijiang(sườn Tây rộng hơn). Sử Lộc dùng đường nước tự nhiên(­existing natural waterway) sẵn có để khai thông kênh đào. Khai thông theo những tuyến ngoằn ngoèo zigzagged để bảo đảm độ dốc thấp làm cho dòng nước được sâu và chảy chậm. Độ dốc cao sẽ làm tăng tốc độ tàu thuyền khi xuôi dòng và nước chảy mau sẽ hạ thấp mực nước dòng chảy làm tàu mắc cạn lúc ngược dòng(it uses curves with locks to ensure water depth and speed of water flow for navigation demands). Đó là cả  sự tính toán khi xây dựng 1 kênh lợi dụng các đường viền cong, không thẳng(contour canal) có nhiều cái “cùi chỏ”(curves). Đây là loại kênh đào xuyên núi(mountain-crossing canal).
Một cái đập đá cũng loại đặc biệt dùng để nâng mực nước sông Xijiang lên cao rồi dẫn nước vào sông Lijiang. Mực nước được nâng lên chỉ 7m thì nước sông Xijiang chảy được vào sông Lijiang(chỗ đánh dấu vòng tròn đỏ). Thời đó không xây được đập cao 7m mà phải là 3m. Vì thế người ta phải dời về phía thượng lưu. Do đó kênh phải dài thêm 1 đoạn nữa. Đập là 1 đập tràn bằng đá tảng hình chữ V bất cân xứng. Đầu nhọn hướng về thượng lưu. Cánh phía Bắc dài 344m trong khi  cánh phía Nam chỉ dài 130m. Cả 2 cao 2,4m, rộng khoảng 17-23m. Mặt Không phẳng mà nghiêng(surface is slope shape). Đá xây đập hình chữ X, cài răng lược ăn khít vào nhau thành 1 khối thống nhất. Mặt ngoài đập xây bằng đá rách(ragged stones) để hở những kẽ để giữ cát và bùn giảm nhẹ tác dụng của lũ. Từ xa trông như vảy cá(scale stones). Đập không phải loại chắn ngang sông để tích trử nước mà là loại dùng để “xé” nước mà điều phối nước chia vào sông Lijiang 30% và vào sông Xijiang 70%. Độ cao nói trên cũng tính toán để điều hòa nước chống lụt, một thứ đập điều hòa dòng chảy có tính toán khôn ngoan(design philosophy)!
Kênh đào dẫn nước có đê chia nước ra làm 2 kênh. Kênh Nam dẫn ước về sông Lijang và kênh Bắc dẫn nước trở lại sông Xijiang. Thuyền bè từ sông Xijiang ngược lên trên mặt đập rồi đi vào kênh Nam mà vào sông Lijiang và ngược lại thuyền từ s. Lijiang đến, theo kênh Bắc trở lại sông Xijiang. Kênh Nam dài 33,15km. Kênh Bắc chỉ dài 3,2km. Cả 2 rộng trên 10m. Vào các triều đại sau này có hệ thống để nâng cao mực nước trong kênh. Kênh Nam có 2 đoạn và kênh Bắc có 1 đoạn. Tiếp theo sau này có  tới 36 cống ngăn để nâng lên hoặc hạ xuống mực nước cho tàu thuyền qua lại.
Huazui: là công trình phụ ở mũi của đập. Đó là đập cảng bằng đá hình lưỡi cày (shape of a ploughshare) dùng để chống chịu lũ và để xé nước, chia 30% nước vào Sông Lijiang, chuyển lực va đập sang 2 bên. Đập dài 52,6m, rộng 22,8m. Phần bên dưới đập Huazui xây bằng những tảng đá khổng lồ.
Đập chính hình chữ V lộn ngược và đập Huazui hình lưỡi cày có tác dụng như mũi tàu lướt sóng để rẽ nước sông Tương làm 2 luồng bất cân xứng lớn, nhỏ để điều hòa lưu lượng chảy!
Hệ thống không những dùng để lưu thông mà còn dùng để tích trử nước, tưới nước và điều hòa lũ lụt! Quế Lâm là thủ phủ đầu tiên mà người Phương Bắc đặt chân tới Lĩnh Nam. Thành phố cổ Quế Lâm(xứ rừng quế) ngày nay nổi tiếng với công trình cổ xưa này và với cảnh quan đồi núi cao nguyên đá vôi ở bở Tây sông Quế tuyệt đẹp.
Khai cống Linh Cừ chỉ là thực hiện 1 sự đoạt giang nhân tạo. Một nhánh sông ở sườn bên nay xâm thực nhanh hơn tiến về nguồn bắt gặp nguồn của sông ở phía sườn bên kia cướp lấy nước. Sông Lijiang đoạt nước của sông Xiangjiang chảy ở trên cao về phía của mình khi đường dẫn được khai thông. Trong thiên nhiên sự đoạt giang có thể xảy ra một cách hoàn toàn. Hạ lưu sông ở sườn bên kia khô cạn trở thành 1 cái đèo để đi. Ở đây Sử Lộc chỉ cho Lijiang đoạt có 30% nước để duy trì thủy lộ sông Xijiang. Ai bảo người xưa không thông thái. Thông thái đấy chứ(philosophe)!

2-Lần theo bước quân hành để biết tên ải và vị trí đường xuyên biên giới.
MÃ VIỆN: Đến nhà Đông Hán năm 41 Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân và Lương Long làm phó tướng sang đánh Hai Bà Trưng. Năm 42 Mã Viện theo ven biển mà tiến(ĐVSKTT). Sách không nói phó tướng Lương Long theo đường nào. Lần này người Phương Bắc tiến sâu xuống phía Nam và dựng cột đồng. Không biết vị trí ở đâu mà sau này các thế lực Phương Bắc xâm lăng cứ hỏi người Việt nó ở chỗ nào và lấy cớ đó để xâm lăng. Trải qua các triều Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường không biết đường giao lưu Bắc-Nam là đường nào.
CAO BIỀN: Đến đời Đường thì Giao Châu của nhà Ngô mất Nhật Nam(Nhật Nam xuất hiện vào đời Đông Hán). Phần đất còn lại gọi là 1 phủ, An Nam Đô Hộ phủ(Hợp Phố, Giao Chỉ và Cửu Chân). Man Nam Chiếu mạnh lên chiếm Giao Châu(theo nghĩa phủ An Nam Đô Hộ). Năm 863 tháng 6 nhà Đường bỏ An Nam Đô Hộ phủ đặt Hành Giao Châu ở Trấn Hải Môn. Ghi chú số 196 của ĐVSKTT nói lị sở đóng ở huyện Bác Bạch thuộc Quảng Tây. Tống Nhung làm Kinh Lược Sứ. Năm 864 kinh lược sứ Trương Nhân kiêm coi Giao Châu rồi nhà Đường tiến đánh man Nam Chiếu. Năm 865 Cao Biền lãnh quân ở Trấn Hải Môn vượt biển tiến đánh Nam Chiếu và sau đó bình định được Giao Châu(phủ An Nam Đô Hộ). Đã đóng bản doanh ở Quảng Tây mà đường thuận tiện Cao Biền vào phủ đô hộ vẫn là đường biển.
