CHUYỆN
TÌNH SỬ
(Lời giới thiệu.
Trong bối cảnh TQ áp lực xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ, trong những ngày đầu
năm rãnh rỗi, mời các bạn lướt qua đoạn lịch sử dưới đây để cảm nhận công lao
khó nhọc trong việc dựng nước và giữ nước của Tiền Nhân)
1-Chính sử viết. Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT) viết năm 1301
Thượng Hoàng Trần Nhân Tông(TH) vân du sang Chiêm tháng 3, tháng 11 từ Chiêm về(
vân du được 9 tháng). Năm 1305 Chế Bồ
Đài đem hơn 100 người dâng hiến vàng bạc hương quí vật lạ sang cầu hôn. Các
quan cho không nên chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái(con của Trần Quang Khải) và Trần
Khắc Chung(Đỗ Khắc Chung được cho họ của vua) tán thành. Năm 1306 tháng 6 gả công chúa Huyền Trân.
Trước đây TH vân du sang Chiêm hứa gả con gái út. Các văn sĩ trong triều ngoài
nội mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm thơ từ bằng quốc ngữ
châm biếm.
ĐVSKTT viết tiếp Năm 1307, tháng giêng đổi tên Ô Lý thành
Thuận Châu Hóa châu, cho Đoàn Nhữ Hài vỗ yên 2 xứ ấy. Trước đấy(có nghĩa là không phải trước 1305 là năm cầu hôn, tức chỉ
có hứa gả không điều kiện. Chuyện hôn nhân
ở đây là chuyện trong sáng) chúa Chiêm Thành Chế Mân đem đất hai châu đó làm lễ
vật dẫn cưới, nhưng người các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo. Sai
Nhữ Hài đến tuyên dụ, chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng
đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về. Tháng 5
Chế Mân chết. Tháng 9 Thế tử Chiêm
Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng. Mùa đông, tháng 10, sai Trần Khắc Chung, An phủ Đặng
Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trân và thế tử Đa Da về.Theo tục lệ
Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo.
Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng
tang và nói "Nếu công chúa hỏa táng
thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở
ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu". Người Chiêm
nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với
công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô.
2-Các tác giả đời sau viết: Chỉ
có thế mà các thế hệ đời sau không biết dẫn từ sách sử nào mà người ta viết
truyện tình Huyền Trân- Trần Khắc Chung lâm ly thành tiểu thuyết tình sử. Nội
“cái lâu ngày” thấy viết trong chính
sử nói ở trên mà các tác giả diễn ra chuyện Trần Khắc Chung du hí với HT trên
biển lâu cả năm. Năm 1308 tháng 8 HT mới về tới Thăng Long(giải
thoát tháng 10-1307). Các tác giả lại viết năm 1309 HT xuất gia ở chùa Trâu Sơn, Bắc Ninh dưới sự ấn chứng quốc sư
Bảo Phát. Pháp danh Hương Tràng. Năm 1311
tu ở am dưới chân núi Hổ, am trở thành chùa Nộm Sơn hay Quảng Nghiêm tự, Nam Định.
Lại còn nói Huyền Trân sinh đúng năm 1287!
Để xác định tuổi, tôi tra cứu
ĐVSKTT: Trần Nhân Tông(TNT) sinh năm mậu ngọ (1258) có 3 con là Trần Anh Tông(TAT), Quốc Chấn(QC) và Huyền Trân(HT).
TAT băng năm 1320, thọ 45 tuổi. Như vậy TAT sinh năm 1275. QC sinh năm 1281(ĐVSKTT).
Sử không ghi Huyền Trân sinh năm nào. Việt Nam Thư Quán nói HT là con gái út của
TNT. Kết luận thì vào năm 1306 TAT
được 31 tuổi, QC 25 tuổi suy ra HT 19 tuổi tức sinh năm 1287 như nói ở trên thì họp lý; Thượng Hoàng Trần
Nhân Tông được 48 tuổi, Trần Khắc Chung(TKC), người đồng thời với TNT phải cỡ
45-50 tuổi. Trong trận năm 1282 Đỗ Khắc Chung(Trần Khắc Chung) được vua Trần
Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông cử sang trại Ô Mã Nhi thuyết khách được Ô
Mã Nhi phục tài thì tuổi của ông ta xấp xỉ bằng tuổi của TNT. Huyền Trân đáng
tuổi con út của Khắc Chung. Thế mà
các tác giả đời sau viết chuyện tình HT-TKC như 1 cặp tài tử giai nhân cùng
trang lứa lâm ly ra rít. Không biết dựa vào tài liệu nào mà viết Đỗ Khắc Chung(ĐKC)
16 tuổi đỗ tiến sĩ năm 1281, học được nghề thêu của quan Đại Phu Trần Khắc Long, nên lấy tên là Đỗ Khắc Chung. Nghề thêu lôi cuốn chàng
trai tài hoa vào mối tình dang dở đẫm nước mắt với công chúa Huyền Trân(đáng tuổi
con út của mình). Khắc Chung dạy công chúa thêu thùa là dịp để trai tài, gái sắc
trở nên yêu nhau kiểu “Khách giai nhân so
với khách văn nhân/Sắc tài ai kẻ cầm cân?” như bài thơ của Cao Bá Quát nói
lên cái tất yếu đó. Các tác giả viết tiếp: Nhưng họ chỉ thầm yêu thôi vì có tới
6 nữ tì canh chừng công chúa. Tác giả khác lại nói có 3 lần xui khiến đôi trai
tài gái sắc gặp nhau: Lần thứ nhất nhân dịp triều kiến việc đánh giặc Ai Lao mà
Khắc Chung bắt gặp HT ở trong triều. Hai trái tim đôi trai tài gái sắc hốt
nhiên rung động xao xuyến từ dạo đó. Lần thứ 2 trong 1 dạ tiệc. Rồi thư tín qua lại qua 1 nữ tì lại là người yêu
của cận vệ của TKC. Lần thứ 3 hai người có dịp cưỡi ngựa song hành lên chùa Vũ
Lâm thăm thượng hoàng mê tơi dạo quanh cảnh chùa mà tình tứ.
