Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

Còn chừng 10 ngày nữa tới kỷ niệm ngày Ban Mê Thuộc Thất Thủ. Mời xem bài viết và hình ảnh
XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA
Xuân thì có nhiều mùa. Mùa Xuân Đại Thắng(MXĐT) thì hiếm nên ta ngỡ rằng chỉ có một hai Mùa Xuân Đại Thắng. Lục lọi trong sử sách thì thấy cũng có tới mấy mùa Xuân như thế.

Xa xưa, năm 1592 có một MXĐT, Trịnh Tùng lấy lại Đông Đô, phục hồi kinh đô Thăng Long cho nhà Lê sau gần 1 thế kỷ nước rơi vào 2 cuộc nội loạn, đa cực và lưỡng cực. Đa Cực từ năm 1509 Lê Uy Mục bị ông cố ngoại của Trịnh Tùng là Nguyễn Lang lật đổ. Các đại Thần như Trịnh Duy Sản, Trịnh Duy Đại, Trịnh Tuy, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Mạc Đăng Dung tranh nhau phế vua này như Lê Tương Dực(1509-1516), lập vua kia như Lê Chiêu Tông(1516-1522) để tranh giành quyền lực. Mạc Đăng Dung tóm thu quyền hành lập vua Lê Cung Hoàng(1522-1527) làm bù nhìn. Nguyễn Kim lập nhà Lê Trung Hưng mở ra nội chiến lưỡng cực. Lê Trung Hưng Trịnh-Mạc(1527-1593). Các phe thanh toán nhau kết cục còn lại 2 phe là Mạc Đăng Dung và Nguyễn Kim. Trịnh Tùng là cháu ngoại của Nguyễn Kim. Nguyễn Kim là con của Nguyễn Hoằng Dụ và là cháu của Nguyễn Lang theo Việt Nam Sử Lược(VNSL) của Trần Trọng Kim.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư(ĐVSKTT) viết về trận lấy lại Đông Đô của Trịnh Tùng: Tháng 12 năm 1591tiết chế Trịnh Tùng ra quân 5 đội Bắc tiến. Đội 1 do thái phó Dương quận công Nguyễn Hữu Liêu đem 1 vạn quân đi tiên phong. Đội 2 do thái úy Vịnh quận công Hoàng Đình Ái mang 1 vạn quân. Đội 3 dinh tiền khu do thái bảo Ngạn quận công Trịnh Đỗ. Đội 4 là đại dinh trung khu 2 vạn quân do tiết chế Trịnh Tùng điều khiển. Đội 5 do Lân quận công Hà Thọ Lộc chở lương làm hậu quân. Từ Tây Đô đào núi, mở đường, luồn cây xuyên rừng, vượt sông chui hang, đi gấp hơn 10 ngày, đến núi Mã Yên ở đầu địa giới Sơn Tây đóng quân lại(đường tiến quân của Chế Bồng Nga đánh Thăng Long năm xưa). Ngày hôm sau qua núi Mường Động, đến Ma Nghĩa(ghi chú số 2591 nói là Hà Tây). Quân đi đến đâu, giặc đều như cỏ bị gió lướt, không đến 10 ngày đã dẹp yên các huyện Yên Sơn, Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong, rồi đóng dinh ở Tốt Lâm. Ngày 27/12 chia đường cùng tiến. Đến địa phận xã Phấn Thượng(huyện Tùng Thiện, tĩnh Hà Tây), hai bên đối