HOẰNG THÁO(Quân Nam Hán): Tiếp theo là đời Ngũ Qúi nước TQ suy yếu vì Nam Bắc phân tranh giúp nước ta dựng được nền độc lập trước khi nhà Nam Tống mạnh lên thống nhất được Trung Hoa lập ra nhà Tống(Nam Tống). Bắt đầu là nhà Hậu Lương suy yếu. Năm 907 Lưu Ẩn làm tiết độ sứ Quảng Châu(gồm Quảng Đông và Quảng Tây tức đất Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm) kiêm Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ(Giao Châu: Hợp Phố, Giao Chỉ và Cửu Chân). Người nước ta là Khúc Hạo chiếm giữ châu(Giao Châu) tự xưng Tiết Độ Sứ lập nền tự chủ. Năm 917 Lưu Nham là em của Lưu Ẩn lập ra nhà Nam Hán ở Quảng Châu. Năm 919 Khúc Thừa Mỹ lên thay cha sang nhà Hậu Lương xin chức. Nhà H. Lương trao cho chức Tiết Độ Sứ. Vua Nam Hán Lưu Nham(đổi tên là Lưu Cung) cả giận. Năm 923 vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính(LKC) sang đánh nước ta(Giao Châu) bắt Khúc Thừa Mỹ, cùng Lý Tiến giữ thành. Tướng của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ diệt Lý Tiến rồi tự xưng Tiết Độ Sứ tái lập nền tự chủ.   Năm 937 nha tướng Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết Đình Nghệ đoạt chức. Năm 938 nha tướng Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền cất quân đánh Công Tiễn. Công Tiễn cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán cho con là Hoằng Tháo sang. Vua Nam Hán tự làm tướng đóng ở Hải Môn(địa danh thời nhà Đường ở Quảng Tây) làm thanh ứng. Tiêu Ích hiến kế: "Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến". Vua Nam Hán không nghe, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào, muốn đánh Ngô Quyền, nhưng Quyền đã giết Kiều Công Tiễn rồi. Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng(ĐVSKTT). Như vậy thời lập được ra nước Nam Hán ở Quảng Châu mà đường bộ từ Quảng Tây vào Lạng Sơn chưa phải là đường tiện lợi. Tiến quân vẫn chuộng đường biển như Cao Biền thời nhà Đường. Năm 939 Ngô Quyền lên ngôi vua chính thức lập nên 1 quốc gia độc lập, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt 100 quan, lập triều nghi và phẩm phục nhưng chưa đặt quốc hiệu và niên hiệu. Năm 1944 vua mất. Dương Tam Kha cướp ngôi và nước rơi vào nội loạn tranh quyền ở kinh đô và loạn 12 sứ quân ở bên ngoài. Năm 960 Trệu Khuôn Dận thống nhất TQ lập ra nhà Tống.
HẦU NHÂN BẢO(Quân nhà Tống): Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp được nội loạn lên ngôi vua đóng đô ở Hoa Lư và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Năm 970 đặt niên hiệu(niên hiệu có từ đây). Năm 973 nhà Tống phong vương cho(Giao Chỉ Quận Vương). Bây giờ nước ta thực sự mới có nền tự chủ, một quốc gia son trẻ vừa ra đời. Thời Đại tự chủ trải qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, trần, Hậu Lê và Nguyễn(ĐVSKTT).
Năm 979 Đỗ Thích giết vua Đinh. Nguyễn Bặc, Lê Hoàn lập Vệ Vương Toàn lên ngôi, Dương thị làm Hoàng Thái Hậu. Lê Hoàn nhiếp chính. Bọn Nguyễn Bặc chống lại bị giết. Nhà Tống thừa cơ đem quân sang. Năm 980 Thái Hậu lấy áo long cổn mời Lê Hoàn lên ngôi lấy niên hiệu Thiên Phúc, cầm quân đánh giặc. Năm 981 Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đến Lạng Sơn. Trần Khâm Tộ đến Tây Kết(theo đường sông Hồng). Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Lê Hoàn sai đóng cọc ở sông Chi Lăng. Ghi chú 285 của ĐVSKTT nói là khúc sông Thương chảy qua Chi Lăng ở tĩnh Lạng Sơn. Vua trá hàng dụ chém được Hầu Nhân Bảo. Khâm Tộ nghe quân thủy thua trận dẫn quân về bị đánh thua to(ĐVSKTT). Đến đây ta mới thấy có sự chuyển quân qua đường bộ qua ngả Lạng Sơn. Nhưng rồi cũng chọn thủy lộ là sông Thương xuôi dòng xuống gặp sông Bạch Đằng rồi theo sông Đuống mà vào thành Đại La. Lúc bây giờ có 2 quốc gia rõ ràng là TQ và Đại Cồ Việt. Có thể có ải được đặt ra ở biên thùy để phân định biên giới 2 nước. Lúc này(triều Tiền Lê) mới thấy sử có đề cập tới việc ở biên giới.
Sách ĐVSKTT nói năm 995 vua Lê cậy núi, biển hiểm trở và nhà Tống ngại chinh chiến hơi buông thả cho dân biên giới lấn cướp bờ cõi của nhà Tống. Sách này nói quan chuyển vận sứ lộ Quảng Tây là Trương Quan và quan binh mã giám áp của trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu(Qinzhou) là Vệ Chiêu Mỹ đều tâu về triều rằng chiến thuyền của Giao Chỉ hơn trăm chiếc, xâm phạm trấn Như Hồng, cướp bóc cư dân và lương thực rồi đi. Sách lại viết mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu(ghi chú số 320 của sách nói thuộc Lạng Sơn) nước ta lại đem 5 nghìn hương binh xâm lược Ung Châu(Yongzhou) nước Tống, bị Đô tuần kiểm Dương Văn Kiệt đánh phải trở về. Vua Tống muốn vỗ yên, không muốn dụng binh, bỏ không hỏi đến. Sách viết tiếp nói Trương Quan lại nói dối là vua Lê bị họ Đinh đánh đuổi chạy ra đảo cướp bóc để sống nay đã chết. Bọn Quan dâng biểu mừng. Vua Tống cho điều tra biết vua Lê không có chuyện gì. Năm 996 vua Tống xử tội bọn Trương Quan và Vệ Chiêu Mỹ. Lấy Nghiêu Tẩu làm chuyển vận sứ lộ Quảng Tây. Nghiêu Tẩu đến trấn Như Tích ở kế trấn Như Hồng tra xét biết rằng trước đó bọn Văn Dũng là dân ở trấn Triều Dương(ghi chú số 321 nói là huyện Hải Ninh, Quảng Ninh) làm loạn giết người trốn sang trấn Như Tích thuộc Khâm Châu. Trấn tướng là Lệnh Đức chứa chấp không chịu trả. Nghiêu Tẩu tra xét biết việc xảy ra như vậy nên đem hết già trẻ trai gái được 113 người gọi Thành Nhã sang nhận về. Vua Lê sai sứ sang tạ ơn và nói việc bắt được 27 giặc biển giao trả cho quan chuyển vận sứ và răn cấm các khe động không được quấy rối nữa. Vua Tống sai Lý Nhược Chuyết sang. Vua Lê nói với sứ rằng việc cướp trấn Như Hồng là do giặc biển. Nếu Giao Châu(không còn bao gồm Họp Phố nữa) có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung(thủ phủ Quảng Đông), thứ đến đánh Mân Việt(Phúc kiến) há chỉ dừng ở trấn Như Hồng. Trong lịch sử Việt Nam chỉ có 2 triều dám đánh vào biên cương giáp với TQ. Triều Tiền Lê và triều Lý. Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt đánh Tống.
QUÁCH QUÌ (nhà Tống): Năm 1059 tháng 3 đời Lý Thánh Tông Đại Việt đem quân đánh Khâm Châu(Qinzhou) nước Tống ra oai, khoe binh uy rồi về vì ghét nhà Tống phản phúc(ĐVSKTT). Đời Nhân Tông năm 1075, Lý Thường Kiệt (LTK) mới thực sự cho 1 trận đánh lớn để răn đe cả Tống lẫn Chiêm Thành(năm 1069 đánh 1 trận lớn bắt Chến Củ) vì Vương An Thạch lên nắm quyền chủ chiến(sách Lý Thường Kiệt-Hoàng Xuân Hãn). Xử dụng 10 vạn thủy bộ binh. LTK đánh châu Khâm(Qinzhou), châu Liêm(Lianzhou) năm thangs11/1075, Tôn Đản vây Ung châu(Yongzhou) tháng giêng/năm 1076). Ung châu thuộc Hồ Nam tiếp giáp với Quế Lâm(Quillin, hồi đó gọi là Quế Châu hay Quizhou) thuộc Quảng Tây về phía TâyNam; Liêm Châu thuộc QuảngĐông tiếp giáp với Ung Châu về phía Nam. Khâm Châu thì ở trên bờ biển. Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (wikipedia nói cách Nam Ninh 59km phía Đông Bắc, nhà Tần thành lập sau khi chinh phục Lĩnh Nam) phá tan được, chém Thủ Tiết tại trận. Tôn Đản vây thành Ung Châu là nơi nhà Tống tập trung quân để đánh Đại Việt hơn 40 ngày. Tô Giám cố thủ. Giám cho 36 thuộc hạ chết trước. Chôn cất xong, tự châm lửa đốt chết. Cảm ân nghĩa chủ tướng không người nào trong thành chịu hàng. Thành bị hạ. Hơn 5 vạn 800 ngàn bị giết cộng với thương vong ở châu Khâm, châu Liêm thì chết hơn 10 vạn. LTK bắt sống người 3 châu(Ung, Khâm và Liêm châu) đó đem về. Có tài liệu nói quân đánh vào Ung Châu theo đường Lạng Sơn là không đúng vì đường này phải đi qua Nam Ninh, Quế Lâm không thấy nói bị tiến đánh  và còn thuộc chính quyền Quảng Tây. ĐVSKTT viết rất vắn tắt. Việt Sử Lược thì không viết trận này(Hoàng Xuân Hãn). ĐVSKTT và KĐVS xuất bản về sau có ghi chú dẫn Cương Mục của TQ nhưng chỉ đính chính năm LTK đánh châu Khâm Liêm là tháng 11/1075 và Tông Đãn đánh thành Ung Châu tháng giêng/1076, không viết gì thêm. Thế mà có nhiều tài liệu viết rõ ràng từng trận đánh. Có mặt trận phía Tây(Lạng Sơn) và Đông(đường biển). Số quân lên tới 40 hay 60 ngàn. Bài viết không dẫn tài liệu nào. Do đó khó tin. Hành quân dọc theo bờ biển và biển rồi tiến lên phía Bắc dễ dàng tin hơn.  
Quế Lâm-Ung Châu-Liêm Châu là chỗ 3 biên giới Quảng Tây-Hồ Nam-Quảng Đông. Chính nơi đây người Phương Bắc mở đường tiến chiếm Phương Nam. Nơi đây in dấu chân người đi sứ qua lại và là nơi lần đầu và duy nhất người Việt xâm phạm đất Phương Bắc với qui mô lớn. Nơi đây đáng được người Việt Nam ghi nhớ.
Mùa xuân năm 1076 vua Tống sai Quách Qùi, Triệu Tiết hợp với Chiêm Thành, Chân Lạp tấn công Đại Việt để trả thù trận Ung-Liêm-Khâm châu. Dàn quân ở sông Như Nguyệt(ghi chú số 533 của ĐVSKTT nói là sông Cầu). Một đêm quân sĩ nghe tiếng trong đền thờ Trương tướng quân có tiếng hô to “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phân định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” Qủa nhiên trận này LTK phá tan quân Tống. Quách Qùi lui quân chiếm châu Quảng Nguyên. Trương tướng quân là 2 anh em họ Trương, tướng của Triệu Việt Vương, không chịu ra hàng vua hậu Lý Nam đế uống thuộc độc tuẩn tiết. Trận đánh xảy ra trên sông Như Nguyệt(sông Cầu) và quân Tống lui về châu Quảng Nguyên(Cao bằng) nên nghĩ là hành quân qua ngả Lạng Sơn. Châu Quảng Nguyên nay thuộc tĩnh Cao Bằng(thegioitamlinh.ace.st).
NGỘT LƯƠNG HỢP THAI(quân Nguyên xâm lăng lần thứ nhất). Năm 1257 nhà Nguyên vừa chiếm được Vân Nam của nhà Tống(NT) sai tướng Ngột Lương Hợp Đái(Thai) theo đường tắt(đường Vân Nam) sang uy hiếp nhà Trần. Lần đầu tiên mới thấy xuất hiện đường hành quân ở phía Tây. Trả lời Thái Tông, Trần Quốc Tuấn nói “Trước hết hãy chặt đầu tôi đã rồi sẽ hàng.” Quân Nguyên bị đánh đuổi(xâm lăng lần thứ nhất). Lúc đó Nhà Tống(NT) còn làm chủ ở Quảng Đông. Năm 1274 người Tống chạy sang ta tị nạn nhà Nguyên. Năm 1279 NT mới mất ngôi. Năm 1261 nhà Nguyên phong An Nam Quốc Vương cho Thánh Tông. Năm 1266 sứ nhà Nguyên là Nậu Lạt Đinh sang nói việc dụng binh năm 1257. Sứ  dọa nạt và bị bắt(ĐVSKTT). Sai Dương An Dưỡng sang nhà Nguyên và nhà Nguyên đáp lễ. Năm 1269 sứ Nguyên sang nói về biên giới. Lê Đà, Đinh Củng đi sứ sang nhà nguyên. Năm 1272 sứ Nguyên sang hỏi giới hạn cột đồng. Lê Khắc Phục sang Nguyên. Năm 1276 sứ Nguyên sang dụ việc điều dân, giúp dân nhưng vua không nghe. Năm 1278 Nhân Tông lên ngôi. Sứ Nguyên là Sài Xuân(SX) theo Lê Khắc Phục sang ta. SX cưỡi ngựa vào thẳng cữa Dương Minh. Quân sĩ chặn lại. SX quất roi ngựa lên đầu gây thương tích quân sĩ. Đến Điện Tập Điền thấy bày màn trướng hắn mới chịu xuống ngựa. Vua sai Quang Khải(QK) tới sứ quán tiếp. SX nằm khềnh không ra. QK vào hẳn trong phòng hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn(QT) thấy thế tâu xin đến tiếp sứ. QT mặc áo vải, đầu gọt tóc, đi thẳng vào phòng. SX đứng dậy vái chào mời ngồi. Người ta ngạc nhiên nghĩ gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư Phương Bắc. QT ngồi xuống pha trà cùng uống với hắn. Người hầu của SX cầm cái tên chọc vào đầu QT đến chảy máu mà mặt QT không hề thay đổi. Khi trở về, SX ra cữa tiến QT. SX bảo vua(Nhân Tông) không xin mệnh mà tự lập. Bảo sang chầu. Vua không nghe. Sai Trịnh Đình Toán sang Nguyên bị giữ lai. KĐVS nói ĐVSKTT viết việc này xảy ra vào năm 1281 là không đúng(SX bị giết năm 1281).  Năm 1281 sai Trần Di Ái(TDA), Lê Mục, Lê Tuân sang Nguyên. Vua Nguyên phong chức tước rồi sai SX đem 1000 hộ tống họ về nước. Đến biên giới thì bị chận đánh. SX bị giết. Bọn TDA trốn về nước. Trong giai đoạn này không biết sứ thần qua lại cữa ải nào
THOAT HOAN, TOA ĐÔ, Ô MÃ NHI(quân Nguyên xâm lăng lần thứ 2). Năm 1282 tháng 6 trị tội bọn TDA. Tháng 8 Lạng Châu báo Toa Đô đem 50 vạn quân sang nói phao là mượn đường đánh Chiêm Thành(ĐVSKTT). Quân Nguyên theo đường sông Hồng, đường Lạng Sơn và qua Ai Lao vào Chiêm Thành. Chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt biên giới quân Nguyên chiếm Thăng Long, Triều đình rút lui(wikipedia). Nhưng 1 bài viết dẫn Nguyên sử nói Toa Đô đến ChiêmThành cảng ngày 30-12-1282, tấn công thành Gỗ(thành Thị Nại)13-2-1283 rồi đánh ra phía Bắc, tức Toa Đô đi đường biển. Sử Việt thì viết năm 1283 Hưng Đạo vương(HĐV) thống lĩnh quân cả nước(ĐVSKTT).  Năm 1284 HĐV duyệt binh lớn. Sai Trần Phủ(TP) sang nguyên xin hoãn binh. TP trở về tâu vua Nguyên sai Thoát Hoan mượn đường đi đánh Chiêm. Thượng Hoàng triệu hội nghị Diên Hồng. Giặc vào Chi Lăng(đường Lạng Sơn), quân lui về Vạn Kiếp(họp lưu 3 sông là sông Cầu, Thương và Lục Nam). Ô Mã Nhi đánh vào Vạn Kiếp(ĐVSKTT). Năm 1285 Đại Việt phản công. Mặt trận sông Hồng thắng trận Hàm Tử, bến Chương Dương, giải phóng Thăng Long. Cánh quân Nguyên ở phía Bắc rút chạy bị tập kích tại sông Cầu, Vạn Kiếp(Hưng Đạo vương giao tranh với Thoát Hoan). Thua trận Thoát Hoan chui ống đồng trốn thoát. Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh. Cánh quân Nam(Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra) bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết trên sông Hồng. Toa Đô bị chém, Ô Mã Nhi vượt biển trốn thoát.
THOAT HOAN, A THAI, Ô MÃ NHI(quân Nguyên xâm lăng lần 3). Năm 1286 tha quân Nguyên về nước. Nhà nguyên chuẩn bị đưa Trần Ích Tắc về.  Năm 1287 thái tử A Thái cùng Ô Mã Nhi đem 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp(chỗ sông Cầu, Thương và Lục Nam gặp nhau). Quân thủy đánh vào Vân Đồn. Năm 1288 Hưng Đạo vương phá trận Bạch Đằng, bắt Ô Mã Nhi. Thoát Hoan và A Thái trốn về bị thổ quan bắt nộp. Năm 1289 đưa Ô Mã Nhi(ÔMN) về nước. Cho đắm thuyền giết chết ÔMN. Các trận đánh không đề cập tên cữa ải nào quân đã đi qua. Văn cảnh vẫn cho thấy đường chính vẫn là từ Lạng Sơn xuống Vạn Kiếp hay theo đường Biển vào đây. Đến đời nhà Minh mới thấy đường Vân Nam trở nên thông dụng.
HÀN QUAN, HOÀNG TRUNG(quân Minh): Sang đời nhà Hồ nhà Minh dòm ngó nước ta. Năm Ất Dậu 1405 thổ quan Hoàng Quảng ở phủ Tư Minh Quảng Tây tâu lên nói đất Lộc Châu ở Lạng Sơn là đất cũ của phủ ấy. Hoàng Hối Khanh nhà Hồ làm Cát Địa Cứ đem 59 thôn trả cho nhà Minh. Qúy Ly trách mắng Hối Khanh trả nhiều đất quá. Năm 1406 Hàn Quan, Hoàng Trung nhà Minh đem 10 vạn quân Quảng Tây đưa Trần Thiêm Bình về nước và dừng lại ở biên giới rồi tiến đánh vào ải Lãnh Kinh(ghi chú số 1330 của ĐVSKTT nói ở khoảng Đáp Cầu(chỗ s. Cầu gặp QL1A) tĩnh Hà Bắc). Quân thủy, bộ nhà Hồ bị thua vì kinh địch ít quân. Hồ Vấn tiếp ứng đánh úp. Hoàng Trung liệu thế địch không nổi nửa đêm bỏ trốn.  Hồ Xạ, Trần Đỉnh chặn cữa ải Chi Linh(sông Thương). Hoàng Trung cho bộ hạ đến giao nộp Thiêm Bình để xin cho qua ải. Hồ Xạ cho đi. Đường hành quân lần này của quân Minh là Lạng Sơn đến đánh vào Bắc Ninh rồi tháo chạy về Chi Lăng để về Tầu.
TRƯƠNG PHỤ MỘC THẠNH(quân Minh xâm lăng nước ta)Tháng 9 phó tướng chinh di Trương Phụ, Trần Húc đem 40 vạn binh đánh vào ải Pha Lũy(ghi chú số 1333 nói là ải Nam Quan. Khâm Định Việt Sử TGCM quyển 12 cũng ghi chú Pha Lũy là Nam Quan. Không biết tên Ải Nam Quan có từ lúc nào. Đến đây tên ải mới đi vào sử sách. Tả phó tướng chinh di Mộc Thạnh, Lý Bân đem 40 vạn quân đánh vào ải Phú Lệnh. Ghi chú số 1334 nói ở gần thị xã Hà Giang(ĐVSKTT). Lần này quân Minh hành quân theo 2 ngả là Lạng Sơn và Cao Bằng nhưng không đánh vào cữa Bắc thành Thăng Long.
Từ xưa đường tiến quân của Bắc Phương vào Giao Châu(địa danh nước ta thời Đông Ngô) theo 3 lối. Quân bộ theo sông Tả Giang, một nhánh của sông Tây Giang(sông Châu Giang) ở Lưỡng Quảng(Quảng châu đời Đông Ngô). Tả Giang có 2 nguồn đi vào nước ta là Bằng Giang đi vào tĩnh Cao Bằng-Hà Giang và sông Kỳ Cùng đi vào tĩnh Lạng Sơn. Sông Kỳ Cùng có 2 nguồn: Bắc Giang chảy từ Tây sang đông, họp lưu với nhánh chảy từ Nam lên Bắc trước khi chạy qua biên giới. Quân bộ theo 2 thung lũng này mà tiến. Theo sông Kỳ Cùng, quân sẽ đến Lạng Sơn rồi đến Chi Lăng. Xuôi dòng theo sông Thương đến lục đầu là nơi 6 con sông gặp nhau(sông Cầu, sông Thương sông Lục Nam ở biên giới chảy đến đây. Sông Đuống nối với sông Hồng và 2 nhánh của sông Thái Bình chạy ra biển). Quân bộ dùng sông Đuống làm thủy lộ xâm nhập vào Thăng Long. Đường thứ 2 là quân thủy vượt biển theo sông Bạch Đằng mà vào tới đây rồi cũng theo sông Đuống mà vào thành Thăng Long. Đường tiến quân thứ 3 là theo sông Lô, ở bên tả ngạn sông Hồng(bắt đầu từ Hà Giang đến điểm cuối là Việt Trì) để vào sông Hồng. Xui dòng đến Thăng Long. Cả 3 đường dùng để đánh vào cữa Bắc.  
Lần này quân Minh không xuôi sông Hồng và cũng không ngược sông Đuống để đánh vào cữa Bắc thành Thăng Long. Qua khỏi biên giới, 2 cánh quân Đông(ải Pha Lũy ở Lạng Sơn) và Tây(ải Phú Lệnh ở Hà Giang) hội với nhau ở sông Bạch Hạc(đoạn cuối sông Lô) để đánh vào Việt Trì, qua sông Cái(sông Hồng) rồi đánh hạ thành Đa Bang ở Sơn Tây. Từ Sơn Tây quân Minh đánh vào cữa Tây thành Thăng Long và vùng phụ cận. Chiếm Thăng Long rồi đổi tên ra Thành Đông Quan(Đông Đô) còn Tây Đô là thành nhà Hồ(Hồ Qúi Ly xây năm 1397 ở Thanh Hóa làm kinh đô của nước Đại Ngu). Quân Minh cướp bóc của cải lương thực và bắt con gái, thiến hoạn con trai đưa về Kim Lăng, tức thủ đô Nam Kinh đầu đời nhà Minh (ĐVSKTT). Trong số con trai bị thiến hoạn có Nguyễn An sau này trở thành kiến trúc sư kiến trúc thành Bắc Kinh làm thủ đô cho triều nhà Minh(Lê Qúi Đôn trong Kiến Văn Tiểu Lục). Đường tiến quân thứ 3(theo sông ) mới xuất hiện từ đời nhà Nguyên. Tới đời nhà Minh thì mới nói rõ các tên ải.
Cha con họ Hồ chạy vào Nam đến Kỳ La Hà Tĩnh thì bị tiêu diệt. Nghĩa quân nổi lên chống quân Minh đây đó trong đó có nhóm con cháu nhà Trần là Đế Ngỗi(Giảng Định Đế) và Trùng Quang Đế(đế Qúy Khoáng). Năm 1414 tháng 4 Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy bị bắt đem về Đông Quan để giải về Yên Kinh(tên khác của Bắc Kinh). Nửa đường Qúy Khoáng nhảy xuống nước chết. Nguyễn Súy giả vờ thân thiện đánh cờ với tên áp giải rồi dùng bàn cờ đập vào đầu tên này chết và nhảy xuống nước chết theo với vua Trùng Quang. Đường về biên ải ghi thêm trang sử bi hùng. Năm 1416 người Minh bắt các thượng quan văn võ kỳ lão đưa về yên kinh(ĐVSKTT). Nguyễn Phi Khanh được áp giải tới ải Nam Quan(Pha Lũy) thì khuyên con là Nguyễn Trãi trở về trả thù nhà đền nợ nước chứ bịn rịn theo khóc làm gì(wikipedia nói dưới triều Hồ, Phi Khanh làm Hàn Lâm Học Sĩ, Thống Chương Đại phu, Đại Lý tự khanh kiêm Trung thư Thị Lang, Tư nghiệp Quốc Tử Giám và bị áp giải về Tàu năm 1407). Một lần nữa cữa ải Nam Quan ghi tấm gương trung hiếu.
VƯƠNG THÔNG, PHƯƠNG CHÍNH(quân Minh đi cứu viện). Triều nhà Lê. Lê lợi khởi nghĩa chống quân Minh năm 1418. Nghĩa quân lớn mạnh. Sau cùng các thành Đông Đô, Tây Đô, Nghệ An bị vây hãm. Chận viện năm 1426. Tháng 10 Vương Thông, Mã Anh đem 5 vạn quân Vân Nam xuôi dòng sông Hồng cứu viện Đông Đô. Mặt trận dàn ở phía cữa Tây vùng Cầu Giấy, Láng, Thanh Oai, Hà Tây bị phá tan(ĐVSKTT). Phương Chính trốn thoát. Vương Thông, Mã Kỳ thoát vào thành Đông Quan.
CỐ HƯNG TỐ, LIỄU THĂNG, MỘC THẠNH(quân Minh đi cứu viện). Chận viện năm 1427 tháng giêng quân Minh ở thành Nghệ An, Diễn Châu ra hàng. Tháng 6 trấn thủ Quảng Tây Cố Hưng Tổ đem 5 vạn quân cứu viện. Đến cữa ải Pha Lũy ở Lạng Sơn bị Lê Lựu, Lê Bôi giữ cữa ải phá tan. Tháng 9, ngày 18 Liễu Thăng đem hơn 10 vạn quân đánh vào cữa Pha Lũy. Tổng binh Vân Nam là Mộc Thạnh đem 5 vạn quân đánh vào cữa Lê Hoa.
