Phú
Yên là 1 tĩnh nhỏ
và
nghèo nằm kẹp giữa 2 tĩnh lớn là Khánh Hòa và Bình Định nên ít ai biết đến trừ
những người chịu nghiên cứu sử ký và địa lý. Sự kiện lịch sử cũng không có gì đặt
biệt xảy ra ở nơi đây ngoại trừ PY là cái nôi mà chúa và vua Nguyễn làm 2 cuộc
Nam Tiến hấp dẫn những người muốn tìm hiểu lịch sử nước nhà. Anh hùng hào kiệt
không có mấy ai nổi bậc ở tầm mức cả nước. Riêng về viết lách thì tới nay mới
có tác giả Võ Hồng được nhiều người trong nước và ngoài nước biết đến như 1
danh nhân.
Tiểu sử: Ngày 4-4-2013 nhà văn mất, thọ 92 tuổi(1921-2013). Đúc
kết các bài viết về ông vào dịp này(dịp ông mất) tóm lược lại thì thấy tiểu sử
như thế này. Sinh ngày 5-5-1921 tại làng Ngân Sơn, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên. Học
trường Xã (Ngân Sơn), trường Phủ (Tuy An), trường tĩnh(Sông Cầu), tường khu vực
Nam Trung Kỳ(College de Qui Nhơn hay Quốc Học Qui Nhơn. Quốc Học Vinh thì ở
phía Bắc), tốt nghiệp bằng Thành Chung năm 1940, học ban Tú Tài Hà Nội học luôn
Nhật Ngữ, chạy về quê Phú Yên năm 1943 vì Hà Nội bị Đồng Minh bỏ bom. Năm 1945,
Võ Hồng giữ chức bí thư cho tổng đốc Trần Văn Lý ở Ðà Lạt trong chánh phủ Trần
Trọng Kim. Trong những ngày ở Ðà Lạt, Võ Hồng quen một bạn gái và sau ngày Việt
Minh cướp chính quyền, gặp lại nhau trên đường chạy loạn từ Ðà Lạt xuống Phan
Rang, Nha Trang về Tuy Hòa. Hai người đã tìm hiểu nhau để sau đó, một hôn lễ cử
hành tại xã Ngân Sơn. Rồi vợ chồng Võ Hồng sống rất hạnh phúc trong những ngày
kháng chiến với nhiệm vụ dạy học và có lần làm hiệu trưởng trường Trung Học
Lương Văn Chánh(?) ở vùng quê anh(Ngân Sơn). Chiến dịch Atlante(1953), để vợ ở
lại nhà, theo đoàn cán bộ ra vùng Bình Ðịnh. Tại đây, VH đi làm thợ hớt tóc,
nhưng chưa hề hành nghề hớt tóc lần nào. Tài liệu cũng viết năm 1953 bị bịnh xin
nghỉ dài hạn. Tháng 8 năm 1954 VH trở về Đà Lạt vì vợ dạy học ở đó. Từ năm 1956
sống ở Nha Trang. Rồi vợ mất(1957) để lại gái đầu lòng lên 9, một con trai và một
con gái út thì mới lên 3. VH “gà Trống nuôi con” và hành nghề dạy học từ bấy giờ
đến nay(dạy trường tư Lê Quí Ðôn và Bồ Ðề Nha Trang). Nghỉ hưu năm 1982. Năm
2006 bị bệnh mằm 1 chỗ phải nhờ sự chăm sóc của 1 người học trò cũ.
Để
hiểu 1 tác phẩm ta nên hiểu rõ thân thế của tác giả. Thầy dạy Việt Văn khi xưa
nói như thế. Bài học đầu tiên về 1 tác giả là bài nói về tiểu sử tác giả. Do đó
xin chịu khó đọc đoạn văn tự dài dòng sau đây để hiểu về tác giả VH.
Sự
kiện lịch sử gắn liền với tiểu sử VH. VH ra đời đúng vào năm trường College de
Qui Nhơn mở niên khóa đầu tiên(1921-1922), khai sinh nền Tân Học thay thế nền Cựu
Học với trường khu vực là Trường Bình Định đóng cữa sau khoa thi Hương cuối
cùng năm 1918. Năm 1940 VH tốt nghiệp bằng Thành Chung(bậc Cao Đẳng
Tiểu Học, 1 thứ Trung Học thời đó) rồi ra thủ đô vào học Ban Tú Tài(Tú Tài thời
ông Tú Trần Suyền). Năm này(1940) Nhật vào Đông Dương) để ngăn chặn đường tiếp
tế duy nhất của Đồng Minh cho Trung Hoa chống Nhật qua tuyến xe lửa Hải
Phòng-Lào Cai. VH bỏ thủ đô về quê năm 1943 vì Hà Nội bị Đồng Minh bỏ bom(Lúc bấy giờ Đồng
Minh chỉ can thiệp vào chiến trường Đông Dương bằng không lực).
Đến
năm 1945
Nhật lật đổ Pháp(9-3-1945), lập chính phủ hoàng gia Trần Trọng Kim(17-4-1945).
Hoàng Xuân Hãn (HXH) làm Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ Nghệ lập ra chương trình giáo
dục nổi tiếng HXH thay thế chương trình trường College thời Pháp Thuộc. Khâm sai Bắc Bộ, khâm sai Nam Bộ được thành lập.
Bốn tĩnh cực Nam Trung Việt cũng được thành lập như 1 tiểu Khâm Sai Lâm-Đồng-Bình-Ninh(Lâm
Viên, Đồng Nai Thượng, Bình Thuận và Ninh Thuận). Hoàng thân Trần Văn Lý làm Tổng
Đốc. VH được giữ chức Bí Thư cho hoàng thân này. Trước đó vào năm 1944 TVL làm Tuần Vũ ở Phú Yên
là quê hương của VH. Tháng 8 năm 1945 Việt Minh (VM) cướp chính quyền Đà Lạt,
TVL bị bắt giải về Huế và được tha trong khi các quan đại thần khác của triều Bảo
Đại như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Nguyễn Bá Trạc bị chết thảm(Wikipedia). VH rời
1 nhiệm sở của chính phủ Hoàng Gia về
quê ở Phú Yên thuộc vùng kiểm soát của Việt Minh với tên nước mới là Việt Nam
Dân Chủ Cọng Hòa(VNDCCH). Trường Trung Học đầu tiên ở PY lấy tên là Trung Học Lương
Văn Chánh(THLVC) được mở ra vào ngày 15-10-1946 gồm 1 lớp Tứ Niên, 2 Tam Niên, 3 Nhị Niên và
5 lớp Nhất Niên như danh xưng của 1 trường College(Nam Đà Nguyễn Chu trên
phuyenonline). VH tham gia dạy học và có lần làm hiệu trưởng(không biết làm hiệu
trưởng trường này hay trường cấp 2 sau đó). Chỉ có 5 lớp Nhất Niên THLVC mới thật
sự là thế hệ học sinh Trung Học đầu tiên ở PY. Các lớp kia thuộc thế hệ học
sinh trường College của Pháp hay theo học chương trình HXH của nước Hoàng Gia
Việt Nam. Năm 1950 VNDCCH cải tổ giáo dục. Các lớp Nhất Niên nói trên cũng hoàn
tất chương trình Trung Học và đã ra đi(về Quảng Ngãi học tiếp). Một thế hệ học
sinh Trung Học PY(THHSTH PY) đã đi qua. Trường tĩnh TH LVC không còn nữa. Thay
vào đó là các trường cấp 2 ở các huyện có danh xưng tùy theo huyện trú đóng như
trường Cấp 2 huyện Tuy Hòa(trường Lò Tre, trường Phú Lộc…), trường Cấp 2 huyện
Đồng Xuân(trường Gò Duối), trường Cấp 2 huyện Tuy An(trường Gò Sen)…và họ học
chương trình cải cách của nước VNDCCH, khác với chương trình trường College hay
chương trình Hoàng Xuân Hãn. Một thế hệ học sinh trung học PY mới(học sinh cấp
2) lại ra đời và cũng chấm dứt vào năm 1953(một số tập kết ra Bắc, số còn lại học
trường mới mở là trường Nguyễn Huệ). Năm 1954 trường Trung Học Nguyễn Huệ với tên
nước là Quốc Gia Việt Nam ra đời rồi tồn tại dưới thời Việt Nam Cọng Hòa cho tới
năm 1975 và sau đó. Sau 1975 PY mở thêm một trường mới lấy tên là Trường Chuyên Lương Văn
Chánh. Không có 1 sự liên tục nào từ TH LVC nói trên với trường
chuyên này cả, trường mới này chẳng có dính dấp gì với thầy Võ Hồng.
Trở
lại tiểu sử nhà văn VH. Tài liệu viết vắn tắt “Chiến dịch Atlante để vợ ở lại nhà, theo đoàn cán bộ ra vùng Bình Định” và “năm
1953
bị bịnh xin nghỉ dài hạn ” tức nhà văn chấm dứt nghiệp dạy ở PY khoảng năm
1953 mà nguyên nhân không rõ ràng gì. Không biết bị bịnh hay qua sự cải tổ giáo
dục mà nhà văn không dạy học nữa. Một bài viết của nhà giáo VNDCCH Nam Đà Nguyễn
Chu trên phuyenonline nói lớp chỉnh huấn tháng 11-1953 do sở giáo dục Liên Khu
5 triệu tập có hơn 30 giáo viên PY tham dự. Sau chỉnh huấn có sự phân công các
thầy về trường này, trường kia. Thầy Huỳnh Diệu thì bị làm tờ kiểm điểm và sau
đó chạy theo trung đoàn Lê Lợi của địch. Bài viết không đề cập đến tên thầy VH.
Tháng
7 năm 1954
thi hành hiệp định Geneve. Tháng 8 VH trở về Đà Lạt. Như thế bây giờ VH rời đất
Liên Khu 5 về “chốn cũ” mà thời Việt Minh gọi là vùng bị chiếm, nhiệm sở đầu đời
của ông. Hai năm sau vào năm 1956 VH định cư ở đất mới ở bên kia xứ Nam Ngãi
Bình Phú nóng nực có không khí mát mẻ thoải mái hơn, xứ Nha Trang, nằm kề nhiệm
sở cũ của ông, đất tiểu khâm sai Lâm-Đồng-Bình-Ninh như nói ở trên(Nha Trang
cũng như Đà Lạt trước đó gọi là vùng bị chiếm). PY tuy là nơi chôn nhau cắt rốn
nhưng VH chỉ tồn tại ở đó thời ấu thơ và 9 năm đầu đời dạy học(vùng tự do hay
vùng kháng chiến). Lần này VH không trở về vùng gọi là tự do trước đó. Suốt đoạn
đời trưởng thành còn lại (viết văn và dạy học) VH chọn quê hương thứ 2 sinh sống
cho đến cuối đời và tính gởi gắm xương cốt cả đại gia đình ở nơi đây, Suối Đá
thuộc xã Suối Cát huyện Cam Lâm Khánh Hòa.
Sự nghiệp văn chương:
Võ Hồng và đất Phú Yên, Khánh Hòa.
Cũng
trong dịp VH mất, tóm tắt sự nghiệp văn chương của ông như sau. VH viết văn từ
năm 1939, khi còn học đệ tam niên ở Qui Nhơn. Tác phẩm đầu tay là truyện ngắn “Mùa
gặt”được đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy giữa năm 1939, với bút hiệu
Ngân Sơn. Nhưng mãi đến năm 1959 ông mới gia nhập làng văn với tác phẩm “Hoài
cố nhân.”Ở vùng kháng chiến không viết 1 tác phẩm nào.
Ông
cho ra đời 8 tiểu thuyết và truyện dài, trên 70 truyện ngắn, nhiều tập tùy bút,
bút ký và 10 tập truyện, thơ viết cho thiếu nhi cùng 40 bài viết, khảo cứu, phê
bình...Tác phẩm của ông được trích giảng trong sách giáo khoa chương trình
trung học trước 1975. Và sau năm 1975, văn nghiệp của ông cũng được làm đề tài
cho các luận án tiến sĩ, thạc sĩ ở trong nước và một số sách được tái bản ở
Paris và ở Hoa Kỳ.
Sau
năm 1975 ông tiếp tục dạy học, giới hạn sinh hoạt văn nghệ. Có thêm khoảng 15 đầu
sách, vài ba cuốn tái bản, một số tên sách mới nhưng in các bài viết trước
1975(Đặng Tiến-Trieuxuan info).
Đọc
các bài viết về ông trong dịp này tôi thấy nhà văn có 1 số đặc điểm. Tập “Văn học
yêu nước và cách mạng ở Sài Gòn và các thành thị miền Nam giai đoạn 1954- 1975”
nhận định: “Có thể nói ông(VH) là nhà văn của lòng nhân ái…nhưng đáng chú ý và
có thể nói là dũng
cảm” Tập sách này dẫn chứng các sách “Hoài Cố Nhân”, “Trầm Mặc
Cây Rừng”, “Hoa Bươm Bướm”, “Như Cánh Chim Bay” và “những tác phẩm viết về cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân ta”. Tập sách phê bình tiếp: “ sống giữa chính thể “Việt Nam cộng hoà” trước năm 1975 mà viết về kháng
chiến thì đúng là dũng cảm!”(Nguyễn Thị Hoàng Bắc(NTHB), học trò của VH
trích). NTHB nói bà cũng đồng ý với các tác giả khác là Võ Hồng chưa bao giờ muốn dùng văn chương của mình để
chứng tỏ là người dũng cảm, muốn chống lại “Việt Nam cộng hoà” bằng những
truyện viết về kháng chiến chống Pháp. Nếu đúng thì kiểm duyệt Miền Nam quá ngu
ngơ lỏng lẻo hay quá rộng rãi để cho các tác phẩm của VH in ấn phổ biến tràn
lan. NTHB lại nhận xét thái độ chính trị trong văn
chương VH không có dũng cảm, cũng không có hèn hạ, không có xu thời, cũng không
thời thượng mà chỉ là như ông từng tâm sự: “Ước
muốn của tôi là ghi lại chơn thiệt những gì đã xảy ra, không khen chê, không định
kiến, giống như người thợ bấm máy chụp hình không sắp đặt dàn dựng. Tôi thương
các thế hệ tổ tiên cơ cực, nhọc nhằn. Tôi thương đồng bào thế hệ tôi cũng nhọc
nhằn cực khổ. Tôi muốn thế hệ con cháu biết được cách sống của ông cha, mà cụ
thể ở đây là người miền Trung.”
Tính
chất trung thực, giữ cho ngòi bút được độc lập cũng được tác giả khác ghi nhận:
“Võ
Hồng kể chuyện kháng chiến, từ thời Nhật thuộc đến hết thời Pháp thuộc, mà ông
đã trải qua. Nhưng như khách bàng quan, không dấn thân mà cũng không phê phán.”(Đặng Tiến-Trieuxuan info). Tác
giả này có nhận xét đồng hương Khu Năm với ông, phần
đông là những người có ý chí, lập trường, động cơ chính trị mạnh mẽ, thậm chí
quá khích, không chống bên này thì chống bên kia. Tác giả nói tiếp thái độ không
kích động hận thù, không xúi dục kẻ khác lao đầu vào cõi chết của VH trước đây
không được lòng cả 2 phe lâm chiến. Nhưng ngày nay, những ghi nhận thời chiến của
VH trở thành những chứng từ quý hiếm và có giá trị vì tính khách quan của nó. Tôi
cũng nghĩ như tác giả đó và viết thêm: nhờ đó mà VH giữ được nhân cách. Có
nhiều người ngưỡng mộ ông.
Tính
chất giữ cho được ngòi bút khách quan độc lập, tránh thị phi hiểu lầm của VH
được 1 số tác giả khác khám phá là thấy VH sau 1975 tiếp tục viết nhưng tự giới
hạn sinh hoạt văn nghệ, giới hạn ngòi bút trong để tài giáo dục và tuổi thơ,
giữ cuộc sống trầm lắng ẩn dật. Ông ẩn mình dưới hai bút hiệu là Võ An Thạch và
Võ Tri Thủy cho đến khi báo chí trong nước phát lộ, ông mới ký tên thật là Võ
Hồng. Năm 1977 ông gia nhập Hội Nhà Văn dù có lời ong tiếng ve(các bài viết nói
như thế) nhưng ông vẫn giữ được tính chất độc lập. Tính chất trầm lắng ẩn dật kín
đáo của VH được Trần Huiền Ân(học trò, đồng hương và có thông gia với VH),
trong 1 bài viết nhân dịp ông mất, đăng trong tạp chí Sông Ba nói đến. Tác giả
này viết: “Thầy có nói về thầy Trần Sĩ là
con sư tử rừng Hóc Lá, thì thầy ít nhất cũng là một con cọp bạch dưới chân núi
A-man, dễ gì để cho chúng tôi bắt mạch”.
Võ
Hồng kể năm ông 70 tuổi người ta dựng 1 phim ngắn về ông: “Thầy Võ Hồng.”Ông
nói ông cảm động lắm nhưng vẫn thấy ngường ngượng vì phải “đóng phim.”(Đỗ Ngọc
Hồng-Giacngoonline). Đưa thêm 1 chi tiết nữa để thấy ý muốn “cây bút” được độc
lập của VH.
Thêm
1 chuyện sau đây nói lên cá tính của nhà văn. Các bài viết nói VH trồng 1 cây
bàn chải ở bên mình. Ông nói với họ là để nhớ quê hương của tổ tiên nghèo khó
nhưng phải dấu ở 1 nơi vì sợ người ta nói ông lập dị. Nhưng truyện(chuyền miệng)
VH bán nhà chứ không bán sân thượng, nơi ông trồng hoa, đâu có xa chuyện lập dị
bao nhiêu.
Đất
nước gắn liền với đời sống của con người. Từ đoạn tiểu sử và sự nghiệp văn
chương trên đây rút ra nhận xét về sự liên hệ VH với đất Phú Yên, khánh Hòa.
Đời người được 92 tuổi. VH chỉ gắn liền với đất PY thời ấu thơ và 9 năm đầu đời
dạy học ờ vùng kháng chiến và là quê nhà. Một khi ra đi khỏi vùng kháng
chiến(Khu 5) vào vùng bị chiếm(cực Nam Trung Bộ), cụ thể là Nha Trang, VH ít
khi về thăm quê nhà(các bài viết vào dịp VH mất).
Phần
lớn năm tháng còn lại ông sống ở đất nói là tiểu khâm sai Lâm-Đồng-Bình-Ninh
nói trên đây, nhiệm sở đầu đời của ông(Cái
thuở ban đầu lưu luyến ấy/Ngàn năm chưa dễ đã ai quên). Mảnh đất ấy gắn
liền với người con gái Đà Lạt mà ông yêu suốt đời không rời bỏ hình bóng, vợ
ông-bà Marie Diệu Báu. Người phụ nữ này
từ cái tên, nghề nghiệp(dạy Anh Văn và âm nhạc), nhan sắc đến nơi ở(xứ
hoa anh đào) mang lại hình ảnh mang tính chất “tiểu tư sản” rất phù hợp khung
cảnh nhiệm sở đầu đời của ông, một tiểu khâm sai của hoàng triều cai trị
bỡi một hoàng thân, ông Trần Văn Lý. Chắc
VH phải nhớ “cái thuở ban đầu ấy.” Đất PY tuy là nơi chôn nhau cắt rún nhưng
không phù họp để rung động lòng ông.
Thời
âu thơ VH gắn liền với đất PY. Học sinh VH là hình ảnh thế hệ học Tân Học đầu
tiên. Họ xuất thân từ trường Collge de Qui Nhơn thời Pháp Thuộc. Trước đó là thế
hệ cha của họ, thế hệ ông đồ(Tú Tài), ông cống(Cử Nhân) xuất thân từ trường
Bình Định của hoàng triều. Đọc “Tuấn-Chàng Trai Nước Việt” trong tạp chí Phổ
Thông của Nguyễn Vỹ thì nhận ra được hình ảnh thế hệ học sinh ở PY thời VH đi
học. College de Qui Nhơn sản sinh 2 nhà Văn thành danh là Nguyễn Vỹ(NV) và Võ
Hồng. Một chống Nhật nên bị tù ở ngục Trà Khê cũng ở Phú Yên(NV) và một theo
hoàng thân tuần vũ PY Trần Văn Lý lên cai trị tiểu khâm sai
Lâm-Đồng-Bình-Ninh(VH) của chính phủ hoàng gia Trần Trọng Kim thân Nhật.
Đầu
đời dạy học VH gắn liền với đất PY với nghiêp dạy trung học. Có 2 giai đoạn
trường trung học ở đây. Trường tĩnh Trung Học Lương Văn Chánh và các trường cấp
2 ở các huyện. Không rõ VH làm hiệu trưởng trường nào. Sau giai đoạn cải tổ
giáo dục(1950-1953) và đến năm 1953(các giáo viên đi học khóa chỉnh huấn), VH
thôi dạy học. Số học sinh học thầy VH ở PY phải ít hơn học sinh ở Nha Trang học
thầy VH. Liên hệ VH với người PY phần lớn là liên hệ người đồng hương hơn là
liên hệ thầy trò.
Võ
Hồng gắn bó với đất Khánh Hòa nhiều hơn. Học trò của ông ở Khánh Hòa(KH) đông
hơn và VH viết văn lúc sống ở KH. Địa Danh và nhân vật trong các tác phẩm bao
trùm cả khu vực miền Nam Trung Bộ. Như trên đây đã đề cập, VH chọn Khánh Hòa làm
nơi gởi hài cốt như Yersin chọn Khánh Hòa làm quê hương thứ 2. Lắm người thích
chọn nơi mình sống làm quê hương hơn nơi mình sinh đẻ. Người Phú Yên hãnh diện
có được 1 nhà văn thành danh gốc ở PY. Việc “lôi kéo” danh nhân này về đất PY
nên khiêm nhường kéo vấp phải “thấy người
ta sang bắt quàng làm họ” ngược với ý chí VH chọn đất bên kia Đèo Cả làm
quê hương, cố sống và chết ở đó. Mặc dù
sống cô đơn và không thiếu dịp rời bỏ(theo con xuất ngoại), VH thực hiện sống
hết cuộc đời ở Nha Trang và gởi nắm xương tàn ở đây. Việc lôi kéo danh nhân Lương
Văn Chánh vào đất PY trái với lịch sử còn đó.
PY,
một ngày trong
mùa
Thanh Minh 2013.
Huỳnh
Bá Củng.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét