Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Người Việt Ly Hương



Dân tộc Kinh trên đất Trung Hoa

Tam Đảo

Tam Đảo chưa bị bồi đắp thành bán đảo.
Tam Đảo bị bồi đắp thành bán đảo.

NGƯỜI VIỆT LY HƯƠNG.
1-Người Kinh(Jing) sống ở Kinh Đảo, Đông Hưng(Dongxing)
1.1-Thị xã Đông Hưng và Mống Cái. Hai thị xã này ngăn cách nhau bỡi sông Bắc Luân(Ka long) hay Bắc Lôn Hà chảy dọc theo biên giới Việt-Trung. Tới phường Ka Long(Móng Cái) có nhánh chảy xuống phía Nam vào thị xã Móng Cái với cầu Ka Long và cầu Hòa Bình và nhánh tiếp tục chảy theo biên giới đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cữa Bắc Luân với cầu Bắc Luân nối 2 cữa khẩu Móng Cái và Bắc Luân.
1.2-Lịch sử. Khoảng thế kỷ thứ 16(nhà Mạc), cách nay khoảng 500 năm, một số người Việt lên lập nghiệp vùng Trường Bình-Bạch Long thuộc Đại Việt nhưng theo công ước Pháp-Thanh năm 1887 thì Trường Bình sát nhập vào Trung Hoa. Họ vẫn nói tiếng Việt, được công nhận 1 trong 56 dân tộc thiểu số(Jing ethnic hay Dân Tộc Kinh Trung Quốc, hay Kinh Tộc Tam Đảo) được Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa công nhận. Sinh sống chủ yếu trên 3 đảo(Tam Đảo hay Kinh Đảo) thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Choang, Quảng Tây: Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm(Wikipedia).
Thực tế có chừng 18.000 người Kinh(Jing) sống trong cộng đồng người Choang(15.555.800 người), người Di(6.578.500 người). Người Kinh(Jing) sống ở trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, Quảng Tây, xây dựng thành 6 làng và 1 khu phố chợ: Hạnh Vọng, Hồng Khảm, Đầm Cát, Vạn Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm và khu vực chợ Giang Bình. Kể từ năm 1971 Tam Đảo bị đất bồi biến thành 1 bán đảo. Hạnh Vọng là làng đạo Thiên Chúa, nhỏ có chừng 400 người. Làng Hồng Khảm(Đầm Trạch) có chừng 625 người mà 60% là người Kinh. Làng Đầm Cát có chừng 1.398 người với 980 người Kinh. Khu phố chợ Giang Bình thì người Kinh tụ tập theo nhu cầu buôn bán chứ không thành làng và thường có nhà ở các làng người Kinh đến đây buôn bán. Còn 3 làng nữa ở Tam Đảo: Làng Vạn Vĩ có chừng 4.062 người. Người Kinh chiếm 69%. Làng Vu Đầu có 1.600 khẩu với 90% người Kinh. Làng Sơn Tâm có 1.700 khẩu. Người Kinh chiếm 95%. Hiện tại người Kinh ở Giang Bình phân biệt thành người Kinh gốc, người Kinh tự nhận, người Kinh mới và người Kinh theo. Người Kinh gốc đã định cư ở các làng kể trên từ 5 đến 10 đời, còn duy trì tiếng Kinh và nhiều phong tục tập quán Kinh. Người Kinh mới là những người đến Giang Bình rải rác từ khoảng đầu thế kỷ 20 đến nay chủ yếu là những người buôn bán, đi tàu, lao động ở các bến bãi gần chợ Giang Bình và Đầm Cát, họ học phong tục Hán, nói tiếng Hán để phục vụ cuộc sống và rất ít có liên hệ với ngời Kinh gốc. Người Kinh tự nhận là người Hán tự nhận là người Kinh để hưởng chính sách dân tộc tiểu số, họ không hề biết tiếng Kinh và xa lạ với lịch sử và phong tục tập quán của người Kinh. Người Kinh theo là những người Hán hoặc các dân tộc thiểu số khác kết hôn với người Kinh. Các dân làng đều kể tổ tiên họ là người Đồ Sơn và Thanh Hóa (Việt Nam) đã di cư đến vùng biển Giang Bình được từ 5-10 đời, khai phá Tam Đảo đầu tiên, sau đó mới đến các khu vực khác. Ở các làng đều lưu truyền câu chuyện về tổ tiên của họ là những người đánh cá đến Giang Bình bằng bè, mảng, thấy đất này là ngư trường và lâm trường tốt nên ở lại. Dần dần người đông đúc thành làng, thành xóm, lập nên đền chùa miếu mạo. Người Kinh ở Giang Bình có sự thống nhất về nguồn gốc((Nguyễn Thị Phương Châm(NTPC), tác giả bài viết Dân Tộc Kinh Ở Giang Bình, trong 1 lần đi điền dã ở Giang Bình).