Mặt trận viện binh ở Lạng Sơn: Lê Sát, Lê Liệt, Lê Thụ mai phục ở ải Chi Lăng(cách Nam Quan 60km trên lộ trình sông Thương) đợi giặc. Lê Lựu giữ cữa ải Pha Lũy thấy giặc đến lui giữ cữa ải “Lưu”(ghi chú số 1523 ĐVSKTT nói nguyên văn thiếu chữ “Lưu”, chỉ nói giữ cữa ải). “Lưu” là cữa ở ranh giới xã Nhân Lý-Sao Mai huyện Chi Lăng. Giặc đến bỏ cữa ải Lưu, lui giữ ải Chi Lăng. Giặc uy hiếp ải Chi Lăng. Lê Lựu ra đánh rồi giả hàng. Ngày 20 Liễu Thăng đuổi theo. Lê Sát, Lê Nhân Chú tung quân mai phục. Giặc thua to. Liễu Thăng bị chém. ở núi Mã Yên. Ngày 25 Lê Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân đến ải núi Mã Yên. Lê Sát, Lê Nhân Chú tung hết binh ra đánh chém được Lương Minh tại trận(ghi chú 1525 ĐVSKTT nói vị trí ở Kép và 1 số xóm ở Tây Nam xã Hương Sơn huyện Lạng Giang, Hà Bắc). Ngày 28 Lý Khánh chết. Thôi Tụ, Hoàng Phúc dẫn quân miễn cưỡng tiến lên. Nhân Chú đánh chém hơn 2 vạn thủ cấp. Tháng 10 Lê Lý, Lê Văn An bao vây 4 mặt và dựng rào lũy tả ngạn sông Xương Giang(ghi chú số 1527 nói là đoạn sông Thương chảy qua Xương Giang). Thôi Tụ đành đắp lũy ở giữa cánh đồng. Thôi Tụ ngỡ là thành Xương Giang chưa bị phá nên dẫn quân đến đó. Tới nơi thành Xương Giang bị mất. Chúng kinh hoàng, đợi đến đêm bắn tín hiệu để quân thành Đông Quan và thành Chi Linh đến cứu. Vua sai thủy bộ tiến quân bao vây và chia quân chặn ải Mã Yên, Chi Lăng, Pha Lũy, Bàng Quan(ghi chú số 1529 nói ở vùng Chủ tĩnh Hà Bắc). Thôi Tụ, Hoàng Phúc giải hòa âm mưu để chạy vào thành Chi Linh. Vua không cho hòa ra lệnh tấn công, chém hơn 5 vạn thủ cấp, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 3 vạn tù binh, thu vũ khí vàng bạc lụa.
Mặt trận viện binh từ Vân Nam: Vua đoán Mộc Thạnh chờ Liễu Thăng ở Lạng Sơn thành bại ra sao rồi mới tiến quân nên mật bảo Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Trung cầm cự với Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Khi Liễu Thăng thua trận vua cho tù binh đem sắc thư phù ấn của Liễu Thăng đưa đến chỗ Mộc Thạnh. Quân lính hoảng sợ tháo chạy. Văn Xảo, Lê Khả xông lên phá tan ở Lãnh Câu  và Đan Xá, chém 1 vạn thủ cấp, bắt sống hơn nghìn tên thu của cải hơn trận thành Xương Giang. Giải Thôi Tụ, Hoàng Phúc, tù binh, chiến cụ song hồ phù và ấn bạc đến thành Đông Quan và ra lịnh vây thành Đông Quan. Vương Thông và Sơn Thọ đưa thư giảng hòa và xin mở cho đường về. Vua chấp nhận. Sai mang thư dụ hàng 2 thành Cổ Lộng và Tây Đô.
Sách sử nhà Lê không bị quân xâm lược nhà Nguyên và nhà Minh trước đây tịch thu phá hủy nên ta thấy đường hành quân và vùng biên được mô tả rõ. Các tên ải được viết ra nhưng tên Nam Quan không thấy nói đến. Đường hành quân ở phía Tây qua ngả Vân Nam trở thành thông dụng. Thành Thăng Long bị đánh vào cữa Tây thay vì bị đánh vào cữa Bắc như thường lệ ở các triều đại trước.
MAO BÁ ÔN đánh nhà Mạc. Năm 1521 có đề cập đến địa danh Lạng Nguyên. Tháng 9 năm đó quan quân đánh đuổi Trần Cung là con Trần Cảo, giải phóng cứ địa Lạng Nguyên. Trong sắc dụ úy lạo tướng sĩ vua lê Chiêu Tông(1516-1522) có câu “…sào huyệt bị quét sạch để dân 1 phương khỏi phải lầm than, được yên ổn như xưa, cho đường sứ được thông suốt…”(ĐVSKTT). Lạng Nguyên ở đâu? Trên đây, đoạn nói về đời Lý, châu Quảng Nguyên được chú thích là vùng Cao Bằng. Bây giờ lại có địa danh Lạng Nguyên được mô tả là sào huyệt của Trần Cung và có đề cập tới đường SỨ được thông nên Lạng Nguyên có khả năng là vùng biên giới có ải Nam Quan. Thời Trịnh Tùng lấy được Đông Đô thì có tên địa danh Lạng Sơn(ĐVSKTT). Năm 1522 là năm Minh Thế Tông, Gia Tĩnh năm thứ nhất(ĐVSKTT). Năm 1528 nhà Mạc sai sứ sang Yên Kinh nói nhà  Lê không còn ai nên lên thay thế. Vua Minh cho người sang dò xét. Đăng Dung sợ cắt 2 châu Quy, Thuận và đem 2 tượng người bằng vàng bạc cùng của cải châu báu dâng nộp. Nhà Minh mới để yên. Năm 1529 bị bầy tôi nhà Lê là Trịnh Ngung-Trịnh Ngang tố cáo, họ Mạc đút lót nhà Minh(ghi chú số 2368 của ĐVSKTT nói đút lót cho biên thần). Năm 1538 sai Nguyễn Văn Thái sang nhà Minh dâng biểu xin hàng và phân xử( ghi chú số 2392 của ĐVSKTT nói tờ biểu nói là Đăng Dung được trao ấn tướng vì vua Lê không còn ai nối dõi. Vì Trần Cung chiếm Lạng Sơn nên chưa dâng biểu và sang tiến cống. Vua Minh gấp sai bọn Mao Bá Ôn đến mộ binh Quảng Tây tiến đánh Mạc). Năm 1540, Nguyên Hòa thứ 8, Minh Gia Tĩnh 19 Mạc Đăng Dung cùng thuộc hạ qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh(ghi chú số 2396 nói 20 vạn quân của Mao Bá Ôn dựng trấn ở Trấn Nam Quan) quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát,   La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Sai bọn Văn Minh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh. Năm 1541 biên thần Mao Bá Ôn tâu về triều việc tra xét tông tích nhà Mạc và nhà Lê. Vua Minh phong Annam Đô Thống Sứ Ty đô thống sứ và ban ấn bạc cho nhà Mạc. năm 1542 tháng 3 Mạc Phúc Hải lên Trấn Nam Quan chịu khám, nhận sắc phong cho Đăng Dung và ấn bạc. Tháng 8 bọn Mạc Kính Điển sang tạ ơn và tuế cống. Tháng 12 Mạc Phúc Hải được phong Annam Đô Thống Sứ Ty đô thống sứ. Năm 1543 sai sứ sang tuế cống.
 
TRẦN ĐÔN LÂM, VƯƠNG KIẾN LẬP: biên thần và sứ thần nhà Minh. Năm 1593 Trịnh Tùng(TT) lấy lại được kinh đô Thăng Long. TT lo việc phục hồi ngôi vị vua Lê, cầu nhà Minh phong vương cho nhưng bị con cháu nhà Mạc tố cáo. Nhà Minh tổ chức hội khám. Năm 1596 tháng giêng, ngày 29 sai bọn Đỗ Uông đi trước, đến cữa Trấn Nam Giao trao đổi với viên Tả Giang(Tả Giang có 2 nguồn Bằng Giang và Kỳ Cùng hợp lưu ở thủ phủ Long Châu) binh tuần đạo Trần Đôn Lâm. Sau sai bọn Hoàng Đình Ái đem quân đến Lạng Sơn tiếp ứng, bọn Phùng Khắc Khoan mang con ấn Annam đô thống sứ ty và 2 tờ kiểu ấn mực của quốc vương Annam trước kia cùng vàng bạc lên cữa Trấn Nam Giao chờ hội khám. Ngày mồng 1 tháng 2 đòi đích thân vua Lê Thế Tông đến cữa trấn. Ngày mồng 5 vua và tùy tùng đến cữa hẹn ngày hội khám. Quan nhà Minh dây dưa thoái thác đòi người vàng ấn vàng theo lệ cũ không chịu hội khám thành quá kỳ hạn. Tháng 3 Vua về kinh. Năm 1597 tháng 2 sai bọn Đỗ Uông lên cữa trấn Nam Giao thăm dò tin tức. Khi tới thành Lạng sơn quân hộ tống bị ngụy Phúc Vương và Cao Quốc công nhà Mạc đánh úp. Tháng 3 nhà Minh sai Vương Kiến Lập sang đòi lễ cống và giục hội khám. Ngày 28 vua, tùy tùng cùng Vương Kiến Lập lên cữa trấn Nam Giao ở Lạng Sơn. Tháng 4, mồng 10, vua chỉnh đốn binh tượng, qua cửa Trấn Nam Giao, cùng với quan nhà Minh là bọn Tả Giang tuần đạo sát phó sứ Trần Đôn Lâm và quan các phủ Tư Minh, Thái Bình, các châu
Long Châu(Longzhou), Bằng Tường(Pingxiang) tỉnh Quảng Tây cử hành hội khám. Từ đấy, hai nước Nam Bắc lại trao đổi với nhau.   Năm 1598 tháng 11 Hoàng Đình Ái đánh tàn quân Mạc ở Lạng Sơn, phá giặc ở châu Thoát Lãng( ghi chú số 2678 của ĐVSKTT nói nay là huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn). Rồi quân Mạc Kính Cung từ Long Châu về Thất Tuyền(ghi chú số 2679 nói là hyện Thất Khê, Lạng Sơn). Kính Cung sai Phúc Vương đem vợ con lương thực rút trước vào Long Châu. Phúc Vương bị mai phục thua trận chạy vào Long Châu. Kính Cung thua trận cũng chạy vào Long Châu và bị phục binh Trần Thiết chận đánh. Thiết thua trận. Kính Cung vội vã qua sông rút đi. Quân của Trần Phúc tiến lên bắt được con trai 12 tuổi của Kính Cung. Kính Cung đã đi xa. Trần Phúc thu quân về Lạng Sơn. Tháng 12 năm 1598 tiết chế Trịnh Tùng sai bọn đỗ Uông đến cữa Trấn Nam Giao đón tiếp Bắc sứ.
Phùng Khắc Khoan trước đó(năm 1597) đã đi sứ sang Yên Kinh nhà Minh xin phong tước vương cho vua Lê nhưng Vua Lê chỉ được phong làm Đô Thống Sứ Ty đô thống sứ và ban quả ấn bằng bạc như đã phong cho nhà Mạc. Phùng Khắc Khoan phản đối vua Lê phải hơn nhà Mạc. Vua Minh khuyên cứ nhận đi rồi sau sẽ gia phong tước Vương cho. Khắc Khoan qua cữa quan tháng 4 năm 1597. Tháng 10 tới Yên Kinh. Tháng 12 rời Yên Kinh. Ngày 15 tháng 12 năm 1598 về đến cữa Trấn Nam Giao cùng sứ nhà Minh là Vương Kiến Lập về kinh sư. Mở đọc chiếu thư thì thấy quả ấn bị tráo lại là quả ấn bằng đồng. Gửi phúc thư trách nhà Minh cho Vương Kiến Lập mang về Yên Kinh. Thổ quan nhà Minh nhận hối lộ Mạc Kính Cung tâu cho họ Mạc giữ đất Thái Nguyên Cao Bằng.  Năm 1599 tháng 4 tiết chế Trịnh Tùng làm Bình An vương. Tháng 8 vua Lê Thế Tông băng hà.  Cũng chưa thấy tên Ải Nam Quan. Tên Trấn Nam Quan được dùng thời nhà Mạc và tên Trấn Nam Giao được dùng sau khi Trịnh Tùng lấy được Đông Đô.
TÔN SĨ NGHỊ, Ô ĐẠI KINH, SẦM NGHI ĐỐNG quân Thanh xâm lăng Đại Việt. Đời Tây Sơn. Năm 1788 Hoàng Thái Hậu nhà Lê sang nhà Thanh cứu viện chống lại Tây Sơn. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục(KĐVS) nói trước kia Thái Hậu chạy đến Cao Bằng. Nguyễn Quốc Đống bảo vệ Thái Hậu và nguyên tử do cữa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh. Quan châu đề đạt lên tổng đốc và tuần phủ. Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị(TSN) và Quảng Tây tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh họp ở Nam Ninh. Thái Hậu đưa nguyên tử đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị tâu báo về triều nên đánh chiếm Annam. Vua Thanh tự tay viết chiếu nói việc về Nam Giao đều phó thác cho khanh(TSN). TSN huy động binh 4 tĩnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúi Châu và Vân Nam. Quân họ Ô tên Vân, Qúi từ Tuyên Quang tràn vào(tài liệu khác nói đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh). Sầm Nghi Đống từ Cao Bằng tràn xuống. Tôn Sĩ Nghị do đường lớn từ trấn Nam Quan xuất phát. Trấn thủ Lạng Sơn Phan Khải Đức đầu hàng. TSN tiến đến Kinh Bắc(ghi chú số 3786 nói Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay). Quân Thanh chiếm Thăng Long. Tháng 11 nhà Thanh phong vua Lê làm An Nam Quốc Vương. Năm 1789 hồi trống canh năm ngày mồng 5 tháng giêng Nguyễn Huệ đốc chiến. Sầm Nghi Đống thắt cổ chết ở Loa Sơn(Đống Đa). TSN vượt cầu phao tháo chạy qua sông Hồng. Vua Lê chạy theo đến trấn Nam Quan. Các bầy tôi đi theo cũng lục tục đến. Nhà vua từ tạ với Sĩ Nghị rằng: "Tôi không giữ nổi xã tắc, tự biết sĩ nhục là phải phiền ngài đem quân sang cứu. Tôi lấy làm cảm kích vô cùng. Nay ngài lại bỏ tôi mà đi, tôi không dám lại làm phiền ngài nữa. Tôi xin trở về nước, lặt lượm quân và dân để toan tính cử sự sau này". Sĩ Nghị nói: "Đã tâu xin thêm quân rồi. Chẳng bao lâu, đại quân sẽ đến". Nhân đó Sĩ Nghị mời nhà vua vào yên nghĩ trong thành Quế Lâm. Vua Lê theo lời.
Đoạn sử này cũng không nói rõ ràng gì về biên ải. Sách sử bây giờ không bị quân xâm lăng tàn phá tịch thu nhưng nội chiến liên miên nên không có người viết lách. Bỡi thế sách sử trở nên nghèo nàn. Tới thời vua Nguyễn mới có nhà viết sử.
PHÁP XÂM LĂNG VIỆT NAM. Chiến tranh Pháp-Thanh. Hiệp ước Việt-Pháp 1874 cho phép Pháp đi thám sát các dòng sông nhưng bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc cản trờ vào đầu thập niên 1880. Lưu Vĩnh Phúc người châu Khâm cầm đầu đồ đảng hoạt động ở phía VN. Pháp đánh chiếm thành Hà Nội để tiểu trừ quân Cờ Đen. Nhà Thanh cũng lấy cớ đánh trừ thổ phỉ đem quân Vân Nam, quân Lưỡng Quảng áp sát biên giới. Cho hải đội Quảng Đông vào hải phận VN thị uy. Ngày 17-6-1882 quân Vân Nam vượt biên giới đánh chiếm Bắc Ninh và Sơn Tây. Quan bố chính Quảng Tây Từ Diên Húc đem quân sang tiếp ứng phối hợp với quân Cờ Đen giúp Hoàng Kế Viêm đã đóng chiếm từ năm 1881. Henri Riviere chiếm thành Hà Nội ngày 25-4-1882. Triều Huế ra điều đình. H. Riviere trả thành nhưng vẫn còn đóng quân ở trong hành cung. Huế cầu cứu nhà Thanh. Tổng đốc Lưỡng Quảng mật báo nên lợi dụng chiếm các tĩnh Bắc sông Hồng. Tháng 11-1882 đại sứ Pháp Bourre’tại TQ bàn thảo với Lý Hồng Chương. Hai bên tính đến khả năng nhượng vùng Lào Cai cho nhà Thanh để lập 1 cữa khẩu vào Vân Nam. Đồng thời thiết lập đường biên dọc sông Hồng. Phía Bắc thuộc nhà Thanh. Phía Nam Pháp quản lý. Lý Hồng Chương đồng ý và chuyển để phê chuẩn thỏa hiệp. Chính phủ Pháp không phê chuẩn, triệu hồi Boure’e về nước. Phe chủ chiến của Pháp thắng cuộc. Tăng viện binh cho Saigon. Ngày 12-3-1883 Rivieree đánh mỏ than Hòn Gai, hạ thành Nam Định. Lợi dụng Riviere vắng mặt, quân Nam cùng quân Cờ Đen và quân Thanh quay lại đánh thành Hà Nội. 1-9-1883 thắng trận ở Huế, Pháp tiến đánh quân Cờ Đen hạ thành Sơn Tây. Lực lượng mới vừa xâm nhập của nhà Thanh trương cờ nhà Thanh(không nấp dưới cờ đen nữa). Tổng đốc Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn đến củng cố thành Bắc Ninh. Quân Thanh và quân Việt đóng khắp nơi ở Bắc Việt Nam. Tháng 1 năm 1884 quân Thanh tiến vào Lào Cay Hưng Hóa(Sơn Tây) tăng cường quân Cờ Đen. Tổng cọng 50.000 quân đóng thành vòng cung từ Hưng Hóa vòng qua Thái Nguyên đến Bắc Ninh. Quân Pháp tăng cường định đánh thành Hưng Hóa trước nhưng vì mùa nước cạn khó tiếp tế bằng đường sông Hồng nên chuyển đánh thành Bắc Ninh. Quân Thanh nghi Pháp tiến theo đường cái quan nhưng quân Pháp qua sông Hồng rồi theo sông Đuống đến phối hợp với cánh quân ở Hải Dương đến Phả Lại(nơi 6 con sông gặp nhau. Quân Pháp lên bộ. Cả thủy bộ theo sông Cầu tiến đánh thành Bắc Ninh. Quân Thanh không chiếm các cao điểm. Pháp chiếm lấy và vì quân Thanh nhũng nhiễu hiếp đáp dân chúng nên Pháp nhanh chóng làm chủ. Khi Đáp Cầu bị thất thủ(chỗ sông Cầu cắt đường cái quan). Mất đường về Lạng Sơn quân Thanh hoảng hốt, tán loạn chạy về Thái Nguyên. Quân Cờ Đen chạy về Hưng Hóa. Pháp đánh Yên Thế rồi hạ thành Thái Nguyên. Pháp đánh thành Hưng Hóa và thành Tuyên Quan. Hoàng Kế Viêm theo thượng đạo về kinh đô Huế. Ký hòa ước Patrenote(1884) công nhận Pháp bảo hộ, từ bỏ thần phục nhà Thanh, giao nộp ấn bạc. Huế không chấp nhận giao ấn. Kết cục là nấu chảy ấn bạc. Tháng 5 và tháng 6 năm 1884 nhà Thanh   ký thỏa thuận với Pháp chấp nhận hòa ước Huế , rút khỏi Bắc Việt, bàn giao địa bàn cho Pháp. Pháp lên tiếp nhận Lạng Sơn. 19-6-1884 Pháp tới làng Bắc Lệ cách Lạng Sơn 30km dừng lại vì mưa lũ. Khi tiến lên phục binh nhà Thanh bắn chận. Quân Thanh thông báo cho Pháp biết là họ chưa có lệnh rút quân dù hạn định 20 ngày đã qua và đòi Pháp điện về Bắc Kinh xin chỉ thị. Chỉ huy pháp ra hạn 1 giờ quân Thanh phải rút. Qúa hạn quân Pháp tiến lên bị bắn chặn quyết liệt. Chiến tranh Pháp-Thanh bùng nổ. Pháp đánh Phúc châu(Phúc Kiến), Bành Hồ(eo biển Đài Loan). Quân Thanh vây thành Tuyên Quang. Pháp chia quân giải vây Tuyên quang và phần còn lại ở Lạng Sơn tiến lên đánh vùng biên giới(tháng 2-3/1885). Bị đánh bại tại Trấn Nam Quan pháp rút về Lạng Sơn và đánh bại quân Thanh trong trận Kỳ Lừa. Viên chỉ huy Pháp chỉ bị thương. Nhưng người thay thế viên chỉ huy hoảng hốt vội vã ra lệnh bỏ Lạng Sơn 28-3-1885. Lữ đoàn hỗn loạn chạy về châu thổ. Nội các mới của Pháp lên thay nội các chủ chiến, chấm dứt chiến tranh. Lý Hồng Chương ký hiệp ước 6-9-1885 theo đó nhà Thanh chấp nhận hòa ước Huế và từ bỏ quyền bá chủ(wikipedia). Tháng 12/1885 bác sĩ P. Neis tham gia phái đoàn phân định biên giới. Sang năm 1887 ký hiệp ước Pháp-Thanh phân định biên giới Bắc Kỳ-TQ. Thời kỳ đầu Pháp đô hộ vẫn dùng tên Trấn Nam Quan.
Trên đây ghi các trận đánh miền biên ải trải qua lịch sử vui buồn của các triều đại.
Mời xem phần 2.



0 nhận xét:

Đăng nhận xét