Đồi Cổ Thạch ở bờ phía nam cữa Vịnh Xuân Đài, gần chỗ cữa khẩu Tiên Châu(cữa Sông Cái). Núi Đá Cham(bản đồ VNTopogaphy Maps) có lẽ là Núi Đá Chàm là tên gọi cổ, tên gọi của người ngoại quốc làm bản đồ. Có thể họ dựa vào tài liệu dân gian mà gọi như thế. Đồi Cổ Thạch là tên gọi mới của người hiện nay. Không biết tình cờ hay hồn thiên sông núi khiến lịch sử đất này, xứ Phú Yên vì ban giao nhạy cảm Chiêm-Việt-nước lớn TQ có nhiều góc khuất nay phục hồi lịch sử. Một xứ loạn lạc có tới 140 năm(1472-1611) mới yên. Nay Phú Yên họp nhất với Dak Lak khiến hậu sinh xét lại, tìm hiểu về nguồn!
Nơi đây có 2 quả đồi. Đồi phía đông có đỉnh cao 104m. Sườn phía tây thì dốc. Sườn phía đông thì thoai thoải duỗi thẳng tới Gành Đèn. Ở chân sườn phía nam ghi tên thôn Phú Hạnh. Đồi phía tây có đỉnh cao 137m gọi là Núi Đá Cham. Ở chân sườn núi phía tây này ghi tên 3 thôn là Phú Hội 1,2 và 3(Bản đồ VN Topography Maps). Ngày nay đồi phía đông gọi là Đồi Cổ Thạch. Mấy ngày gần đây nhiều trang mạng ca ngợi nơi đây là điểm du lịch rất hấp dẫn vì cảnh đẹp và có di tích cổ có niên đại hàng mấy trăm năm.
Toàn Đồi Cổ Thạch rộng 42ha. Hiện nay dọc con đường từ thôn Phú Hạnh chạy lên đường đỉnh sườn phía đông ở khoảng cao độ 60-40m rồi đổ dốc qua phía bên kia trông xuống Vịnh Xuân Đài, người ta thấy có nhiều kiến trúc bằng đá xếp phẳng phiêu đẹp mắt như xây bằng gạch. Đó là giếng đá mà có vài tác giả gọi là giếng cổ Champa, bức tường đá, thềm đá, nhà đá, bờ đá. Những kiến trúc này còn nằm rải rác khắp nơi trên sườn đồi(làng cổ). Thêm vào đó còn có những lối đi bằng đá chạy dọc theo bờ đá quanh co khắp trong làng dài hàng chục Km.
Gọi là cổ đến hàng mấy trăm năm và gọi là giếng cổ Champa là để quảng cáo thu hút khách du lịch chứ không có gì là chắc chắn cổ như thế cả. Cần khảo cổ thêm để làm sáng tỏ cổ hay không. Kỷ thuật xếp đá phẳng phiêu đẹp mắt như xây bằng gạch không thấy nơi khác trong kho di tich Champa mà lại thấy ờ ở Phú Yên thời hiện đại. Chợ Dinh ở Tuy Hòa hãy còn thấy bức tường xếp bằng đá như thể ở đường Chu Mạnh Trinh và ở chỗ nhà cổ của ông Ban Liềm trên đường Phan Đình Phùng. Địa hình và kiến trúc bằng đá như trên thấy ở Bờ Đắp Giếng Sung, trên núi bên phải(phía đông) đường Đá Bàn, chỗ lên khu du lịch Đá Bàn. Đường Đá Bàn thời ông ngoại tôi gọi là Bờ Đắp(tôi người con thứ tám sinh năm 1940. Mẹ tôi thứ tư. Ghi ra đây để các bạn nhận định thời ông ngoại tôi là thời nào). Thời đó Bờ Đắp Giếng Sung trù phú và có người ăn học. Câu ca dao "Ai về Bờ Đắp một mình phất phơ chéo áo giống hình trò Ba" nói lên điều đó và truyện kể gia đình ngọai tôi xác nhận điều đó, trù phú và có ăn học. Dân Giếng Sung giàu có văn minh hơn xứ đồng gieo(Hòa Trị-Hòa Quang khô cháy khi chưa có đập Đồng Cam). Nước ngầm trong sườn núi ở Giếng Sung rỉ ra tưới tốt ruộng vườn. Dân giàu có nhờ trồng dâu nuôi tằm. Thế đất sườn đồi thoai thoải như ở Giếng Sung và Đồi Cổ Thạch có mạch nước ngầm rất cạn tưới tốt ruộng vườn.