trận với nhau, dàn bày binh mã...Rồi trận chiến đến hồi ác liệt, đánh xáp lá cà. Quân Mạc kinh hoàng, cánh quân tả không kịp trông cánh hữu, quân sau không kịp nhìn quân trước, binh lính tuy đông nhưng cờ xí lộn xộn, hàng ngũ rối loạn. Các quân thừa thắng đuổi dài đến Giang Cao, chém hơn 1 vạn thủ cấp, máu chảy khắp đồng, thây chết thành núi, cướp được khí giới và ngựa nhiều không kể xiếc. Mạc Mậu Hợp sợ đến vỡ mật, xuống thuyền vượt sông mà chạy. Tàn quân tranh nhau xuống thuyền. Người trong thuyền sợ đắm, lấy gươm chặt đứt tay rơi xuống sông chết đến quá nửa, còn sót lại thì đứa nào đứa nấy  đều chạy trốn. Duy có tướng Nam đạo là Nguyễn Quyện lánh xa nên được an toàn. Gặp ngày gần tối, tiết chế Trịnh Tùng đóng quân lại ở Hiểm Sơn. Ngày 30/12 tiến quân thẳng đến đóng ở cầu Cao tại góc TâyBắc thành Thăng Long, phóng lửa hiệu, thiêu đốt nhà cữa, khói lửa khắp trời. Trong thành sợ hãi rối loạn. Mạc Mậu Hợp sợ hãi cuống quýt, bỏ thành chạy trốn. Đêm hôm ấy già trẻ trai gái thành trong thành ngoài, tranh nhau xuống thuyền qua sông, thuyền đắm, chết đuối đến hơn 100 người. Thu phục thành Thăng Long. Gặp ngày Tết Nguyên Đán, úy lạo tướng sĩ. Ngày mồng 3 Tết Nhâm Thìn(1592) lập đàn tế trời đất, tế Thái Tổ Cao Hoàng Đế(Lê Lợi) và các hoàng đế bản triều(triều Lê) cùng thần linh núi sông, danh tướng...ngày 15 hạ lệnh cho các quân san phẳng lũy đắp thành Đại La. Truy kích quân Mạc. Tháng 3 báo tin thắng trận. Vua mừng lắm. Tiếp tục tảo thanh tàn quân Mạc...Năm 1593 tháng 3 xây cung điện chuẩn bị đón vua ra. Tháng 4, ngày 16, vua lên chính điện, nhận lễ chầu mừng của trăm quan. Đại xá thiên hạ. Đúng là 1 cái Tết Đại Thắng. Đại binh(hơn 5 vạn quân) hành quân thần tốc(non 1 tháng) thì lấy được kinh đô chìm trong 83 năm(1509-1592) tranh chấp, từ đời ông cố ngoại Nguyễn Lang cho tới chắc ngoại Trịnh Tùng. Kinh đô mới trở về vua Lê. Nguyễn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm chắc mãn nguyện nơi 9 suối. Nhưng hậu sinh ít ai biết có 1 mùa Xuân Đại Thắng đó, một MXĐT bị lãng quên. Tại sao? Cũng MXĐT nhưng MXĐT năm 1789 của vua Quan Trung đại phá quân Thanh thì con dân không ai là người không biết. Công đánh giặc ngoại xâm thì dễ được vinh danh ca ngợi hơn công đánh nhau huynh đệ tương tàn. Khó mà vinh danh vì chánh/ngụy khó phân biệt. Công/tội cũng khó lường luôn. Thử xét đoạn lịch xử tiếp theo.
Tháng 5/1593 Nguyễn Hoàng đem binh lương sổ sách về kinh giao nộp và được sai đi đánh dẹp tàn quân Mạc. Về tình hình dư đảng của nhà Mạc thì ĐVSKTT viết như thế này: Mạc Ngọc Liễn trốn lên phương bắc, ngầm tìm người tông thất họ Mạc lập làm người nối nghiệp, đặt niên hiệu là Càn Thống năm thứ 1. Nhiều người còn giữ hai lòng rủ nhau theo về. Có mấy chục đảng Mạc phiến hoặc do lòng người tụ tập thành bọn. Từ sông Nhị trở lên bắc, binh đao hết nơi này đến nơi khác, khói lửa không lúc nào ngớt. Quần hùng ẩn náu. Giặc cướp lăng loàn. Năm 1594 Mạc Ngọc Liễn sang phủ Tư Minh (Quảng Tây) xưng thần với nhà Minh. Năm này, các xứ Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn can qua rối động. Quan quân đến thì giặc giải tán, đi rồi giặc lại tụ họp... Mạc Ngọc Liễn bịnh chết. Con chạy sang Long Châu(Quảng Tây giáp ranh ải Nam Quan thời đó gọi là Trấn Nam Quan) theo Mạc Kính Cung. Ngọc Liễn chết để di chúc cho Kính Cung: "Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta là dân vô tội mà để phải mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế! Bọn ta nên tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại, mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ tranh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, nên cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng".  Ở mạn duyên hải Sơn Nam, Hải Dương, Đông triều dư đảng họ Mạc cũng mạnh. Nguyễn Hoàng lo đánh dẹp. Con cháu họ Mạc tiếp tục tố cáo với nhà Minh là vua Annam thực sự là họ Trịnh tiếm ngôi nhà Lê, vua Lê chỉ là danh nghĩa. Người nhà Minh qua lại dòm ngó không ngớt và gọi tới gọi lui vua tôi nhà Lê lên cữa ải Trấn Nam Quan để họ khám xét. Học giả Phùng Khắc Khoan được cử làm sứ giả sang nhà Minh biện bạch và xin phong vương cho vua Lê. Vua Minh phong vua Lê làm An Nam đô thống sứ ty đô thống sứ và ban cho một quả ấn An Nam đô thống sứ ty bằng bạc. Khắc Khoan thưa: Vua Lê là dòng dõi của An Nam quốc vương, Mạc tiếm ngôi, ngầm xin chức Đô Thống. Nay chủ của thần không có tội như họ Mạc, mà lại phải nhận chức như họ Mạc là nghĩa thế nào? Khi sứ về tới kinh thành mở ra xem thấy ấn nói làm bằng bạc lại tráo đổi thành ấn bằng đồng! Thổ quan ở biên giới nhà Minh tâu việc con cháu nhà Mạc lên triều đình. Nhà Minh cho con cháu nhà Mạc giữ đất Thái Nguyên và Cao Bằng… Năm 1599 tháng 4  Vua Lê Thế Tông phong vương cho Trịnh Tùng làm đô nguyên súy Bình An Vương. Tháng 8 vua băng. Năm 1600 tháng 5 nguyễn Hoàng(cậu của Trịnh Tùng. Bốn đời họ Nguyễn này theo phò vua Lê) giả vờ đi dẹp bọn Kế quận công Phan Ngạn, Tráng quận công Ngô Đình Nga, Mỹ quận công Bùi Văn Khuê  mưu phản ở cữa Đại An rồi chạy về Nam. (Phan ngạn là công thần đương triều. Bùi Văn Khuê là danh tướng Sơn quận công của nhà Mạc, con rể của danh tướng Nam Đạo nguyễn Quyện của nhà Mạc từng nổi tiếng ở chiến trường Sơn Nam. Khuê sau mùa xuân đại thắng năm 1592 theo về họ Trịnh, được phong làm Mỹ quận công). Rồi thì Phan Ngạn ngờ vực Bùi Văn Khuê sai người bắn chết Khuê ở giữa sông. Phan Ngạn tự xưng Quốc Công, Đình Nga xưng Quận Công. Rồi vợ Khuê bắn chết Ngạn. Tháng 9/1600 Ngô Đình Nga bị bắt và bị chém. Như vậy còn 1 mình Nguyễn Hoàng trốn thoát được vào Nam.
Từ đoạn sử này rút ra được lý do MXĐT năm 1592 không được vinh danh như MXĐT năm 1789. Một lần nữa ta thấy lý do cũng ở quan niệm chính/ngụy, công/tội trong 1 cuộc nội chiến. Tàn 1 cuộc chiến người ta không còn bận tâm đánh đấm nữa mà đến phiên luận anh hùng, công/ tội, thưởng /phạt. Quyền lợi xung đột nhau. Thêm vào đó một khi hỉ nộ ái ố chìm lắng xuống thì người ta “ngộ” ra. Các công thần xét lại thân phận. Cuối cuộc chiến người ta lại nhận ra nhà Mạc lại được lòng dân. Nhiều nhóm bao che dư đảng nhà Mạc. Họ Trịnh phải vất vả đánh dẹp. Còn trước đó thì người ta phục họ Trịnh phò vua ghét họ Mạc. Mạc Đăng Dung(MĐD) cướp ngôi vua Lê. Người ta oán hờn gọi là ngụy Mạc. Bị tố cáo, năm 1528 MĐD nộp 2 châu Quy, Thuận, người vàng, người bạc và châu báu để nhà Minh công nhận. Lại bị tố cáo nữa nên năm 1540, triều Mạc Phúc Hải, MĐD và bầy tôi qua Trấn Nam Quan mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục tước mạc phủ nhà Minh, quỳ gối cúi đầu, nộp sổ sách quân dân đất đai để chờ phân xử, lại cắt đất dâng nộp cho nhà Minh. Sau bao năm tiểu trừ dư đảng Mạc vất vả, người ta nghĩ lại về danh phận nhà Mạc, nghĩ đến lời tố cáo con cháu nhà Mạc tố họ Trịnh tiếm ngôi vua Lê. Đến khi Trịnh Tùng xưng vương, Bình An Vương, thì sự xét lại trở nên mạnh mẽ. Người ta nghĩ lại danh phận vua Lê. Nhà Minh hoạnh họe đủ điều, khám lên xét xuống coi có phải thật vua của Annam hay không. Qủa ấn ban bằng bạc lại bị tráo đổi bằng đồng. Danh dự của vua mà mình phò bao lâu nay bị tổn thương. Các công thần với lý tưởng phò vua Lê diệt Mạc phải xét lại phận mình. Người ta không còn thành kiến căm thù họ Mạc nữa. Di dân theo Nguyễn Hoàng vào Nam có cả con cháu nhà Mạc. Rể của chúa Sãi là Nguyễn Hữu Vinh là con của Mạc Cảnh Huống được chúa Sãi cho trấn nhậm phủ Phú Yên thay Văn Phong. Rồi vua Lê Thế Tông băng hà. Bầy tôi nhà Lê lại càng xét lại phận mình lần nữa, danh phận vua mình thờ. Các công thần như Phan ngạn, Nguyễn Hoàng và hàng thần Bùi Văn Khuê  có thể có thái độ xét lại(hàng thần lơ láo/phận mình ra đâu?). Vụ xảy ra ở cữa Đại An, 3 chết, một còn sống sót trốn về Nam lập nghiệp riêng, dựng lên trang sử phân tranh mới Trịnh-Nguyễn. May mắn thay cho đất nước dân tộc. Nhờ con cháu nhà Mạc vẫn còn ở Cao bằng cầm chân họ Trịnh nên họ Trịnh chỉ đem quân chinh phạt họ Nguyễn có 7 trận mà thôi. Họ Nguyễn được yên thân ở phía Nam xây dựng nghiệp riêng, một may mắn tự nhiên đất nước có được 1 thế chân vạc cân bằng 3 thế lực Mạc-Trịnh-Nguyễn, 1 thứ Tam Quốc ở nước ta. Trong 7 trận Trịnh-Nguyễn phân tranh, chỉ có 1 trận là trận thứ 5 họ Nguyễn ở thế công, tấn công ra bắc và là trận đại thắng. Sáu trận kia họ Trịnh ở thế công đánh Đàng Trong nhưng không thắng. Họ Nguyễn xây trường lũy đóng chặt biên giới lo xây dựng Xứ Đàng Trong ấm no và to lớn(giáo sĩ Borri và Đắc Lộ).
Tùy nhận thức chính/ngụy mà 1 công trạng được vinh danh, công trạng kia bị vùi lấp. Vinh danh có khi thái quá do cảm tính riêng, lập trường chính trị riêng. Hễ giống mình thì mình ca. Khác mình thì chà đạp bất kể sự thật là như thế nào. Hỉ nộ ai ố thì làm sao sáng suốt ra. Một bài trên trang mạng BBC nói tài liệu VN nói có 29 vạn quân Thanh nhưng theo tác giả Nguyễn Duy Chính căn cứ sổ trả lương và kế toán của Thanh Triều cọng tài liệu khác nói kể cả 3 phu/1 lính thì quân Thanh có chừng 100 nghìn người, tức 10 vạn. Mười vạn quân Thanh con dân ta thổi phồng lên tới 30 vạn. Đoạn viết về nhà Tây Sơn, học giả Trần Trọng Kim đưa ra tiêu chuẩn người Phương Đông đánh giá các nhà dựng nghiệp vua. "Nhà Nào đánh giặc mở nước hay dẹp loạn yên dân ở trung nguyên lên làm vua thì được cho là chánh đáng. Nhà nào làm tôi mà cướp ngôi vua, xưng đế xưng vương ở chốn rừng núi biên địa hay rước ngoại nhân vào để được lên ngôi vua thì gọi là tà ngụy"  Xem như vậy thì khó phân biệt Tây Sơn-nhà Nguyễn chính/tà. Nhà nào cũng có cái được cái mất nêu trên. Trong các tiêu chuẩn để đánh giá có tiêu chuẩn yên dân. Nhất tướng công thành/vạn cốt khô cũng nên cân nhắc. Nhà Tây Sơn quá ngắn nên yếu tố yên dân chưa được đánh giá. Các nhà truyền giáo nói vào triều Tây Sơn con dân đói khổ và nói cách tuyển binh của vua Quan Trung là lên chỗ cao đếm nóc gia, cứ 3 thì chọn 1 đinh tráng. Dùng giáo mác xỉa vào đống rơm để lính sợ không dám trốn. Năm 1792 vua Quang Trung mất triều Tây Sơn sa sút. Nguyễn Vương Ánh tiến hành chiến dịch khôi phục đất nhà chúa(1793-1802). Năm 1799 quân Gia Định ra đánh thành Qui Nhơn. Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân Phú Xuân vào cứu bị quân Gia Định chận viện ở Quảng Nghĩa. Quân của Vũ Văn Dũng sợ quân Gia Định khiếp vía đến nỗi đang đêm có 1 người thấy 1 con nai trong rừng chạy ra hô “con nai” thì bị nghe lầm là quân Đồng Nai nên cuống cả lên bỏ chạy. Bị truy kích, quân của Vũ Văn Dũng vỡ tan. Lúc này(1793-1799) hàng năm cứ đến mùa gió nồm thì quân Gia Định kéo ra, gió bấc thổi thì về Gia Định thủ(sợ Tây Sơn lợi dụng gió mùa ĐôngBắc vào cướp Gia Định). Người dân gọi là Giặc Gió Mùa(VNSL). Dân Thuận Quảng sốt ruột đợi chờ hát câu: "Lạy trời cho cả gió nồm/Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra"(wikipedia). Có một nghịch cảnh lẫn lộn TS-Nguyễn Vương Ánh xảy ra trong việc chọn tên danh nhân Nguyễn Huệ đặt cho tên trường trung học Nguyễn Huệ Tuy Hòa Phú Yên. Người đầu tiên chọn tên Nguyễn Huệ đặt tên cho trường trung học ở Phú Thứ(tiền thân trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa) là thầy Huỳnh Tô với ý tưởng vinh danh vua Quan Trung. Nhưng oái ăm thay(chắc lầm lạc thôi) không biết vị giáo sư nào của trường NH Tuy Hòa lại chọn logo chiếc thuyền buồm của giặc gió mùa làm huy hiệu cho trường Nguyễn Huệ. Sự lầm lẫn tồn tại khoảng 5 năm(1956-1962). Để vinh danh bên này(Nguyễn Huệ) mà trời xui đất khiến lại lấy hình ảnh bên kia(Gia Long). Giáo sư trung học mà còn quờ quạng như thế. Quờ quạng hay âm linh xui khiến? Đất Phú yên là cái nôi Nam Tiến của chúa Nguyễn. Cái nôi sinh ra Xứ Đàng Trong. Cũng chính nơi này triều vua Nguyễn được sinh ra sau 10 năm chinh chiến với TS(1792-1802), cái nôi sinh ra nước Việt Nam to lớn thay nước Đại Việt nhỏ hơn. Đất Phú Yên in đậm dấu vết chúa và vua Nguyễn trong khi Nguyễn Huệ chỉ để lại trang sử trận lấy đất Phú Yên của Tống Phước Hiệp năm 1775. Chỉ 1 lần Nguyễn Huệ(NH) xuất hiện ở PY. Lấy tên danh nhân NH để đặt tên trường chỉ là thường tình là thấy người ta sang bắt quàng làm họ mà thôi. NH xuất thân ở Bình Định và chẳng dính đấp gì nhiều về đất Phú Yên.
Đời Chúa Nguyễn  cũng có MXĐT, ở ngay trên quê hương chúng ta, đất Phú Yên, mà có mấy ai biết. Đó là MXĐT thắng do Hùng Lộc hầu, người Chăm, vượt qua đèo Hổ Dương đánh Chiêm lấy đất lập ra dinh Thái Khang đẩy biên giới nhà chúa qua bên kia rặng Đại Lãnh, giải phóng PY khỏi dân phản kháng người Chiêm gây bất an gần 1 thế kỷ rưỡi(1471-1611). Nếu tính tới đây, năm 1653, thì lâu tới gần 3 thế kỷ(282 năm) bất an. Sau năm 1611 đất này mới an. Hú hồn! Tên Phú An(yên) ra đời. Tôi nói “hú hồn” là cứ nghĩ Đại Việt bị nội chiến như ri thì dễ gì giữ được biên giới phía Nam. Đây là dịp tốt để dân Chiêm đòi lại đất như thời vua Bí Cai và Trà Toàn của họ. Hồi đó triều nhà Lê mạnh nên vua Lê bắt 2 vị vua Chiêm này đem về an trí ở thành Thăng Long rồi lập vua bù nhìn mới. Đây cũng là Đại Thắng Mùa Xuân thắng quân Chiêm mà sao không được vinh danh nhỉ, không được con dân biết đến nhỉ, nhất là dân Phú Yên. Năm Qúi Tị(1653), mùa Xuân, Chiêm Thành xâm lấn PY, quan ngoài biên đem việc tâu lên. Chúa bèn sai Hùng Lộc làm Thống Binh,  sai Minh Vũ làm tham mưu, đem 3000 quân đi đánh(Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Liệt Truyện Tiền Biên và Phủ Biên Tạp Lục). Thắng người ngoại chủng mà không được ca ngợi nhỉ? Chiến thắng có khi còn hào hùng hơn chống ngoại xâm của Nguyễn Huệ(không những đánh đuổi mà còn lấy đất của người ta nữa). Hay vì Hùng Lộc là người Chăm nên người Việt dị ứng không muốn ghi công chăng(Xem bài viết Đèo Hổ Dương-Trích Đoạn trong sách Phú Yên 400 Năm Nhìn Lại tập II của tôi). Thấy người ta sang bắt quàng làm họ là thói thường. Người ta sang dù từ đời cao tằng cố tổ mà dây mơ rễ má liên quan tới mình dù mù mờ chẳng lấy gì rõ ràng cho lắm(Tây Sơn, Lương Văn Chánh ở Bình Định) vẫn nhận ra là bà  con thiết thân rồi rước về thờ phượng tôn vinh ca ngợi bốc thơm hết chỗ nói(sai với thực tế). Trong khi cha ruột(Văn Phong, Hùng Lộc, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Phước Yến, Chu Văn Tiếp, Mai Tiến Vạn ở đất PY) thì không ngõ ngàng ngó tới. Chẳng 1 chút gì để ghi công sanh thành dưỡng dục. Mong 1 lời nói “nựng” cũng không. Mộ phần thì nhang tàn khói lạnh(xem bài viết Mai Tiến Vạn).
Thời Trịnh Nguyễn Phân tranh cũng có 1 Mùa Xuân Đại Thắng(MXĐT), trận thứ 5 như nói trên đây. Trận đại thắng này xảy ra vào tháng 4 năm 1655,  chiếm cùng 1 lúc tới 7 huyện ở bờ Nam sông Lam. Bắc Hà rúng động.
Đời Tây Sơn thì có 2 Mùa Xuân Đại Thắng. Đại Thắng năm 1789 thì biết bao bút mực viết về nó rồi. Tôi chỉ xem xét lại trận Đại Thắng mùa Xuân năm 1785(Chiến Thắng Rạch Gầm-Xoài Mút). Trận này Tây Sơn thắng quân Xiêm chỉ vì địa lợi(mời xem bài viết Mùa Xuân Nói Chuyện Đại Thắng trong blog của tui).
Đời vua nguyễn cũng có mùa Xuân Đại Thắng. Nguyễn Vương Ánh lấy lại thành Phú Xuân, kinh đô Xứ Đàng Trong. Suốt 1 năm 1800 từ tháng giêng tới tháng chạp giải vây Võ Tánh ở thành Bình Định không được, Nguyễn Vương Ánh đóng hành tại ở Hòn Nan trong vịnh Cù Mông trực tiếp điều khiển chiến trường buồn bực, nghĩ ra cách đánh hỏa công cữa Thị Nại(ĐNTLCB). Tháng giêng  năm 1801 phá được cữa Thị Nại ra lấy Nam, Ngãi. Trong khi đó Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng vây chặt và ngặc nghèo Võ Tánh trong thành Bình Định. Mật thư gởi vào khuyên Võ Tánh bỏ thành trốn ra. Mật thư được phúc đáp. Võ Tánh viết "Quân tinh binh của Tây Sơn ở cả Qui Nhơn, vậy xin đừng lo việc giải vây vội, hãy nên kíp ra đánh lấy Phú Xuân thì hơn".   Bấy giờ nhà Tây Sơn cũng bối rối lắm. Ở Nghệ An thì có Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phúc Tường đem quân Vạn Tượng về đánh phá. Ở Thanh Hóa thì có phiến thần Hà Công Thái khởi binh đánh phá. Ở Hưng Hóa có thổ ti Phan Bá Phụng nổi lên quấy nhiễu. Còn ở Bắc thì có các nhóm đạo Thiên Chúa nổi lên. Ở Phú Xuân thì vua hèn và các đại thần ghen ghét giết hại lẫn nhau (Việt Nam Sử Lược (VNSL) của Trần Trọng Kim). Nguyễn Vương Ánh tiến lấy Phú Xuân ngày 3-5-1801.  Một Mùa Xuân Đại Thắng. Việc lấy kinh đô Thăng Long vào năm sau thì chóng vánh hơn nhiều. Tháng 5 năm 1802 nguyễn Vương Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Tháng 6 vượt qua sông Linh Giang(sông Gianh, nói rõ là sông Đại Linh), tiến lên đóng ở Hà Trung. Trấn thủ Nghệ An bỏ thành. Tiến ra lấy Thanh Hóa, đi đến đâu quân TS chưa đánh đã tan,  chỉ trong 1 tháng đã ra đến thành Thăng Long(VNXL).
Có nhiều MXĐT đấy chứ nhưng ít ai quan tâm, ca ngợi trừ 2 mùa xuân đại thắng của vua Quang Trung.
Mùa Xuân Kỷ Niệm
Thất thủ Ban Mê Thuộc 11-3-1975
Đầu tháng 3 năm 2012
Lãnh Nam HBC.
MỜI XEM HÌNH.




Ngày 14-3-1975 TT Nguyễn Văn Thiệu quyết định triệt thoái khỏi Tây Nguyên.


2 nhận xét:

Nhà sinh sử đã làm tốt công việc nhà nghiên cứu...
Nguyen Dinh comment

Blog rất hay. Nhiều tài liệu giá trị. Xin giới thiệu link:
http://en.wikipedia.org/wiki/22_Gia_Long_Street
v/v di tản nơi tỏa Đại Sứ Mỹ ở Saigon

Đăng nhận xét