Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Công Chúa Huyền Trân-Chuyện Tình Sử








CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN
CHUYỆN TÌNH SỬ
(Lời giới thiệu. Trong bối cảnh TQ áp lực xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ, trong những ngày đầu năm rãnh rỗi, mời các bạn lướt qua đoạn lịch sử dưới đây để cảm nhận công lao khó nhọc trong việc dựng nước và giữ nước của Tiền Nhân)
1-Chính sử viết.  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT) viết năm 1301 Thượng Hoàng Trần Nhân Tông(TH) vân du sang Chiêm tháng 3, tháng 11 từ Chiêm về( vân du được 9 tháng). Năm 1305 Chế Bồ Đài đem hơn 100 người dâng hiến vàng bạc hương quí vật lạ sang cầu hôn. Các quan cho không nên chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái(con của Trần Quang Khải) và Trần Khắc Chung(Đỗ Khắc Chung được cho họ của vua) tán thành. Năm 1306 tháng 6 gả công chúa Huyền Trân. Trước đây TH vân du sang Chiêm hứa gả con gái út. Các văn sĩ trong triều ngoài nội mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm thơ từ bằng quốc ngữ châm biếm.
ĐVSKTT viết tiếp Năm 1307, tháng giêng đổi tên Ô Lý thành Thuận Châu Hóa châu, cho Đoàn Nhữ Hài vỗ yên 2 xứ ấy. Trước đấy(có nghĩa là không phải trước 1305 là năm cầu hôn, tức chỉ có hứa gả không điều kiện.  Chuyện hôn nhân ở đây là chuyện trong sáng) chúa Chiêm Thành Chế Mân đem đất hai châu đó làm lễ vật dẫn cưới, nhưng người các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo. Sai Nhữ Hài đến tuyên dụ, chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về. Tháng 5 Chế Mân chết. Tháng 9 Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng. Mùa đông, tháng 10, sai Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trân và thế tử Đa Da về.Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói "Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu". Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô.
2-Các tác giả đời sau viết:  Chỉ có thế mà các thế hệ đời sau không biết dẫn từ sách sử nào mà người ta viết truyện tình Huyền Trân- Trần Khắc Chung lâm ly thành tiểu thuyết tình sử. Nội “cái lâu ngày” thấy viết trong chính sử nói ở trên mà các tác giả diễn ra chuyện Trần Khắc Chung du hí với HT trên biển lâu cả  năm. Năm 1308 tháng 8 HT mới về tới Thăng Long(giải thoát tháng 10-1307). Các tác giả lại viết năm 1309 HT xuất gia ở chùa Trâu Sơn, Bắc Ninh dưới sự ấn chứng quốc sư Bảo Phát. Pháp danh Hương Tràng. Năm 1311 tu ở am dưới chân núi Hổ, am trở thành chùa Nộm Sơn hay Quảng Nghiêm tự,  Nam Định. Lại còn nói Huyền Trân sinh đúng năm 1287!
Để xác định tuổi, tôi tra cứu ĐVSKTT: Trần Nhân Tông(TNT) sinh năm mậu ngọ (1258) có 3 con là Trần Anh Tông(TAT), Quốc Chấn(QC) và Huyền Trân(HT). TAT băng năm 1320, thọ 45 tuổi. Như vậy TAT sinh năm 1275. QC sinh năm 1281(ĐVSKTT). Sử không ghi Huyền Trân sinh năm nào. Việt Nam Thư Quán nói HT là con gái út của TNT. Kết luận thì vào năm 1306 TAT được 31 tuổi, QC 25 tuổi suy ra HT 19 tuổi tức sinh năm 1287 như nói ở trên thì họp lý; Thượng Hoàng Trần Nhân Tông được 48 tuổi, Trần Khắc Chung(TKC), người đồng thời với TNT phải cỡ 45-50 tuổi. Trong trận năm 1282 Đỗ Khắc Chung(Trần Khắc Chung) được vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông cử sang trại Ô Mã Nhi thuyết khách được Ô Mã Nhi phục tài thì tuổi của ông ta xấp xỉ bằng tuổi của TNT. Huyền Trân đáng tuổi con út của Khắc Chung. Thế mà các tác giả đời sau viết chuyện tình HT-TKC như 1 cặp tài tử giai nhân cùng trang lứa lâm ly ra rít. Không biết dựa vào tài liệu nào mà viết Đỗ Khắc Chung(ĐKC) 16 tuổi đỗ tiến sĩ năm 1281, học được nghề thêu của quan Đại Phu Trần Khắc Long, nên lấy tên là Đỗ Khắc Chung. Nghề thêu lôi cuốn chàng trai tài hoa vào mối tình dang dở đẫm nước mắt với công chúa Huyền Trân(đáng tuổi con út của mình). Khắc Chung dạy công chúa thêu thùa là dịp để trai tài, gái sắc trở nên yêu nhau kiểu “Khách giai nhân so với khách văn nhân/Sắc tài ai kẻ cầm cân?” như bài thơ của Cao Bá Quát nói lên cái tất yếu đó. Các tác giả viết tiếp: Nhưng họ chỉ thầm yêu thôi vì có tới 6 nữ tì canh chừng công chúa. Tác giả khác lại nói có 3 lần xui khiến đôi trai tài gái sắc gặp nhau: Lần thứ nhất nhân dịp triều kiến việc đánh giặc Ai Lao mà Khắc Chung bắt gặp HT ở trong triều. Hai trái tim đôi trai tài gái sắc hốt nhiên rung động xao xuyến từ dạo đó. Lần thứ 2 trong 1 dạ tiệc.  Rồi thư tín qua lại qua 1 nữ tì lại là người yêu của cận vệ của TKC. Lần thứ 3 hai người có dịp cưỡi ngựa song hành lên chùa Vũ Lâm thăm thượng hoàng mê tơi dạo quanh cảnh chùa mà tình tứ.
Thế rồi nghịch cảnh xảy ra. Năm 1306 HT bị gả cho chúa Chiêm “man di mọi rợ.” Triều đình mở tiệc tùng linh đình trọng thể đưa dâu bằng đường bộ. Tháng 6 lên đường vu qui. Khắc Chung lại là người đưa công chúa vu qui. Trên đèo Hải Vân thơ mộng, Khắc Chung bày tỏ nỗi lòng. Công chúa tức cảnh sinh tình sáng tác “Nước non ngàn dặm" ra đi theo điệu Nam Bình và khóc suốt dọc đường từ đèo Hải Vân tới kinh thành vương quốc Chiêm Thành. Nhưng tới kinh đô vua Chiêm tiếp rước nồng ấm và công chúa được sủng ái. Vì nước quên mình, công chúa vui với duyên mới. Nàng thọ thai hoàng tử Chế Đa Da.
Oan nghiệt không buôn tha công chúa. Chỉ sau 1 năm, tháng 5 năm 1307, đức vua Chiêm băng hà. Vua anh nước Đại Việt sợ công chúa em bị đưa lên giàn hỏa chết theo vua Chiêm nên cho người đi giải thoát. Định mệnh lại đưa đẩy Khắc Chung(KC) đi cứu thoát Huyền Trân(HT). Có 2 nhóm viết khác nhau việc giải cứu: Trên biển và trên bộ. Phổ biến nhất là nói giải cứu trên biển. KC lừa được người Chiêm thuận cho công chúa ra biển cầu hồn Chế Mân về rồi mới lên giàn hỏa để mà cùng vua Chiêm về Tiên Giới. KC dùng thuyền nhẹ cướp công chúa, đi loanh quanh trên biển du hí cả năm rồi mới về tới kinh đô Thăng Long.
Nhóm khác nói giải cứu tiến hành trên bộ. Trần Khắc Chung(TKC) đem 3.000 tướng sĩ đi giải cứu. Dừng chân ở khu rừng biên giới. TKC mang thư của vua Anh Tông gởi cho Chế Chí nói cho HT đến nơi thanh tịnh vắng vẻ trai giới 3 ngày. Một thư khác gởi cho HT dặn điều bí mật cuộc giải cứu. Chế Chí đồng ý cho xe và đoàn tùy tùng hộ tống HT đến nơi hẹn. HT trong xe với trang phục che khuất mặt. Đến nơi mai phục TKC cướp xe. Khi qua khỏi biên giới TKC sửng sốt khi biết người con gái không phải HT mà là tì nữ của HT. TKC toan chém người tì nữ. Thư được đưa ra. Một gởi cho TKC và 1 gởi cho vua Anh Tông. Thư rằng: HT không còn là công chúa Đại Việt nữa mà là hoàng hậu Chiêm Quốc. Xin thượng tướng không nên gây binh đao và tha cho tì nữ là người đã từng đưa thư qua lại cho 2 người trước đây. Hãy cho nàng sum họp với viên cận vệ của thượng tướng. Chế Chí thuận cho tôi(HT) sau 3 năm mãn tang cho đi tu để rửa sạch nghiệp chướng.
Chính có câu chuyện gải cứu trên bộ này và cái vô lý của câu chuyện thứ nhất đi lòng vòng trên biển cả 1 năm mới về tới kinh đô mà chuyện giải cứu HT nên đưa vào “ống kính” sự kiện lịch sử để quan sát kiểm nghiệm.
3-Nhìn dưới nhãn quan sự kiện lịch sử. Chuyện gả công chúa Huyền Trân nghiêm chỉnh nên nhìn dưới khía cạnh lịch sử hơn là câu chuyện tình sử.
Gả cưới là chuyện chiến lược. Gả Huyền Trân là việc thuộc triều Trần Anh Tông, chuyện cưới xin được nâng lên hàng quốc sách chiến lược. Gả vì theo lời hứa của vua cha Trần Nhân Tông chỉ là cách nói xuôi kéo gai qua trổ để che miệng thế gian mà thôi. Ngô Sĩ Liên bình luận “Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu?” Vì chữ tín mà gả là chuyện của dân thường. Vì chiến lược mà gả là toan tính của nhà cầm quyền trị nước. Năm 1305 Chế Bồ Đài sang cầu hôn các quan cho không nên chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Trần Khắc Chung(TKC) tán thành gả(ĐVSKTT). Tại sao các tác giả viết truyện tình Huyền Trân(HT) lại lờ đi chi tiết này trong chính sử nhỉ. TKC mê mẩn HT mà lại thuận gả HT cho chúa Chiêm, vô lý thật! Còn nói đây là một toan tính của triều Trần Anh Tông thì họp lý hơn. Vương Đạo Tái(VĐT) và TKC đều là quan to hiểu xa thấy rộng. Ý kiến của họ áp đảo được ý kiến thường tình của đa số quan trong triều. VĐT là con của thượng tướng Trần Quang Khải, con nhà dòng của tiên triều còn Trần Khắc Chung thì làm nhập nội đại hành khiển là quan đứng đầu đương triều và trước kia vào thời chống quân Nguyên đã nổi danh là nhà ngoại giao và mưu sĩ, từng được vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông phái sang trại Ô Mã Nhi(ÔMN) cầu hòa và được kẻ địch phục tài kính nể. ÔMN nói nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính(ĐVSKTT).  Em ông là Đỗ Thiên Hứ cũng có tài ngoại giao. ĐVSKTT viết “Đỗ Khắc Chung trước đây đi sứ sang Nguyên có công, đến nay(năm 1288), tiến cử em là Thiên Hư. Vua nghe theo”. Thiên Hứ còn được giao nhiệm vụ kinh lược 2 xứ Nhệ An và Lâm Bình để giúp Chiêm Thành đương đầu với quân Chân Lạp xâm lược vào thời Hậu Chế Mân. Quyết định gả công chúa của họ không phải là chuyện thường tình, một mưu tính chiến lược. Nhưng Người tính không bằng trời tính.
Công chúa vu qui trao qua, thì người Việt được trao lại, có thêm 2 châu Ô Lý. Mưu toan gả cưới là mong có được sự bang giao Chiêm-Việt bền lâu nhưng trời không cho lâu bền. Chỉ một năm sau, năm 1307, Huyền Trân sinh được thế tử Chế Đa Da thì Chế Mân mất! Chuyện xảy ra dồn dập. Sau khi công chúa vu qui, tháng giêng năm 1307 người Chiêm ở Ô Lý nổi lên chống đối. Đoàn Nhữ Hài phải đi vỗ mới yên được. Đến tháng 5 thì Chế Mân chết. Tháng 9 thế tử Chế Đa Da sai sứ Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng(ĐVSKTT). Tới đây, tháng 9-1307, việc tưởng như được bình yên. Nhưng thế rồi chánh sử lại viết tiếp chuyện sau tháng 10 năm 1307 cho thấy chẳng bình yên chút nào. Sử viết chuyện đi giải cứu công chúa khỏi bị lên giàn hỏa chết theo vua. Trời! Đã chết từ 4 tháng trước mà nay còn sợ lên giàn hỏa để chết theo vua! Liệu có tin đoạn sử này không. Đi giải cứu là giải cứu khỏi lên giàn hỏa hay giải cứu là giải pháp chính trị cứu triều ấu chúa khỏi bị phe đối lập lật đổ? Bang giao đang gặp rắc rối. Sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng có lẽ báo triều Chế Đa Da có biến vào tháng 9. Tức thì tháng 10 sứ Việt sang Chiêm. Sắp xếp không ổn mới cùng nhau cuốn gói rút về(sử nói đi lòng vòng trên biển là thời gian đó). Cỏ cả 300 người Chiêm chạy sang ta nữa. Đi lòng vòng trên biển cả năm là cách nói lửng lơ mà đời sau không hiểu gì cả. Cách nói để cắt nghĩa cả năm công chúa mới về tới kinh đô. Việc gì xảy ra suốt thời gian đó. Người viết sử đời sau đem gán sự chậm trễ đó vào việc người đi giải cứu(TKC) thông dâm với công chúa. Có phải là cách kéo gai qua trổ cho xong chuyện. Có những sự kiện lịch sử trong bang giao Chiêm-Việt tiếp theo sau cái chết của Chế Mân mà ngày nay người ta gọi là nhạy cảm bị lờ đi và lịch sử một lần nữa có chỗ khuyết làm cho truyện giải cứu công chúa trở thành huyền thoại. Ở giai đoạn bang giao rắc rối có thể có sự kiện bị lờ đi hay bị xuyên tạc. Đi giải cứu khỏi bị thiêu hay đi bảo hộ ấu chúa, trấn áp phe phản đối hôn nhân Chế Mân-Huyền Trân? Một khi vua thân Đại Việt(ĐV) thất thế thì bị hạ bệ. Một triều mới lên thay chống ĐV. Bang giao Chiêm-Việt kiểu như thế là chuyện dài thể kỷ. Để hiểu việc gì đã xảy ra ở đoạn lịch sử sau tháng 10-1307 này thử lược qua quá trình lập quốc 2 dân tộc Chiêm, Việt.
Người Chiêm có tinh thần bất khuất và quật cường: Chỉ có thời nước Vạn Xuân(541-602) của nhà Tiền Lý(Lý Bôn) và nước Lâm Ấp mới có bang giao bình đẳng giữa 2 chủng tộc người ở phía Bắc và ở phía Nam đèo Ngang mà thôi. Sau khi tướng Phạm Tu nhà Tiền Lý chống trả được quân Lâm Ấp vượt đèo ngang vào xâm lấn nước Vạn Xuân(Đụng độ Chiêm-Việt lần đầu tiên) thì 2 nước chia nhau sống bình yên ở bên nay và bên kia cái đèo Ngang. Có 1 địa danh là cữa Nam Giới phân biệt giữa Ta và Chiêm như Ải Nam Quan phân biệt giữa Ta và Tàu vậy.
Người Nam đèo Ngang là chủng tộc lập quốc trước Đại Việt gần ngàn năm và luôn luôn có chí quật cường chống lại đô hộ từ Phương Bắc. Người huyện Tượng Lâm ở cực Nam quận Nhật Nam của nhà Hán đô hộ Giao Châu nổi dậy từ năm 100 đưa đến việc lập ra nước Lâm Ấp(LẤ). LẤ tiếp tục đương đầu với người đô hộ Phương Bắc trải qua các đời Hán, Ngô(Tam Quốc), Tấn, Bắc Tống, Tề, Lương. Nhà Lương suy yếu giúp Lý Bôn ở Giao Châu lập ra nước Vạn Xuân và nước Lâm Ấp lấy được quận Nhật Nam của quân đô hộ Hán tộc. Hai nước lấy Đèo Ngang vạch đôi sơn hà sống tự trị bên nhau. Nhà Tùy thay nhà Lương. Năm 602 tướng Lưu Phương nhà Tùy diệt được nước Vạn Xuân của Lý Phật Tử, tái lập nền đô hộ lên người Bắc đèo Ngang và tiến đánh Lâm Ấp. Nhà Tùy suy vong, người Nam Đèo Ngang  trở lại chiếm được đất quận Nhật Nam. Nhà Đường lên thay nhà Tùy đô hộ Giao Châu. An Nam Đô Hộ phủ của quân đô hộ nhà Đường chỉ giới hạn ở phía Bắc Đèo Ngang. Địa danh Giao Châu không còn nữa. Thư tịch TQ đời nhà Đường khoảng năm 756-808 gọi xứ Nam Đèo Ngang là nước Hoàn Vương(HV).  Nước HV văn minh và hùng mạnh, kinh đô là Đồng Dương Trà kiệu ở Nam đèo Hải Vân. Khoảng sau năm 859 tên nước Chiêm Thành mới xuất hiện. Người Bắc Đèo Ngang tiếp tục chìm đắm trong vòng nô lệ bỡi nhà Đường, rồi nhà Nam Hán. Ngô Quyền phá quân Nam Hán lập nền tự chủ. Sau đó nhà Nam Tống rồi tới nhà Nguyên, nhà Minh có lần xâm phạm nhà nước son trẻ này. Người Bắc Đèo Ngang phải khó nhọc đánh đuổi. Trong khi đó người Nam Đèo Ngang có được nền độc lập từ thế kỷ thứ 2 trải qua quốc hiệu Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành. Rồi nước Chiêm Thành đụng độ với nước Đại Cồ Việt. Từ đây trải qua năm tháng tiếp theo đất đai của người Nam Đèo Ngang mới bị mất dần. Lịch sử cho thấy họ luôn luôn tìm cách đòi lại.
Bắt đầu năm 939 Ngô Quyền phá được quân Nam Hán lập ra triều Ngô Vương. Ngô Quyền mất, nước rơi vào nội loạn 12 sứ quân. Ngô Nhật Khánh(NNK), cháu của Ngô Quyền,  là 1 trong 12 sứ quân, bị sứ quân Đinh Bộ Lĩnh(ĐBL) thu phục. Năm 967 Đinh Bộ Lĩnh thu phục được 12 sứ quân lập ra nhà Đinh. ĐBL lấy mẹ của Nhật Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái của Khánh làm dâu và gả con gái của mình(công chúa triều nhà Đinh) cho Khánh. Khánh oán hận chạy sang Chiêm Thành. Tới cữa Nam Giới NNK rạch mặt vợ nói rằng cha mày(ĐBL) lừa dối ức hiếp mẹ con ta. Lẽ nào vì mày mà quên tội ác cha mày. Nay cho mày về. Năm 979 Đỗ Thích ám sát ĐBL. NNK dẫn 1000 thuyền Chiêm vào cướp nước để trả thù ĐBL bị bão đánh chìm NNK và quân Chiêm ở cữa Đại Ác và cữa Tiểu Khang chỉ có vua Chiêm chạy thoát được. Lê Đại Hành lên thay lập ra nhà Tiền Lê. Vì lẽ đó năm 982 Lê Đại Hành phạt Chiêm, chém được Bê My Thuê, chiếm đóng đất đai gần 1 năm mới rút quân về. Năm Nhâm Thìn(992)tháng 6 cho người Chiêm nhận 360 người ở thành cũ châu Địa Lí đem về châu Ô Lí, tháng 8 sai Ngô Tử An đem 3 vạn người đi mở đường bộ từ cữa biển Nam Giới đến châu Địa Lí(ĐVSKTT). Như vậy đời Lê Đại Hành biên giới lấn xuống tới Đồng Hới(sông Nhật Lệ). Châu Địa Lý và châu Bố Chánh thuộc Đại Cồ Việt. Đến đời Lê Long Đĩnh thì người Chiêm đẩy biên giới lui về Đèo Ngang như cũ.  Nước Chiêm Thành suy yếu lui về Nam dựng kinh đô ở Đồ Bàn. Có thể nói kinh đô Đồ Bàn và Thăng Long xuất hiện đồng thời rồi 1 còn và 1 mất. Từ đây bang giao Việt-Chiêm ở cái thế nước lớn-nước nhỏ. Lúc ban đầu người Việt đánh Chiêm cốt để bắt chúa tạo cái thế nước nhỏ phải phục tùng nước lớn(sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn(HXH)).
Thời nhà Tiền Lê và nhà Hậu Lý Chiêm Thành tìm cách cậy nhờ nhà Nam Tống gây áp lực đe dọa nền độc lập son trẻ của người Bắc Đèo Ngang đang vươn lên. Vua Lê Đại Hành và Vua Lý(thời Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt) phải dùng chánh sách ngoại giao nước đôi để cân bằng giữa nhà Nam Tống và Chiêm Thành(HXH). Mềm dẻo với nhà Tống và răn đe Chiêm Thành. Trận năm 1059(đời Lý Thánh Tông) đánh vào Khâm Châu khoe binh uy rồi rút về(ĐVSKTT). Năm 1075 đời Lý Nhân Tông đánh lớn vào Ung, Khâm, và Liêm châu, vây thành Ung Châu 40 ngày giết hại trên 10 vạn quân Tống rồi giải hòa với nhà Tống(oai hùng như triều nhà Trần cũng ở 2 triều Thánh Tông và Nhân Tông đánh quân Nguyên). Phạt Chiêm cốt là chỉ để bắt chúa chứ không gây to chuyện(HXH). Năm 1061 Chế Củ lên ngôi có ý báo thù trận 1044 Lý Thái Tông đánh bắt Sạ Đẩu(HXH) nên năm 1069 Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt(LTK) ra quân đánh bắt Chế Củ(CC) để răn đe chịu làm nước nhỏ. CC dâng 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh để xin chuộc mạng rồi năm 1073 CC lại chạy sang ta tị nạn(HXH). Vua mới lên cầm quyền chống Đại Việt là vua Harivarman IV đánh phá biên giới phía Nam nước ta(Wikipedia). Mỗi khi nước ta dựng được vua chịu thần phục thì lại có vua khác nổi lên chống. Chiêm Thành lại liên kết với nhà Tống. LTK đời Lý Nhân Tông phải đánh lớn vào thành Ung châu vào năm 1075 như nói ở trên để răng đe người Phương Bắc rồi quay sang củng cố biên giới phía Nam. LTK vào Nam kinh lý biên giới, vẽ địa đồ 3 châu Chế Củ đã dâng trước kia, đổi tên Địa Lý ra Lâm Bình, Ma Linh ra Minh Linh năm 1076. Năm 1104 Chế Ma Na lại đánh cướp đòi lại 3 châu đó bị LTK đánh đuổi đi. Năm 1105 LTK mất(ĐVSKTT). Đến đời Trần thì 3 châu trở thành đất thành thục của Đại Việt(phủ Lâm Bình). Rõ ràng người Chiêm luôn luôn tìm cách đòi lại đất đai đã mất. Đến triều Trần chuyện lập lại như thế ở Châu Ô Lý mà Chế Mân đã dâng để được công chúa Huyền Trân.
Không phải Trần Khắc Chung(TKC) đi cướp công chúa mà đi lập nền bảo hộ triều Chế Đa Da để giữ đất Ô Lý. Chế Mân băng hà phe cánh chống Đại Việt nổi dậy. Có lẽ TKC được phái đi giải quyết việc bang giao. Nhưng sử Việt lại viết TKC đi giải cứu công chúa khỏi lên giàn hỏa tháng 10-1307. Đoạn sử này chỉ là do nhà làm sử đời sau viết mà thôi. Thiếu sử liệu nên thay vì nhà viết sử viết việc bang giao rắc rối với Chiêm Thành kéo dài cả năm lại viết việc giản đơn là đi giải thoát công chúa khỏi lên giàn hỏa rồi lại xuyên tạc nói TKC thông dâm dẫn công chúa lòng vòng trên biển gần 1 năm mới về tới kinh đô! Cũng vì thiếu sử liệu nên viết chuyện giải cứu mơ hồ để lộ những sự vô lý. Đoạn trước sử viết tháng 5 Chế Mân chết. Tháng 9 thế tử Chế Đa Da sai sứ Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng. Đây là triều thân ĐV tiếp theo triều Chế Mân. Mẹ con công chúa chắc hẳn sống bình yên tới đây. Nếu sử viết chỉ như thế thì làm gì có chuyện đi giải cứu HT để thoát khỏi lên giàn hỏa? Có chuyện đi giải cứu là do có đoạn viết tiếp theo sau tháng 10-1307 nói TKC đi giải cứu HT để thoát khỏi chết theo vua thay vì nói sai sứ đi giải quyết việc bang giao, ủng hộ triều Chế Đa Da của sứ thần Bảo Lộc Kê. Năm(5) tháng sau  Chế Mân chết mới có việc đi cướp công chúa để khỏi lên giàn hỏa thì vô lý. Khí hậu nhiệt đới không cho phép bảo quản xác để 5 tháng sau mới thực hiện hỏa tán. Trong kinh điển đạo Bà La Môn đều không nhắc đến tục lệ này của người Champa(wikipedia). Chỉ bà hoàng hậu chính mới được vinh dự hỏa tán theo vua(Po Dharma). Vô lý nữa là đi lòng vòng để thông dâm với công chúa mới vừa sinh con trên biển gần 1 năm mới về tới kinh đô. Phương tiện đi biển ngày xưa không cho phép thực hiện như thế và văn hoa Việt không cho thong dâm khi sản phụ còn ở cữ. Thêm vào đó lúc này là mùa mưa bão ở Biển Đông. TKC đương kim là quan đại thần của vua con Trần Anh Tông. Trước kia ngay lúc đánh nhau với quân Nguyên vào năm 1285 TKC đã là quan hầu cận(chức Chi Hậu Cụ Thủ) của vua cha là Trần Nhân Tông và vua ông là Trần Thánh Tông rồi. TKC không làm và không dám làm chuyện dâm đãng như thế. Có thể đó là chuyện nói xấu TKC ở các đời vua tiếp theo không ưa TKC mà thôi. Gần 1 năm sau mới thấy công chúa xuất hiện ở Thăng Long có thể đó là thời gian mà Đại Việt đi bảo hộ triều ấu chúa Chế Đa Da mà sứ thần Bảo Lộc Kê sang ta cầu sự bảo hộ vào tháng 9-1307. Lần này có thể đại thần TKC được phái đi bỡi vì ông có tài ngoại giao và là đương kim đại thần. Nhưng việc bảo hộ thất bại. Phe chống Đại Việt thắng thế lên nắm quyền đánh đuổi người Việt đi. Chế Đa Da và công chúa phải chạy về. Triều Chế Đa Da tồn tại từ tháng 5 năm 1307 đến tháng 8 năm 1308 lúc thượng hoàng(TH) Nhân Tông còn sống. TH mất vào ngày mồng 3 tháng 11 năm 1308. TKC trải qua gần 1 năm ở Chiêm Thành để “bảo kê” triều ấu chúa lúc thượng hoàng còn sống(tháng năm 1307 đến tháng 8 năm 1308). Tuổi thọ của triều ấu chúa Chế Đa Da như thế là chuyện dễ hiểu. Chuyện giải cứu theo đường bộ họp với giả thuyết này. Một tài liệu khác cũng phù họp. Trang web Văn Hóa Phật Giáo viết: “ĐVSKTT 6 tờ 33b3-4 nói: “Mùa thu ngày 18 tháng 8 năm Giáp Thân(1308), công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành trở về. Thượng hoàng sai trại chủ Hoá Châu đưa 300 người Chiêm đi thuyền trở về nước họ”. Thế là gần một năm Trần Khắc Chung mới đưa được Công chúa Huyền Trân về Đại Việt. Và chưa đầy 3 tháng trước khi Thượng hoàng mất, công việc Chiêm Thành vẫn được Thượng hoàng theo dõi. Chúng ta ngày nay không biết trại chủ Hóa Châu lúc bấy giờ là ai và tại sao phải đưa 300 người Chiêm về nước của họ. Phải chăng họ là những người Chiêm đã đi cùng Công chúa ra biển làm lễ chiêu hồn? Dẫu sao, trước khi mất, Thượng hoàng đã gặp lại được người con gái thân yêu của mình tưởng phải mãi mãi…” ĐVSKTT bảng điện tử(Phan Huy Lê soạn) và KĐVS không viết việc này. Theo tôi thì có việc Trần Khắc Chung sang Chiêm bảo hộ triều Chế Đa Da thất bại. Có người Chiêm chạy sang trại Hóa Châu tị nạn. Nay thượng hoàng can thiệp cho họ được về nước.
Bang giao Chiêm Việt sau triều Chế Mân. Sử Việt viết tháng 5 Chế Mân chết. Tháng 9 Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng. Nhưng sách sử không nói sứ Chiêm sang báo tang. Mô tả như vậy thì có thể đưa ra giả thuyết người Chiêm đã đưa ấu chúa Chế Đa Da lên kế vị Chế Mân. Nhưng phe chống Đại Việt(ĐV) lại lập Chế Chí hiệu là Sinhavarman lên thay. Tháng 9 sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng(cầu cứu Đại Việt chăng?). Tháng 10 Đại Việt(ĐV) cử sứ thần sang Chiêm. Gỉa thiết đưa ra là ĐV can thiệp vào nội tình Chiêm. Tiều ấu chúa Chế Đa Da tồn tại được 1 năm như nói ở trên(chuyện TKC đi cứu công chúa khỏi bị hỏa táng rồi thông dâm với công chúa là chuyện sử gia sau này bày đặt).
Tiếp theo ĐVSKTT nói Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Chế Chí chống lại Chế Đa Da nhưng lại cầu hòa ĐV. ĐV không tin Chế Chí. Vua sai Đoàn Nhữ Hài(ĐNH) bí mật ước hẹn với hắn(trại chủ) kế hoạch lừa bắt Chế Chí(ĐVSKTT). Ta thấy sứ của Chế Đa Da thân ĐV sang cống tiếp theo Chế Chí chống ĐV cũng sai sứ sang cống. Đại Việt lại có kế hoạch bắt Chế Chí. Người thực hiện âm mưu lại là ĐNH đã từng phái đi vỗ yên Thuận Châu Hóa Châu(TCHC). Đây là thời kỳ có sự bang giao tế nhị kéo dài được 4 năm(1307-1311). Sử Việt lờ đi chuyện can thiệp thô bạo bảo vệ triều ấu chúa Chế Đa Da để xoay qua nói chuyện làm hòa với Chế Chí nhằm tạm thời giữ bình yên cho TCHC mới thuộc về ĐV là chuyện tin được. Để được bình yên lâu dài ĐV lập kế đánh bắt Chế Chí lập chúa thân ĐV lên.
Tháng 12 năm 1311 Trần Anh Tông thân chinh ra quân đánh Chiêm Thành.  Đến phủ Lâm Bình(3 châu Chế Củ đã dâng), chia quân làm ba đường: Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn(em của vua) theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến. Bị tấn công Chế Chí có thể chọn giải pháp đầu hàng. Lấy Đoàn Nhữ Hài(ĐNH) làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước. Vua đến trại Câu Chiêm, có lẽ trên đất mới Thuận Châu Hóa Châu(TCHC) dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí(CC) nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Khánh Dư tính vượt biển đuổi theo giành phần đánh bắt vua Chiêm để lập công qua mặt vua. ĐNH báo cho vua can ngăn lại. Vua nguôi giận, sai chia quân đi tuần các bộ lạc(có lẽ ở trên đất mới TCHC). Chế Chí đến nơi, Anh Tông bắt Chế Chí năm 1312 rồi phong vương cho em là Chế Đà A Bà Niêm còn gọi là Chế Năng làm Á Hầu trấn giữ(KĐVS) rồi đem Chế Chí(CC) về an trí ở kinh đô(đến năm 1313 Chế Chí chết ở hành cung Gia Lâm và được hỏa tán. CC có hành cung nhưng là ông vua bù nhìn ở trên đất ĐV. ĐVSKTT nói năm 1279 Chế Năng sang ta cố xin ở lại làm nội thần nhưng Nhân Tông không nhận. Như vậy Chế Năng đã từng thân Đại Việt, nhưng năm 1318 lại phản đánh chiếm Ô Lý). Người Chiêm tụ tập định đánh vào ngự doanh. Tiếng voi đã gần, quân sĩ có vẻ lo sợ. Được vài hôm, quân của em vua(Huệ Vũ Vương) tự tìm đường mà tới, người Chiêm chạy tan. Trận này không mất một mũi tên mà Chiêm Thành bị dẹp, đó là công sức của Nhữ Hài(ĐVSKTT). Ngày vua đóng ở trại Câu Chiêm, hoàng thân Minh Hiến Vương Uất, con út của Thái Tông bị vua phạt đuổi ra khỏi dinh, cùng vài mươi gia đồng ngủ ở ngoài nội. Phạm Ngũ Lão(PNL) nói lỡ ra bị giặc bắt được, chúng nói là bắt được hoàng tử thì làm sao. PNL không muốn làm lợi cho giặc. Như vậy vùng này(TCHC) hãy còn nguy hiểm chưa phải là đất thành thục. Nơi vua đóng quân hẹn vua Chiêm đến mà chưa hoàn toàn là đất an toàn của nhà vua. Vua Anh Tông bổ em của Trần Khắc Chung là Đỗ Thiên Hư(ĐTH) kinh lược Nghệ An, Lâm Bình để cứu Chiêm Thành lúc này bị Xiêm(Chân Lap?) tấn công. TCHC hãy còn là trại, chưa thành đất thuần thục của Đại Việt.
Sang đời Minh Tông, năm 1315 anh của ĐTH là Trần Khắc Chung làm hành khiển(tể tướng). Tiếp theo là trận năm 1318 Quốc Chấn(chú và là cha vợ của Minh Tông) đánh chúa Chiêm. Phạm Ngũ Lão đánh hậu quân của Chiêm phá được giặc cứu Quốc Chấn, ghi chú số 1029 của ĐVSKTT cho biết chúa Chiêm là Chế Năng. Wikipedia thì nói Chế Năng đánh chiếm 2 châu Ô Lí bị thua chạy sang Java. Lập tù trưởng A Nan làm Hiệu Thánh á vương thay Chế Năng(ĐVSKTT), chấm dứt triều đại hậu duệ của Chế Mân. Ngôi vua Chiêm thuộc người ngoài hoàng tộc(tù trưởng A Nan). Rõ là quá trình nước lớn phế lập vua của nước nhỏ. Người nước nhỏ luôn luôn tìm cách chống lại. Không phải thuần túy giải cứu công chúa khỏi lên giàn hỏa mà là quá trình can thiệp nội bộ nước Chiêm mà sử không ghi lại. Có sự chê bai Trần Khắc Chung của sử thần đời nhà Lê nên dẫn đến việc viết sai lạc chuyện giải cứu công chúa.
Sử gia đời sau có ác cảm Trần Khắc Chung. ĐVSKTT viết: Hưng Nhượng Đại Vương ghét lắm, mỗi khi thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu: "Thằng này là điểm chẳng lành đối với nhà nước. Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà Trần rồi mất về nó chăng?" Khắc Chung thường sợ hãi né tránh. Sử thần Ngô Sĩ Liên thì chê Trần Khắc Chung(TKC) giở trò chó lợn ở đây(thông dâm với công chúa) và sau đó hãm hại Quốc Chấn(QC) là chú và là cha vợ của Minh Tông. QC làm Quốc Phụ triều Minh Tông. Lúc đó có biến cố tranh ngôi năm  1328. Minh Tông ở ngôi 15 năm mà vợ đích(con gái của Quốc Chấn họ Trần trong hoàng tộc) chưa sinh con. QC chờ hoàng hậu sinh con(là cháu ngoại của mình) mới lập thế tử. Trong khi hoàng tử Vượng(về sau là Trần Hiến Tông) là con của hoàng thái phi Lê thị(họ ngoài hoàng tộc) đã lớn. Đông Văn Hiến hầu là con (có sách chép là em) của thái sư Nhật Duật lo lót gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu(TP). TP vu cáo Quốc Chẩn âm mưu phản loạn để trừ QC. Minh Tông hỏi ý TKC. TKC cùng phe với Văn Hiến, cùng quê với mẹ của Vượng và là thầy của Vượng trả lời "Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó." Minh Tông quyết định trừ khử QC, không cho QC ăn uống, bắt phải tự tử. Hơn 100 người liên can bị hại. Vài năm sau vợ cả vợ lẻ của tên Phẩu ghen nhau tố cáo Phẩu ăn 100 lượng vàng cùa Văn Hiến đút lót để tố cáo QC làm phản. Tên Phẩu bị xử lăng trì. Chưa được đem ra hành hình thì gia nô của con QC ăn hết thịt tên Phẩu. Văn Hiến bị giáng xuống làm thường dân. Lại 1 lần nữa Ngô Sĩ Liên viết TKC đi theo bọn gian tà, đẩy người lành tới nỗi oan khiên, hãm đức vua vào việc làm tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì mà không nhẫn tâm làm nữa?  Đi xa hơn nữa có tác giả chê trách anh em Đỗ Khắc Chung có tâm địa gian tà từ hồi thời còn làm chức quan nhỏ Chi Hậu Cục Thủ lấy thế gần vua ép quan xử ức hiếp dân lành năm 1280. Tra lại sử viết việc năm 1280 thấy ĐVSKTT lẫn KĐVS nói do quan xử kiện sợ mà né tránh Khắc Chung chứ bọn họ không trực tiếp sai bảo người xử kiện xử thiên lệch. Sự việc chỉ nổi lên cái uy tín đối với triều đinh nhà Trần của anh em Khắc Chung ngay từ hồi đó mà thôi. TKC 3 đời làm thầy hoàng tử(Anh Tông, Minh Tông và Hiến Tông) phải là người có tài thao lược trị quốc. Có thể về sau TKC bị nhiều người ghen ghét gièm pha.
Mãi tới đời Lê, Chiêm Thành vẫn còn sang quấy nhiễu thành Hóa Châu như vào thời vua Bí Cai, vua Trà Toàn. Đến năm 1471 Lê Thánh Tông lấy được đất Quảng Nam của Trà Toàn thì đất Ô Lý mới yên hẳn. Đó là phủ Triệu Phong hay Thuận Hóa. Giữ được tấc đất tổ tiên để lại khó khăn thay!
Tết Dương Lịch 2013. HBC.






0 nhận xét:

Đăng nhận xét