Như lời kể người già 81 tuổi ở Đồi Cổ Thạch hay ở Giếng Sung thì dân làng ở hai nơi này lượm những mảnh đá rải rác trên sườn đồi xây bờ tường ngăn phân biệt ruộng vườn ở mực cao thấp khác nhau. Toàn cảnh trông như Đồi Cổ Thạch ngày nay như thế.
Về niên đại cổ xưa từ thời Champa cũng không nên loại bỏ vì những dấu hiệu như sau đây. Đồi phía tây Đồi Cổ Thạch bản đồ VN Topography Maps ghi là Núi Đá Cham. Cham có phải là Chàm(Champa) hay không? Có lần tôi đọc một tài liệu nói rằng ở Tiên Châu có di tích của Chàm. Cần tra cứu.
Minh Thực Lục cho thấy Vịnh Xuân Đài là nơi của vua nước Hoa Anh do Lê Thánh Tôn phong cho. Rất có thể Đồi Cổ Thạch là thủ phủ của vua xứ Hoa Anh. Di tích champa phải có ở nơi đây thôi. Minh Thực Lục thực lục tháng 11 năm 1481 nói sứ thần Trương Cấn(TC) đi phong vương cháu vua Chiêm Thành vì tội không đợi lệnh triều đình mà trao ấn cho Đề Bà Đài Gia do An Nam lập ra sau khi vua Tế Á Ma Vật Am(TAMVA) chết khoảng năm 1479-80. Trương Cấn được sai đi phong vương cho TAMVA năm 1478. TC bị đăm thuyền năm 1479 ở Giang Tây rồi cũng đến được Quảng Đông. Năm 1481 Trương Cấn đi phong vương cho cháu của vua. Đến Quảng Đông hay tin TAMVA chết. Người em của vua là Cổ Lai sai sứ sang xin phong. Nghĩ rằng nếu về không thì mất lời bèn đi thẳng đến Chiêm Thành, được biết sau khi người cháu xin phong bị Cổ Lai giết An Nam ban sắc ngụy lập Đề Bà Đài Gia. Trương Cấn không đợi lệnh vua Minh, trao ấn cho ĐBĐG, nhận hối lộ 100 lạng vàng, đi thẳng qua Mãn Lạt Gia(Mã Lai) bán hết hàng hóa rồi về. Trương Cấn bị phạt hạ ngục.
Sau khi hạ thành Đồ Bàn đất Nam Đèo Cù Mông bị tranh chấp 140 năm(1471-1611) mới yên. Năm 1611 Nguyễn Hoàng lập ra phủ mới lấy tên là phủ Phú Yên gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa(VN Sử Lược Trần Trong Kim). Sau trận hạ thành ĐB Chiêm Thành tố cáo An Nam xâm lấn đất đai. Vì vậy sử việt dấu chuyện ở Nam Cù Mông. Lịch sử đất này còn nhiều góc khuất nên hậu sinh cần khảo cứu thêm.
Lịch sử diễn biến như sau. Sử Việt viết vắn tắt “Năm 1471 tháng 3, mồng một hạ thành bắt sống 3 vạn, chém 4 vạn, mồng 2 đem quân về, Bồ Trì Trì chạy về Phan Lung xưng thần chịu nộp cống được phong vương, hưởng 1/5 diện tích. Phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn thành 3 nước để dễ ràng buộc...Tháng 11 ngày mồng 8 đánh bắt Trà Toại và vợ con.”
Theo Minh Thực Lục(MTL) thì 3 nước nói trên tới khoảng năm 1480-81 mới xuất hiện. Sau Đồ Bàn thất thủ, em vua Trà Toàn là Trà Toại sai sứ sang nhà Minh tố cáo An Nam giết vua xâm lấn đất đai. MTL đăng nhiều tố cáo của vua Chiêm Thành, nhiều chỉ dụ của vua Minh dụ Lê Thánh Tôn(Lê Hạo) về việc ở Chiêm Thành và nhiều tờ tấu đáp trả của Lê Hạo. Qua đó ta thấy diễn biến lịch sử như sau:
Hạ thành năm 1471. Em Trà Toàn là Trà Toại sang nhà Minh xin phân xử. Nhà Minh sai quan đi phong em vua Chiêm là Ma Ha Bí Cai(Minh Sử lầm. Em vua là Trà Toại thuộc triều thứ 14 chống Đại Việt. M H Bi Cai thuộc triều 13 thân Đại Việt). Tới năm 1475 sứ nhà Minh là Trần Tuấn mới tới được Chiêm Thành để phong vương cho Trà Toại . Trần Tuấn(TT) không vào được Chiêm Thành Cảng và biết cả nhà Trà Toại bị đánh bắt và nước đổi thành châu Nam Giao(MTL thực lục tháng 1-1475). Minh Thực Lục(MTL) thực lục tháng 9-1975 đăng lời tâu của Lê Thánh Tôn(Lê Hạo) tâu nói năm trước Trà Toàn xâm phạm Hóa Châu. Trà Toàn bị em là Trà Toai giết, tự lập làm vua, lai bi con Bàn La Trà Duyệt là Trà Chất Đài Lai(TCĐL) giết. Từ đó nước này loạn lạc nổi lên. Vua Lê tâu báo Trà Toại bị giết là do tranh chấp nội loạn. Ông không đánh bắt Trà Toại. Sự thực Đại Việt tới năm 1475 mới có trận đánh bắt Trà Toại. Trà Toại bị đem về an trí ở cữa Bảo Khánh nam thành Thăng Long nhưng Lê Hạo tâu Trà Toại bị TCĐL giết.
Tiếp theo là diễn biến lịch sử ở đất nam đèo Cù Mông thuộc 3 nước. Nước của triều Trai Á Ma Vật Am-Cổ Lai ở trong núi, nước của Đề Bà Đài Gia ở nam đèo Cù Mông và nước nam Chiêm Thành ở Phan Rang như sau:
MTL thực lục tháng 4-1478 đăng lờ tâu của Lê Hạo nói đầu mục(người có thế lực ở một địa phương) Chiêm Thành là Ba Lung Ma Ha trước đây thông hiếu với Đại Việt. Năm 1475 nước của y thu hoạch được nhiều thuyền bè của nước Lưu Cầu(Okinawa) trôi dạt bèn xâm lấn Đại Vệt, bị quan biên phòng đánh dẹp. Vua Lê giải thích trận 1475 không phải trận Đại Việt đánh bắt Trà Toại mà do quan biên phòng đánh đầu mục Chiêm Thành. Chiêm Thành Cảng bị chiếm. sứ Trần Tuấn không vào được. MTL thực lục tháng 8-1478 nói quốc vương Chiêm Thành(triều TAMVA) sai người chú sang nhà Mính cống nạp và xin phong, thực lục tháng 9-1478 nói sai sứ Trương Cấn sang phong Tế Á Ma Vật Am. MTL thực lục tháng 5-1479 nói sứ thần Trương Cấn sang Chiêm Thành phong vương thuyền bị đắm ở Giang Tây. MTL thực lục 13-10-1481 nói Cổ Lai sai cháu của vua sang nhà Minh cống nộp và xin phong. MTL thực lục 18-10-1481 nói Cổ Lai sai em của vua sang nhà Minh. Sứ tâu rằng sứ cùng anh là Tế Á Ma Vất Am(TAMVA) trốn trong núi. An Nam sợ uy của Thiên Triều lập TAMVA làm vương và trả lại một phần đất đai. Chẳng bao lâu TAMVA chết nay sứ tạm giữ việc nước và xin phong. MTL thực lục tháng 11-1481 nói sứ thần Trương Cấn đi phong cháu của vua, mắc tội không đợi lênh triều đình trao ấn phong vương cho Đề Bà Đài Gia bị hạ ngục như nói trên. Tới khoảng năm 1480-81 mới xuất hiện 3 nước sau khi vua TAMAVA chết. Có sự rối loạn ở triều TAMVA rồi Cổ Lai lên thay và bị đẩy lui vào trong núi. Nước của Cổ Lai gọi là nước Nam Bàn, Minh Thực Lục gọi là Xích Khâm Bang Đô Lang Quốc. Nước của Đề Bà Đài Gỉa ở nam đèo Cù Mông tới sông Phan Rang(SPR). SPR phát nguyên ở huyện Khánh Sơn Khánh Hòa. Vì vậy ranh giới nước của Đề Bà Đài Gia tới Ba Ngòi Cam Ranh.
KẾT LUẬN: Năm 1471 hạ thành Đồ Bàn. Năm 1472 Trà Toại sang tố cáo nhà Minh và xin phong vương. Trà Toại(TT) chưa kịp được phong vương thì bị đánh bắt năm 1475. Vua Lê nói TT bị giết vì tranh chấp nội loạn. Trận đánh bắt TT năm 1475 vua Lê nói dối là đánh dẹp đầu mục Chiêm Thành trước thần phục Đại Việt sau nhận được nhiều tuyền bè của nước Lưu Cầu làm phản. Năm 1479 nhà Minh sai sứ Trương Cấn sang phong Tế Á Ma Vật Am do Đại Việt lập ra sau khi đánh bắt Trà Toại. Chưa được phong thì TAMVA chết. Cổ Lai lên thay. Khoảng 1480-81 Đề Bà Đài Gỉa được Trương Cấn ngụy phong. Bây giời mới hình thành 3 nước. Nam Chiêm Thành ở nam sông Phan Rang. Nước Hoa Ânh của Đề Bà Đài Gia lãnh đất Khánh Hòa Phú Yên. Nước Nam Bàn( là xứ đất đỏ Xích Khâm Bang Đô Lang Quốc) của Cổ Lai ở phía tây núi Mẹ Bồng Con ở Khánh Hòa mà sử Việt gọi là núi Thạch Bi làm ranh giới 3 nước do quan biên phòng hiểu rõ địa hình trình tâu lên triều đình. Về sau các tác giả không rõ địa hình vẽ bia Hông Đức làm ranh Chiêm Việt khi thì ở núi Đá Bia, khi thì ở Cam Ranh và cũng gọi là núi Thạch Bi! (sách Hồng Đức Bản Đồ). Ba nước này tranh chấp nhau suốt 140 năm rồi mới yên vào năm 1611!
VINH XUÂN ĐÀI ngày xưa có tên là Bà Đài. Viết về Lương Văn Chánh khai phá đất nam Cù Mông Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên viết "...Văn Chính chiêu tập dân Xiêm khai khẩn đất hoang ở Cầu Mông Bà Đài...". Đại Nam Nhất Thống Chí viết "...Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn để dẹp yên biên trấn và chiêu tập dân xiêu tán đến Cù Mông và Bà Đài...". Tờ sắc của triều vua Lê Thế Tông ký năm 1597 còn lưu giữ ở miếu thờ Lương Văn Chánh ở Phụng Tường viết "...rồi lấy riêng số nhân dân khách hộ đến các xứ Cù Mông Bà Đài Bà Diễn Bà Niêu..."Như vậy cũng đủ ta nhận định Bà Đài là đất ở Xuân Đài. Đề Bà Đài Gỉa làm vua ở đất Bà Đài. Trong sử của Chiêm Thành ta thường thấy vua Chiêm hay lấy tên đất làm tên hiệu. Đồi Cổ Thạch có thể là kinh đô của Đề Bà Đài Gỉa. Nước Nam Bàn của Cổ Lai tồn tại tới năm 1543 thời Gia Tĩnh triều Minh Thế Tông. Ngày nay Phú Yên và Dak Lak hợp nhất cũng đúng theo tiến trình lịch sử mà thôi. Dân hai xứ đều là anh em, đều là hậu duệ của hai nước Hoa Anh hay Nam Bàn(Xích Khâm Bang Đô Lang Quốc)! Một ngày đầu Thu 2026, Ongtampy.































