1.3-Người Kinh ở Giang Bình ngày Nay. Cũng tác giả này nói sau mấy trăm năm định cư nay 3 làng(Tam Đảo) là Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm còn giữ cơ cấu cổ xưa là khai thác biển, rừng, ruộng đất(40%). Còn lại là nghề nuôi hải sản, buôn bán và dịch vụ du lịch. Vì vậy thu nhập của người Kinh 3 làng này rất khá. Dân làng Hạnh Vọng nằm sát chợ Giang Bình không khai thác biển vì đất bồi bãi biển ra xa(phải đến bãi Sơn Tâm để làm biển) nay chủ yếu buôn bán, làm vườn cung cấp rau quả cho chợ Giang Bình, thu nhập kém hơn. Dân làng Hồng Khảm vẫn duy trì nghề làm biển vì bãi, lạch, ngòi từ biển vẫn còn khá gần làng thuận lợi khai thác ngao, sá sùng, móng tay, làm đăng, làm dậu…Họ làm thêm ruộng vườn và buôn bán thu nhập như làng Hạnh Vọng.  Làng Đầm Cát có nhiều bến bãi làm nơi neo đậu nên phát triển buôn bán than và hàng hóa khác với Việt Nam và phụ cận. Người già và phụ nữ vẫn còn làm biển ven bờ với dụng cụ đơn giản, thu nhập tương đương với Vạn Vĩ. Nói chung người Kinh ở các làng ngày càng giàu có. Mức độ Hán hoá và bảo lưu các yếu tố văn hoá cổ ở mỗi làng có sự khác nhau rõ rệt. Chỉ còn Sơn Tâm và Vu Đầu còn đông người nói tiếng Kinh nhất. Vạn Vĩ cũng có đông người nói tiếng Kinh nhưng vì đảo lớn đan xen với người Hán và có nhiều người du lịch nên không thường xuyên nói tiếng Kinh như người làng Vu Đầu và Sơn Tâm. Hạnh Vọng và Hồng Khảm còn người nói giỏi tiếng Kinh khá ít, hầu hết là các cụ già từ 70 tuổi trở lên. Ở Đầm Cát không tìm được ai nói tiếng Kinh. Cụ già 70 tuổi nói cha của ông cũng chỉ nói được 1 ít. Trong 6 làng người Kinh ở Giang Bình chỉ có 3 làng ở Tam Đảo còn giữ được nét văn hóa Kinh tộc. Họ bảo lưu được đình chùa miếu mạo, hệ thống di tích, lễ hội, tập tục của người Kinh. Đàn bầu được người Hán coi như độc hữu Kinh tộc. Tam Đảo xứng đáng mang cái tên là Kinh Đảo.
1.4-Một chút liên tưởng. Hình thành tộc Kinh trên đất Tam Đảo làm ta liên tưởng đến hình thành đất Nam Cù Mông, nay đúng 400 năm người dân ở đây làm kỉ niệm tuổi tròn 400 năm.
Hoàn cảnh tương tự. Vào thời Lê Mạc nước rơi vào nội loạn. Quần thần tranh nhau phế lập vua. Dân ở trung ương chịu  chiến tranh tàn phá nên đói khổ. Triều đình ra lệnh ở Thuận Hóa, vùng biên, ai siêng năng chăm chỉ chuyển thóc gạo được về triều thì được cất nhắc cho làm quan(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Đến khi lập được nhà Lê Trung Hưng thì tranh chấp ngã ngũ thành 2 phe Trịnh-Mạc. Thuận Hóa và Quảng Nam là vùng viễn biên yên ổn, ấm no hơn nên tiếp tục cung ứng lương tiền cho triều Lê Trung Hưng chỉ lo chuyện đánh đấm với nhà Mạc. Vùng viễn biên hấp dẫn di dân bỏ trung ương dầu sôi lửa bỏng đến đây lập nghiệp. Khi Trịnh Tùng lấy được Đông Đô năm 1593 dân chúng vẫn còn chịu nhiều lao lí vì phải dẹp tàn dư nhà Mạc. Nội chiến kéo dài đến đây làm mỏi mệt dân lành. Hải Dương, Đồ Sơn, Sơn Nam, Bắc Thanh Hóa là chiến trường của quân Mạc đối đầu với quân Trịnh qua lại chiến lũy Yên Trường, Vạn Lại, chiến trường của tướng Nam Đạo Mạc Kính Điển và Nguyễn Quyện của nhà Mạc với tướng Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng của nhà Lê Trung Hưng.
Đến năm 1600 Nguyễn Hoàng bỏ về Nam, thôi phò vua Lê để lập nghiệp riêng thì làn sóng di cư tiếp tục đổ về vùng viễn biên phía Nam. Người Hải Dương, Thanh Hóa theo về kể cả người nhà Mạc như Mạc Cảnh Huống(Khâm Định Việt Sử và Phủ Tập Ký Sự Quảng Nam của Mai thị nói về đất Quảng và về Bùi Tá Hán).
Đến khi giáo sĩ Borri đến vùng Nước Mặn thì vùng biên này trở nên giàu có dư dật về tài nguyên nông lâm hải sản(Bảng Tường Trình 1621 của Borri). Giáo sĩ này nói người dân hám của lạ nước ngoài đến nỗi bất cứ giá nào cũng mua cho được. Lụa là dư dật đến nỗi thường dân lao động mặc không sợ rách hay sợ lấm bẩn.
Trở lại chuyện họ Nguyễn lập nghiệp Chúa ở Miền Nam(Nam Hà). Năm 1600 Trung Quân Đô Đốc Thái Úy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng(1 trong 3 cột trụ triều đình: Đô Nguyên Súy Trịnh Tùng, Hữu Tướng Quân Thái Úy Vinh Quốc Công Hoàng Đình Ái và Thái Úy Đoan Quốc Công NH) về Nam lập nghiệp mới và trở thành chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Chúa Tiên quyết định chiếm đất Nam Cù Mông lập ra phủ Phú Yên làm bàn đạp để chúa Sãi tiến hành 2 cuộc Nam Tiến song song lấy đất Thủy Chân Lạp và phần còn lại của đất Chiêm Thành. Nhưng trước đó có 2 lần Trịnh Tùng(TT) đi bình định biên giới phía Nam(BGPN).
Lần thứ nhất vào dịp TT ổn định được tình hình sau cái chết của Trịnh Kiểm năm 1570. TT loại được Trịnh Cối. Lê Anh Tông phong TT làm Trưởng Quận Công tiết chế các dinh thủy bộ cầm quân đánh Mạc. Rồi Tiết Chế Trịnh Tùng diệt Lê Cập Đệ và truất phế Lê Anh Tông, lập vua Lê Thế Tông năm `1573. Quân Mạc lợi dụng tình thế rối ren tấn công giữ dội từ 2 mặt, TT lưỡng đầu thọ địch từ phía Bắc và Nam. Rồi Tiết chế TT trấn áp được quân Mạc ở phía Bắc và Tổng Trấn Nguyễn Hoàng giữ vững chiến tuyến phía Nam. Rồi thì BGPN được củng cố. Năm 1578 Lương Văn Chánh đánh vào Thành Hồ. BGPN được củng cố lần 2 vào năm 1597. Năm 1593 TT lấy được Đông Đô, làm chủ đất Bắc, một lần nữa đi củng cố BGPN.  Lê Thế Tông phong TT làm Đô Nguyên Súy. Đô Tướng Trịnh Tùng thưởng công cho Lương Văn Chánh năm 1596 rồi sai đi bình định đất Nam Cù Mông vào năm 1597(mời xem bài Thân Thế Lương Văn Chánh và Những Tồn Nghi đăng tháng 4 trong blog này). Nhưng có lẽ việc họ Trịnh lấy đất Chiêm Thành không thành nên đến năm 1611 việc lấy đất Chiêm Thành để cho họ Nguyễn.  Xứ Đàng Trong thành hình, tách khỏi trung ương, sống cuộc đời tự do gần 200 năm biệt lập với miền Bắc(1600-1802). Họ(dân ở Xứ Đàng Trong) hình thành 1 tộc Kinh có bản sắc riêng ở đất Nam Hà.
Thế rồi lãnh thổ lại được thống nhất vào đời Gia Long năm 1802, tộc Kinh này lại hòa nhập trở lại thành dân tộc Việt Nam. Lãnh thổ to lớn hơn, rộng tới bờ Vịnh Thái Lan và đến Trấn Tây Thành trên đất Campuchia vào đời vua Minh Mạng. Nước Đại Việt biến thành nước Việt Nam. Âu cũng nhờ họa trung hữu phúc. Nhờ có cái hoạ nội chiến(kể cả cái họa chiến tranh ở bên Tàu) mà thúc đẩy mở được đất phía Nam. Đất Phương Nam là đất dung thân của 4 dòng họ lánh nạn cai trị của các chánh quyền ở Phương Bắc, xuống Phương Nam định cư: Họ Nguyễn Hoàng-Mạc Cảnh Huống, Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch và Mạc Cửu.
Trở lại dân tộc Kinh Trung Hoa(người Jing). Cũng như để lánh nội chiến thời Lê-Mạc mà dân Thanh Hoa, Đồ Sơn vượt biển đến cắm dùi ở Tam Đảo, vùng viễn biên phía Bắc như nói ở trên. Ngày nay tộc Kinh này có 1 sắc thái riêng ở trên đất Trung Hoa.
Thống nhất được 1 thời gian thì đất nước rơi vào “thế gọng kìm thời đại, Tự Do-XHCN”, lại một lần nữa đất nước Việt Nam bị chia 2. Miền Nam có 21 năm(1954-1975) tách rời khỏi Miền Bắc. Tuy ngắn nhưng vì trào lưu thế giới chuyển đổi mạnh nên Miền Nam Việt Nam(trước kia là Nam Hà hay Xứ Đàng Trong) mang đậm đà một lần nữa bản sắc riêng. Sau 2 lần chia cắt và 1 lần thuộc nước Lâm Ấp-Hoàn Vương-Chiêm Thành, đất Nam sông Gianh có cái gì khang khác đáng gọi là Đất Phương Nam.
Sau 1975 một lần di cư nữa cũng mang lại cộng đồng người Kinh ở Hải Ngoại. Nhớ xa xưa cũng vì tranh chấp quyền mà có những cuộc di cư để hình thành tộc Kinh ở hải ngoại, họ Lý ở Cao Ly.
2-Họ Lý ở Cao Ly
2.1-Theo Wikipedia, Lý Long Trường(LLT) là hoàng tử thứ 7 của Lý Anh Tông nước Đại Việt, Hoa Sơn tướng quân(Hwasan Sanggun) của nước Cao Ly. Ông sinh năm Giáp Ngọ (1174). Được vua Trần Thái Tông phong chức Thái Sư Trương Trụ Quốc, lĩnh chức Đại Đô Đốc, tước Bình Kiến Vương. Sau đó Trần Thủ Độ tàn sát tôn thất nhà Lý, buộc tất cả đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1226, LLT mang gia bảo, 6 ngàn gia nhân, đi trên 3 hạm đội thoát ra cữa Thần Phù. Sau 1 tháng gặp bão ghé Đài Loan. Khi quyết định đi tiếp, con trai là Lý Long Hiển ốm nặng nên cùng 200 gia thuộc ở lại Đài Loan. Có thuyết nói Lý Đăng Huy là hậu duệ của Lý Long Hiển. LLT bị bão làm trôi giạt vào bờ biển phía Tây Cao Ly. Tương truyền nói vua Cao Tông nước Cao Ly(báo Tuổi trẻ nói là vua Kojong của vương quốc Goryeo) mơ thấy 1 con chim cực lớn bay từ Phương Nam lên nên Lý Long Trường được tiếp đón ân cần và được cho dung thân. Họ trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, mở Độc Thư Đường dạy văn, võ đường dạy võ.