Thế rồi nghịch cảnh xảy ra.
Năm 1306 HT bị gả cho chúa Chiêm “man di mọi rợ.” Triều đình mở tiệc tùng linh
đình trọng thể đưa dâu bằng đường bộ. Tháng 6 lên đường vu qui. Khắc Chung lại
là người đưa công chúa vu qui. Trên đèo Hải Vân thơ mộng, Khắc Chung bày tỏ nỗi
lòng. Công chúa tức cảnh sinh tình sáng tác “Nước non ngàn dặm" ra đi theo
điệu Nam Bình và khóc suốt dọc đường từ đèo Hải Vân tới kinh thành vương quốc
Chiêm Thành. Nhưng tới kinh đô vua Chiêm tiếp rước nồng ấm và công chúa được sủng
ái. Vì nước quên mình, công chúa vui với duyên mới. Nàng thọ thai hoàng tử Chế
Đa Da.
Oan nghiệt không buôn tha
công chúa. Chỉ sau 1 năm, tháng 5 năm 1307, đức vua Chiêm băng hà. Vua anh nước
Đại Việt sợ công chúa em bị đưa lên giàn hỏa chết theo vua Chiêm nên cho người
đi giải thoát. Định mệnh lại đưa đẩy Khắc Chung(KC) đi cứu thoát Huyền Trân(HT).
Có 2 nhóm viết khác nhau việc giải cứu: Trên biển và trên bộ. Phổ biến nhất là
nói giải cứu trên biển. KC lừa được người Chiêm thuận cho công chúa ra biển cầu
hồn Chế Mân về rồi mới lên giàn hỏa để mà cùng vua Chiêm về Tiên Giới. KC dùng
thuyền nhẹ cướp công chúa, đi loanh quanh trên biển du hí cả năm rồi mới về tới
kinh đô Thăng Long.
Nhóm khác nói giải cứu tiến
hành trên bộ. Trần Khắc Chung(TKC) đem 3.000 tướng sĩ đi giải cứu. Dừng chân ở
khu rừng biên giới. TKC mang thư của vua Anh Tông gởi cho Chế Chí nói cho HT đến
nơi thanh tịnh vắng vẻ trai giới 3 ngày. Một thư khác gởi cho HT dặn điều bí mật
cuộc giải cứu. Chế Chí đồng ý cho xe và đoàn tùy tùng hộ tống HT đến nơi hẹn.
HT trong xe với trang phục che khuất mặt. Đến nơi mai phục TKC cướp xe. Khi qua
khỏi biên giới TKC sửng sốt khi biết người con gái không phải HT mà là tì nữ của
HT. TKC toan chém người tì nữ. Thư được đưa ra. Một gởi cho TKC và 1 gởi cho
vua Anh Tông. Thư rằng: HT không còn là công chúa Đại Việt nữa mà là hoàng hậu
Chiêm Quốc. Xin thượng tướng không nên gây binh đao và tha cho tì nữ là người
đã từng đưa thư qua lại cho 2 người trước đây. Hãy cho nàng sum họp với viên cận
vệ của thượng tướng. Chế Chí thuận cho tôi(HT) sau 3 năm mãn tang cho đi tu để rửa
sạch nghiệp chướng.
Chính có câu chuyện gải cứu
trên bộ này và cái vô lý của câu chuyện thứ nhất đi lòng vòng trên biển cả 1
năm mới về tới kinh đô mà chuyện giải cứu HT nên đưa vào “ống kính” sự kiện lịch
sử để quan sát kiểm nghiệm.
3-Nhìn dưới nhãn quan sự kiện lịch sử. Chuyện gả công chúa Huyền Trân nghiêm chỉnh nên nhìn
dưới khía cạnh lịch sử hơn là câu chuyện tình sử.
Gả cưới là chuyện chiến lược. Gả Huyền Trân là việc thuộc triều Trần Anh Tông,
chuyện cưới xin được nâng lên hàng quốc sách chiến lược. Gả vì theo lời hứa của
vua cha Trần Nhân Tông chỉ là cách nói xuôi kéo gai qua trổ để che miệng thế
gian mà thôi. Ngô Sĩ Liên bình luận “Nói
rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó
có được không? Vua giữ ngôi trời mà thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh
đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện
lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu?”
Vì chữ tín mà gả là chuyện của dân thường. Vì chiến lược mà gả là toan tính của
nhà cầm quyền trị nước. Năm 1305 Chế Bồ Đài sang cầu hôn các quan cho không nên
chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Trần Khắc Chung(TKC) tán thành gả(ĐVSKTT). Tại
sao các tác giả viết truyện tình Huyền Trân(HT) lại lờ đi chi tiết này trong
chính sử nhỉ. TKC mê mẩn HT mà lại thuận gả HT cho chúa Chiêm, vô lý thật! Còn
nói đây là một toan tính của triều Trần Anh Tông thì họp lý hơn. Vương Đạo
Tái(VĐT) và TKC đều là quan to hiểu xa thấy rộng. Ý kiến của họ áp đảo được ý
kiến thường tình của đa số quan trong triều. VĐT là con của thượng tướng Trần
Quang Khải, con nhà dòng của tiên triều còn Trần Khắc Chung thì làm nhập nội đại
hành khiển là quan đứng đầu đương triều và trước kia vào thời chống quân Nguyên
đã nổi danh là nhà ngoại giao và mưu sĩ, từng được vua Trần Nhân Tông và thượng
hoàng Thánh Tông phái sang trại Ô Mã Nhi(ÔMN) cầu hòa và được kẻ địch phục tài
kính nể. ÔMN nói nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính(ĐVSKTT). Em ông là Đỗ Thiên Hứ cũng có tài ngoại giao.
ĐVSKTT viết “Đỗ Khắc Chung trước đây đi sứ
sang Nguyên có công, đến nay(năm 1288),
tiến cử em là Thiên Hư. Vua nghe theo”. Thiên Hứ còn được giao nhiệm vụ kinh
lược 2 xứ Nhệ An và Lâm Bình để giúp Chiêm Thành đương đầu với quân Chân Lạp
xâm lược vào thời Hậu Chế Mân. Quyết định gả công chúa của họ không phải là
chuyện thường tình, một mưu tính chiến lược. Nhưng Người tính không bằng trời
tính.
Công chúa vu qui trao qua, thì
người Việt được trao lại, có thêm 2 châu Ô Lý. Mưu toan gả cưới là mong có được
sự bang giao Chiêm-Việt bền lâu nhưng trời không cho lâu bền. Chỉ một năm sau, năm
1307, Huyền Trân sinh được thế tử Chế Đa Da thì Chế Mân mất! Chuyện xảy ra dồn
dập. Sau khi công chúa vu qui, tháng giêng
năm 1307 người Chiêm ở Ô Lý nổi lên chống đối. Đoàn Nhữ Hài phải đi vỗ mới yên
được. Đến tháng 5 thì Chế Mân chết.
Tháng 9 thế tử Chế Đa Da sai sứ Bảo
Lộc Kê sang dâng voi trắng(ĐVSKTT). Tới đây, tháng 9-1307, việc tưởng như được
bình yên. Nhưng thế rồi chánh sử lại viết tiếp chuyện sau tháng 10 năm 1307 cho thấy chẳng bình yên
chút nào. Sử viết chuyện đi giải cứu công chúa khỏi bị lên giàn hỏa chết theo
vua. Trời! Đã chết từ 4 tháng trước mà nay còn sợ lên giàn hỏa để chết theo
vua! Liệu có tin đoạn sử này không. Đi giải cứu là giải cứu khỏi lên giàn hỏa
hay giải cứu là giải pháp chính trị cứu triều ấu chúa khỏi bị phe đối lập lật đổ?
Bang giao đang gặp rắc rối. Sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng có lẽ báo
triều Chế Đa Da có biến vào tháng 9. Tức thì tháng 10 sứ Việt sang Chiêm. Sắp xếp
không ổn mới cùng nhau cuốn gói rút về(sử nói đi lòng vòng trên biển là thời gian
đó). Cỏ cả 300 người Chiêm chạy sang ta nữa. Đi lòng vòng trên biển cả năm là
cách nói lửng lơ mà đời sau không hiểu gì cả. Cách nói để cắt nghĩa cả năm công
chúa mới về tới kinh đô. Việc gì xảy ra suốt thời gian đó. Người viết sử đời
sau đem gán sự chậm trễ đó vào việc người đi giải cứu(TKC) thông dâm với công
chúa. Có phải là cách kéo gai qua trổ cho xong chuyện. Có những sự kiện lịch sử
trong bang giao Chiêm-Việt tiếp theo sau cái chết của Chế Mân mà ngày nay người
ta gọi là nhạy cảm bị lờ đi và lịch sử một lần nữa có chỗ khuyết làm cho truyện
giải cứu công chúa trở thành huyền thoại. Ở giai đoạn bang giao rắc rối có thể
có sự kiện bị lờ đi hay bị xuyên tạc. Đi giải cứu khỏi bị thiêu hay đi bảo hộ ấu
chúa, trấn áp phe phản đối hôn nhân Chế Mân-Huyền Trân? Một khi vua thân Đại Việt(ĐV)
thất thế thì bị hạ bệ. Một triều mới lên thay chống ĐV. Bang giao Chiêm-Việt kiểu
như thế là chuyện dài thể kỷ. Để hiểu việc gì đã xảy ra ở đoạn lịch sử sau
tháng 10-1307 này thử lược qua quá trình lập quốc 2 dân tộc Chiêm, Việt.
Người Chiêm có tinh thần bất khuất và quật cường: Chỉ có thời nước Vạn Xuân(541-602) của nhà Tiền Lý(Lý
Bôn) và nước Lâm Ấp mới có bang giao bình đẳng giữa 2 chủng tộc người ở phía Bắc
và ở phía Nam đèo Ngang mà thôi. Sau khi tướng Phạm Tu nhà Tiền Lý chống trả được
quân Lâm Ấp vượt đèo ngang vào xâm lấn nước Vạn Xuân(Đụng độ Chiêm-Việt lần đầu
tiên) thì 2 nước chia nhau sống bình yên ở bên nay và bên kia cái đèo Ngang. Có
1 địa danh là cữa Nam Giới phân biệt giữa Ta và Chiêm như Ải Nam Quan phân biệt
giữa Ta và Tàu vậy.
Người Nam đèo Ngang là chủng
tộc lập quốc trước Đại Việt gần ngàn năm và luôn luôn có chí quật cường chống lại
đô hộ từ Phương Bắc. Người huyện Tượng Lâm ở cực Nam quận Nhật Nam của nhà Hán
đô hộ Giao Châu nổi dậy từ năm 100 đưa đến việc lập ra nước Lâm Ấp(LẤ). LẤ tiếp
tục đương đầu với người đô hộ Phương Bắc trải qua các đời Hán, Ngô(Tam Quốc), Tấn,
Bắc Tống, Tề, Lương. Nhà Lương suy yếu giúp Lý Bôn ở Giao Châu lập ra nước Vạn
Xuân và nước Lâm Ấp lấy được quận Nhật Nam của quân đô hộ Hán tộc. Hai nước lấy
Đèo Ngang vạch đôi sơn hà sống tự trị bên nhau. Nhà Tùy thay nhà Lương. Năm 602
tướng Lưu Phương nhà Tùy diệt được nước Vạn Xuân của Lý Phật Tử, tái lập nền đô
hộ lên người Bắc đèo Ngang và tiến đánh Lâm Ấp. Nhà Tùy suy vong, người Nam Đèo
Ngang trở lại chiếm được đất quận Nhật
Nam. Nhà Đường lên thay nhà Tùy đô hộ Giao Châu. An Nam Đô Hộ phủ của quân đô hộ
nhà Đường chỉ giới hạn ở phía Bắc Đèo Ngang. Địa danh Giao Châu không còn nữa.
Thư tịch TQ đời nhà Đường khoảng năm 756-808 gọi xứ Nam Đèo Ngang là nước Hoàn
Vương(HV). Nước HV văn minh và hùng mạnh,
kinh đô là Đồng Dương Trà kiệu ở Nam đèo Hải Vân. Khoảng sau năm 859 tên nước
Chiêm Thành mới xuất hiện. Người Bắc Đèo Ngang tiếp tục chìm đắm trong vòng nô
lệ bỡi nhà Đường, rồi nhà Nam Hán. Ngô Quyền phá quân Nam Hán lập nền tự chủ.
Sau đó nhà Nam Tống rồi tới nhà Nguyên, nhà Minh có lần xâm phạm nhà nước son
trẻ này. Người Bắc Đèo Ngang phải khó nhọc đánh đuổi. Trong khi đó người Nam
Đèo Ngang có được nền độc lập từ thế kỷ thứ 2 trải qua quốc hiệu Lâm Ấp, Hoàn
Vương, Chiêm Thành. Rồi nước Chiêm Thành đụng độ với nước Đại Cồ Việt. Từ đây
trải qua năm tháng tiếp theo đất đai của người Nam Đèo Ngang mới bị mất dần. Lịch
sử cho thấy họ luôn luôn tìm cách đòi lại.
Bắt đầu năm 939 Ngô Quyền
phá được quân Nam Hán lập ra triều Ngô Vương. Ngô Quyền mất, nước rơi vào nội
loạn 12 sứ quân. Ngô Nhật Khánh(NNK), cháu của Ngô Quyền, là 1 trong 12 sứ quân, bị sứ quân Đinh Bộ
Lĩnh(ĐBL) thu phục. Năm 967 Đinh Bộ Lĩnh thu phục được 12 sứ quân lập ra nhà
Đinh. ĐBL lấy mẹ của Nhật Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái của Khánh làm dâu và
gả con gái của mình(công chúa triều nhà Đinh) cho Khánh. Khánh oán hận chạy
sang Chiêm Thành. Tới cữa Nam Giới NNK rạch mặt vợ nói rằng cha mày(ĐBL) lừa dối
ức hiếp mẹ con ta. Lẽ nào vì mày mà quên tội ác cha mày. Nay cho mày về. Năm
979 Đỗ Thích ám sát ĐBL. NNK dẫn 1000 thuyền Chiêm vào cướp nước để trả thù ĐBL
bị bão đánh chìm NNK và quân Chiêm ở cữa Đại Ác và cữa Tiểu Khang chỉ có vua
Chiêm chạy thoát được. Lê Đại Hành lên thay lập ra nhà Tiền Lê. Vì lẽ đó năm
982 Lê Đại Hành phạt Chiêm, chém được Bê My Thuê, chiếm đóng đất đai gần 1 năm
mới rút quân về. Năm Nhâm Thìn(992)tháng 6 cho người Chiêm nhận 360 người ở
thành cũ châu Địa Lí đem về châu Ô Lí, tháng 8 sai Ngô Tử An đem 3 vạn người đi
mở đường bộ từ cữa biển Nam Giới đến châu Địa Lí(ĐVSKTT). Như vậy đời Lê Đại
Hành biên giới lấn xuống tới Đồng Hới(sông Nhật Lệ). Châu Địa Lý và châu Bố
Chánh thuộc Đại Cồ Việt. Đến đời Lê Long Đĩnh thì người Chiêm đẩy biên giới lui
về Đèo Ngang như cũ. Nước Chiêm Thành
suy yếu lui về Nam dựng kinh đô ở Đồ Bàn. Có thể nói kinh đô Đồ Bàn và Thăng
Long xuất hiện đồng thời rồi 1 còn và 1 mất. Từ đây bang giao Việt-Chiêm ở cái
thế nước lớn-nước nhỏ. Lúc ban đầu người Việt đánh Chiêm cốt để bắt chúa tạo
cái thế nước nhỏ phải phục tùng nước lớn(sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn(HXH)).
Thời nhà Tiền Lê và nhà Hậu Lý
Chiêm Thành tìm cách cậy nhờ nhà Nam Tống gây áp lực đe dọa nền độc lập son trẻ
của người Bắc Đèo Ngang đang vươn lên. Vua Lê Đại Hành và Vua Lý(thời Lý Thánh
Tông và Lý Thường Kiệt) phải dùng chánh sách ngoại giao nước đôi để cân bằng giữa
nhà Nam Tống và Chiêm Thành(HXH). Mềm dẻo với nhà Tống và răn đe Chiêm Thành. Trận
năm 1059(đời Lý Thánh Tông) đánh vào Khâm Châu khoe binh uy rồi rút về(ĐVSKTT).
Năm 1075 đời Lý Nhân Tông đánh lớn vào Ung, Khâm, và Liêm châu, vây thành Ung
Châu 40 ngày giết hại trên 10 vạn quân Tống rồi giải hòa với nhà Tống(oai hùng
như triều nhà Trần cũng ở 2 triều Thánh Tông và Nhân Tông đánh quân Nguyên). Phạt
Chiêm cốt là chỉ để bắt chúa chứ không gây to chuyện(HXH). Năm 1061 Chế Củ lên
ngôi có ý báo thù trận 1044 Lý Thái Tông đánh bắt Sạ Đẩu(HXH) nên năm 1069 Lý
Thánh Tông và Lý Thường Kiệt(LTK) ra quân đánh bắt Chế Củ(CC) để răn đe chịu làm
nước nhỏ. CC dâng 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh để xin chuộc mạng rồi năm
1073 CC lại chạy sang ta tị nạn(HXH). Vua mới lên cầm quyền chống Đại Việt là
vua Harivarman IV đánh phá biên giới phía Nam nước ta(Wikipedia). Mỗi khi nước
ta dựng được vua chịu thần phục thì lại có vua khác nổi lên chống. Chiêm Thành
lại liên kết với nhà Tống. LTK đời Lý Nhân Tông phải đánh lớn vào thành Ung
châu vào năm 1075 như nói ở trên để răng đe người Phương Bắc rồi quay sang củng
cố biên giới phía Nam. LTK vào Nam kinh lý biên giới, vẽ địa đồ 3 châu Chế Củ
đã dâng trước kia, đổi tên Địa Lý ra Lâm Bình, Ma Linh ra Minh Linh năm 1076.
Năm 1104 Chế Ma Na lại đánh cướp đòi lại 3 châu đó bị LTK đánh đuổi đi. Năm
1105 LTK mất(ĐVSKTT). Đến đời Trần thì 3 châu trở thành đất thành thục của Đại
Việt(phủ Lâm Bình). Rõ ràng người Chiêm luôn luôn tìm cách đòi lại đất đai đã mất.
Đến triều Trần chuyện lập lại như thế ở Châu Ô Lý mà Chế Mân đã dâng để được
công chúa Huyền Trân.
Không phải Trần Khắc Chung(TKC) đi cướp
công chúa mà đi lập nền bảo hộ triều Chế Đa Da để giữ đất Ô Lý. Chế Mân băng hà phe cánh chống Đại Việt
nổi dậy. Có lẽ TKC được phái đi giải quyết việc bang giao. Nhưng sử Việt lại viết
TKC đi giải cứu công chúa khỏi lên giàn hỏa tháng 10-1307. Đoạn sử này chỉ là do
nhà làm sử đời sau viết mà thôi. Thiếu sử liệu nên thay vì nhà viết sử viết việc
bang giao rắc rối với Chiêm Thành kéo dài cả năm lại viết việc giản đơn là đi giải
thoát công chúa khỏi lên giàn hỏa rồi lại xuyên tạc nói TKC thông dâm dẫn công
chúa lòng vòng trên biển gần 1 năm mới về tới kinh đô! Cũng vì thiếu sử liệu nên
viết chuyện giải cứu mơ hồ để lộ những sự vô lý. Đoạn trước sử viết tháng 5 Chế Mân chết. Tháng 9 thế tử Chế Đa Da sai sứ Bảo Lộc Kê
sang dâng voi trắng. Đây là triều thân ĐV tiếp theo triều Chế Mân. Mẹ con công
chúa chắc hẳn sống bình yên tới đây. Nếu sử viết chỉ như thế thì làm gì có chuyện
đi giải cứu HT để thoát khỏi lên giàn hỏa? Có chuyện đi giải cứu là do có đoạn
viết tiếp theo sau tháng 10-1307 nói TKC đi giải cứu HT để thoát khỏi chết theo
vua thay vì nói sai sứ đi giải quyết việc bang giao, ủng hộ triều Chế Đa Da của
sứ thần Bảo Lộc Kê. Năm(5) tháng sau Chế
Mân chết mới có việc đi cướp công chúa để khỏi lên giàn hỏa thì vô lý. Khí hậu
nhiệt đới không cho phép bảo quản xác để 5 tháng sau mới thực hiện hỏa tán.
Trong kinh điển đạo Bà La Môn đều không nhắc đến tục lệ này của người
Champa(wikipedia). Chỉ bà hoàng hậu chính mới được vinh dự hỏa tán theo vua(Po
Dharma). Vô lý nữa là đi lòng vòng để thông dâm với công chúa mới vừa sinh con trên
biển gần 1 năm mới về tới kinh đô. Phương tiện đi biển ngày xưa không cho phép
thực hiện như thế và văn hoa Việt không cho thong dâm khi sản phụ còn ở cữ. Thêm
vào đó lúc này là mùa mưa bão ở Biển Đông. TKC đương kim là quan đại thần của
vua con Trần Anh Tông. Trước kia ngay lúc đánh nhau với quân Nguyên vào năm
1285 TKC đã là quan hầu cận(chức Chi Hậu Cụ Thủ) của vua cha là Trần Nhân Tông
và vua ông là Trần Thánh Tông rồi. TKC không làm và không dám làm chuyện dâm
đãng như thế. Có thể đó là chuyện nói xấu TKC ở các đời vua tiếp theo không ưa
TKC mà thôi. Gần 1 năm sau mới thấy công chúa xuất hiện ở Thăng Long có thể đó
là thời gian mà Đại Việt đi bảo hộ triều ấu chúa Chế Đa Da mà sứ thần Bảo Lộc
Kê sang ta cầu sự bảo hộ vào tháng 9-1307. Lần này có thể đại thần TKC được
phái đi bỡi vì ông có tài ngoại giao và là đương kim đại thần. Nhưng việc bảo hộ
thất bại. Phe chống Đại Việt thắng thế lên nắm quyền đánh đuổi người Việt đi.
Chế Đa Da và công chúa phải chạy về. Triều Chế Đa Da tồn tại từ tháng 5 năm 1307 đến tháng 8 năm 1308 lúc thượng hoàng(TH) Nhân Tông còn
sống. TH mất vào ngày mồng 3 tháng 11 năm
1308. TKC trải qua gần 1 năm ở Chiêm Thành để “bảo kê” triều ấu chúa lúc thượng
hoàng còn sống(tháng năm 1307 đến tháng 8 năm 1308). Tuổi thọ của triều ấu chúa
Chế Đa Da như thế là chuyện dễ hiểu. Chuyện giải cứu theo đường bộ họp với giả
thuyết này. Một tài liệu khác cũng phù họp. Trang web Văn Hóa Phật Giáo viết: “ĐVSKTT 6 tờ 33b3-4 nói: “Mùa thu ngày 18 tháng 8 năm Giáp Thân(1308), công chúa
Huyền Trân từ Chiêm Thành trở về. Thượng hoàng sai trại chủ Hoá Châu đưa 300
người Chiêm đi thuyền trở về nước họ”. Thế là gần một năm Trần Khắc Chung mới
đưa được Công chúa Huyền Trân về Đại Việt. Và chưa đầy 3 tháng trước khi Thượng
hoàng mất, công việc Chiêm Thành vẫn được Thượng hoàng theo dõi. Chúng ta ngày
nay không biết trại chủ Hóa Châu lúc bấy giờ là ai và tại sao phải đưa 300 người
Chiêm về nước của họ. Phải chăng họ là những người Chiêm đã đi cùng Công chúa
ra biển làm lễ chiêu hồn? Dẫu sao, trước khi mất, Thượng hoàng đã gặp lại được
người con gái thân yêu của mình tưởng phải mãi mãi…” ĐVSKTT bảng điện tử(Phan
Huy Lê soạn) và KĐVS không viết việc này. Theo tôi thì có việc Trần Khắc Chung
sang Chiêm bảo hộ triều Chế Đa Da thất bại. Có người Chiêm chạy sang trại Hóa
Châu tị nạn. Nay thượng hoàng can thiệp cho họ được về nước.
Bang giao Chiêm Việt sau triều Chế Mân. Sử Việt viết tháng 5 Chế Mân chết. Tháng 9
Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng. Nhưng
sách sử không nói sứ Chiêm sang báo tang. Mô tả như vậy thì có thể đưa ra giả
thuyết người Chiêm đã đưa ấu chúa Chế Đa Da lên kế vị Chế Mân. Nhưng phe chống
Đại Việt(ĐV) lại lập Chế Chí hiệu là Sinhavarman lên thay. Tháng 9 sứ thần Bảo
Lộc Kê sang dâng voi trắng(cầu cứu Đại Việt chăng?). Tháng 10 Đại Việt(ĐV) cử sứ
thần sang Chiêm. Gỉa thiết đưa ra là ĐV can thiệp vào nội tình Chiêm. Tiều ấu
chúa Chế Đa Da tồn tại được 1 năm như nói ở trên(chuyện TKC đi cứu công chúa khỏi
bị hỏa táng rồi thông dâm với công chúa là chuyện sử gia sau này bày đặt).
Tiếp theo ĐVSKTT nói Chế Chí
sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Chế Chí chống lại Chế Đa
Da nhưng lại cầu hòa ĐV. ĐV không tin Chế Chí. Vua sai Đoàn Nhữ Hài(ĐNH) bí mật
ước hẹn với hắn(trại chủ) kế hoạch lừa bắt Chế Chí(ĐVSKTT). Ta thấy sứ của Chế
Đa Da thân ĐV sang cống tiếp theo Chế Chí chống ĐV cũng sai sứ sang cống. Đại
Việt lại có kế hoạch bắt Chế Chí. Người thực hiện âm mưu lại là ĐNH đã từng
phái đi vỗ yên Thuận Châu Hóa Châu(TCHC). Đây là thời kỳ có sự bang giao tế nhị
kéo dài được 4 năm(1307-1311). Sử Việt lờ đi chuyện can thiệp thô bạo bảo vệ
triều ấu chúa Chế Đa Da để xoay qua nói chuyện làm hòa với Chế Chí nhằm tạm thời
giữ bình yên cho TCHC mới thuộc về ĐV là chuyện tin được. Để được bình yên lâu
dài ĐV lập kế đánh bắt Chế Chí lập chúa thân ĐV lên.
Tháng 12 năm 1311 Trần Anh Tông thân chinh ra quân đánh
Chiêm Thành. Đến phủ Lâm Bình(3 châu Chế
Củ đã dâng), chia quân làm ba đường: Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn(em của vua) theo đường
núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ;
thủy bộ, cùng tiến. Bị tấn công Chế Chí có thể chọn giải pháp đầu hàng. Lấy
Đoàn Nhữ Hài(ĐNH) làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước. Vua đến trại Câu Chiêm, có
lẽ trên đất mới Thuận Châu Hóa Châu(TCHC) dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ
trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế
Chí(CC) nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Khánh Dư tính vượt biển
đuổi theo giành phần đánh bắt vua Chiêm để lập công qua mặt vua. ĐNH báo cho
vua can ngăn lại. Vua nguôi giận, sai chia quân đi tuần các bộ lạc(có lẽ ở trên
đất mới TCHC). Chế Chí đến nơi, Anh Tông bắt Chế Chí năm 1312 rồi phong vương
cho em là Chế Đà A Bà Niêm còn gọi là Chế Năng làm Á Hầu trấn giữ(KĐVS) rồi đem
Chế Chí(CC) về an trí ở kinh đô(đến năm 1313 Chế Chí chết ở hành cung Gia Lâm
và được hỏa tán. CC có hành cung nhưng là ông vua bù nhìn ở trên đất ĐV. ĐVSKTT
nói năm 1279 Chế Năng sang ta cố xin ở lại làm nội thần nhưng Nhân Tông không
nhận. Như vậy Chế Năng đã từng thân Đại Việt, nhưng năm 1318 lại phản đánh chiếm
Ô Lý). Người Chiêm tụ tập định đánh vào ngự doanh. Tiếng voi đã gần, quân sĩ có
vẻ lo sợ. Được vài hôm, quân của em vua(Huệ Vũ Vương) tự tìm đường mà tới, người
Chiêm chạy tan. Trận này không mất một mũi tên mà Chiêm Thành bị dẹp, đó là
công sức của Nhữ Hài(ĐVSKTT). Ngày vua đóng ở trại Câu Chiêm, hoàng thân Minh
Hiến Vương Uất, con út của Thái Tông bị vua phạt đuổi ra khỏi dinh, cùng vài
mươi gia đồng ngủ ở ngoài nội. Phạm Ngũ Lão(PNL) nói lỡ ra bị giặc bắt được,
chúng nói là bắt được hoàng tử thì làm sao. PNL không muốn làm lợi cho giặc.
Như vậy vùng này(TCHC) hãy còn nguy hiểm chưa phải là đất thành thục. Nơi vua
đóng quân hẹn vua Chiêm đến mà chưa hoàn toàn là đất an toàn của nhà vua. Vua Anh
Tông bổ em của Trần Khắc Chung là Đỗ Thiên Hư(ĐTH) kinh lược Nghệ An, Lâm Bình để
cứu Chiêm Thành lúc này bị Xiêm(Chân Lap?) tấn công. TCHC hãy còn là trại, chưa
thành đất thuần thục của Đại Việt.
Sang đời Minh Tông, năm 1315
anh của ĐTH là Trần Khắc Chung làm hành khiển(tể tướng). Tiếp theo là trận năm
1318 Quốc Chấn(chú và là cha vợ của Minh Tông) đánh chúa Chiêm. Phạm Ngũ Lão
đánh hậu quân của Chiêm phá được giặc cứu Quốc Chấn, ghi chú số 1029 của ĐVSKTT
cho biết chúa Chiêm là Chế Năng. Wikipedia thì nói Chế Năng đánh chiếm 2 châu Ô
Lí bị thua chạy sang Java. Lập tù trưởng
A Nan làm Hiệu Thánh á vương thay Chế Năng(ĐVSKTT), chấm dứt triều đại hậu duệ
của Chế Mân. Ngôi vua Chiêm thuộc người ngoài hoàng tộc(tù trưởng A Nan). Rõ là
quá trình nước lớn phế lập vua của nước nhỏ. Người nước nhỏ luôn luôn tìm cách
chống lại. Không phải thuần túy giải cứu công chúa khỏi lên giàn hỏa mà là quá
trình can thiệp nội bộ nước Chiêm mà sử không ghi lại. Có sự chê bai Trần Khắc
Chung của sử thần đời nhà Lê nên dẫn đến việc viết sai lạc chuyện giải cứu công
chúa.
Sử gia đời sau có ác cảm Trần Khắc Chung. ĐVSKTT viết: Hưng Nhượng Đại Vương ghét lắm, mỗi khi
thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu: "Thằng
này là điểm chẳng lành đối với nhà nước. Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà
Trần rồi mất về nó chăng?" Khắc Chung thường sợ hãi né tránh. Sử thần
Ngô Sĩ Liên thì chê Trần Khắc Chung(TKC) giở trò chó lợn ở đây(thông dâm với
công chúa) và sau đó hãm hại Quốc Chấn(QC) là chú và là cha vợ của Minh Tông.
QC làm Quốc Phụ triều Minh Tông. Lúc đó có biến cố tranh ngôi năm 1328. Minh Tông ở ngôi 15 năm mà vợ đích(con
gái của Quốc Chấn họ Trần trong hoàng tộc) chưa sinh con. QC chờ hoàng hậu sinh
con(là cháu ngoại của mình) mới lập thế tử. Trong khi hoàng tử Vượng(về sau là
Trần Hiến Tông) là con của hoàng thái phi Lê thị(họ ngoài hoàng tộc) đã lớn. Đông
Văn Hiến hầu là con (có sách chép là em) của thái sư Nhật Duật lo lót gia thần
của Quốc Chẩn là Trần Phẫu(TP). TP vu cáo Quốc Chẩn âm mưu phản loạn để trừ QC.
Minh Tông hỏi ý TKC. TKC cùng phe với Văn Hiến, cùng quê với mẹ của Vượng và là
thầy của Vượng trả lời "Bắt hổ thì dễ,
thả hổ thì khó." Minh Tông quyết định trừ khử QC, không cho QC ăn uống,
bắt phải tự tử. Hơn 100 người liên can bị hại. Vài năm sau vợ cả vợ lẻ của tên
Phẩu ghen nhau tố cáo Phẩu ăn 100 lượng vàng cùa Văn Hiến đút lót để tố cáo QC
làm phản. Tên Phẩu bị xử lăng trì. Chưa được đem ra hành hình thì gia nô của
con QC ăn hết thịt tên Phẩu. Văn Hiến bị giáng xuống làm thường dân. Lại 1 lần
nữa Ngô Sĩ Liên viết TKC đi theo bọn gian tà, đẩy người lành tới nỗi oan khiên,
hãm đức vua vào việc làm tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì
mà không nhẫn tâm làm nữa? Đi xa hơn nữa
có tác giả chê trách anh em Đỗ Khắc Chung có tâm địa gian tà từ hồi thời còn làm
chức quan nhỏ Chi Hậu Cục Thủ lấy thế gần vua ép quan xử ức hiếp dân lành năm
1280. Tra lại sử viết việc năm 1280 thấy ĐVSKTT lẫn KĐVS nói do quan xử kiện sợ
mà né tránh Khắc Chung chứ bọn họ không trực tiếp sai bảo người xử kiện xử
thiên lệch. Sự việc chỉ nổi lên cái uy tín đối với triều đinh nhà Trần của anh
em Khắc Chung ngay từ hồi đó mà thôi. TKC 3 đời làm thầy hoàng tử(Anh Tông,
Minh Tông và Hiến Tông) phải là người có tài thao lược trị quốc. Có thể về sau
TKC bị nhiều người ghen ghét gièm pha.
Mãi tới đời Lê, Chiêm Thành
vẫn còn sang quấy nhiễu thành Hóa Châu như vào thời vua Bí Cai, vua Trà Toàn. Đến
năm 1471 Lê Thánh Tông lấy được đất Quảng Nam của Trà Toàn thì đất Ô Lý mới yên
hẳn. Đó là phủ Triệu Phong hay Thuận Hóa. Giữ được tấc đất tổ tiên để lại khó
khăn thay!
Tết Dương Lịch 2013.
HBC.









0 nhận xét:
Đăng nhận xét