Năm 1232 Nguyên Mông tiến đánh Hoàng Hải bị Lý Long Trường đẩy lui. Ông được gọi là Bạch Mã tướng quân. Năm 1253 bị tấn công lần 2 Lý Long Trường chống trả suốt 5 tháng ròng. Sau chiến công vua Cao Ly đổi tên Trấn Sơn thành tên Hoa Sơn. Lý Long Trường làm Hoa Sơn tướng quân. Vua Cao ly cho lập bia ghi công. Khi mất được chôn ở núi Di Ất gần Bàn Môn Điếm ngày nay. Ngày nay hậu duệ có khoảng hơn 600 người. Ngày 6 tháng 11 năm 1958 tổng thống Lý Thừa Vãn thăm VNCH tuyên bố tổ tiên của ông là người Việt(đời thứ 25). Năm 1994 Lý Xương Căn, hậu duệ thứ 26 qua VN tìm đến từ đường họ Lý ở làng Đình Bảng huyện Từ Sơn Bắc Ninh bái tổ.
Ngoài ra Lý Dương Côn, con nuôi của Lý Nhân Tông, cũng sang Cao Ly tị nạn. Năm 1150, đô đốc thủy quân Lý Dương Côn cùng gia tộc trốn sang Cao Ly. Lý Nghĩa Mẫn(Lee Ui Min) là hậu duệ đời thứ 6 trở thành nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Cao Ly.
2.2-Nguồn tài liệu khác nói về Lý Long Trường. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam(tập I NXB Giao Dục-1997) viết mùa xuân năm Bính Tuất (1226), Trần Thủ Độ truất bỏ ngôi thượng hoàng của Lý Huệ Tông. Trần Thủ Độ diệt trừ thế lực còn lại của nhà Lý. Một số hoàng thân tìm cách di cư ra nước ngoài như Lý Long Tường chạy sang Cao Ly(báo Tuổi Trẻ).
Diễn Đàn Lịch Sử Văn Hóa Sinh Viên Đông Du viết Lý Long Trường cùng Lý Quang Bậc(em của học sĩ Lý Quang Châm bị Trần Thủ Độ giết) mang đồ thờ cúng chạy ra biển Đông bị bão dạt vào Trung Hoa không biết sống chết ra sao(báo Tuổi Trẻ). Trong tiểu thuyết Hoàng Thúc Lý Long Trường, nhà văn và nghiên cứu Kang Moo Hak nói Lý Long Trường có ghé Nam Kinh nhưng khi đó nhà Tống đã chấp nhận sứ thần của nhà Trần rồi nên ông đành phải tìm nơi nương tựa(báo Tuổi Trẻ). Đoạn mô tả ghé Đài Loạn và để lại người con tên là Lý Long Hiển là do nhà văn Vũ Ngọc Tiến(Hà Nội) viết. Do đó Tài liệu khác đặt câu hỏi là liệu Lý Đăng Huy có phải là hậu Duệ của Lý Long Hiển(Báo Tuổi Trẻ). Phóng viên Tuổi Trẻ tiếp xúc hậu duệ họ Lý ở Hàn Quốc nói gia phả họ Lý ở Cao Ly ghi LLT tấp vào cữa biển Ongjin-gun(Khang Linh) tĩnh Hwanghae. Toàn bộ hơn 1000 người đều lấy họ Lý để tỏ trung thành và biết ơn LLT. Gia phả họ Lý ở Hoa Sơn cho biết 1 nhánh di cư xuống Nam định cư ở An Dong và BongHwa. Họ Lý hiện nay có chừng 1500 hộ ở CHDCND Triều Tiên và 600 người ở Hàn Quốc.
Đoạn viết trên đây đưa ra những trường hợp 1 số người Việt li hương tập thể trong những hoàng cảnh lịch sử tương đồng(nội chiến). Có thể nói đó là những người đồng hội đồng thuyền. Tập thể người Đất Phương Nam(người Nam Hà hội nhập với người bản địa xứ Nam Đèo Ngang và Thủy Chân Lạp), người họ Lý ở Cao Ly nói trên, người Jing nói trên và thuyền nhân sau 1975 là những người đồng hội đồng thuyền, những tộc Kinh tiểu số ở trên khắp hoàn vũ.  Có cơ hội chúng ta(Người Việt Ly Hương) nên tìm đến với nhau.
Mùa lễ hội mừng Phu Yen 400 năm
Huynh Ba Cung.

 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét